CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ CHẤT LƯỢNG CỦA ĐẬP, CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG ĐẬP 1. Tình hình xây dựng đập ở nước ta. Hồ chứa nước ở Việt Nam là biện pháp công trình chủ yếu để chống lũ cho các vùng hạ du; cấp nước tưới ruộng, công nghiệp, sinh hoạt, phát điện, phát triển du lịch, cải tạo môi trường nuôi trồng thủy sản, phát triển giao thông, thể thao, văn hóa… Theo thời gian, trước năm 1964 việc xây dựng hồ chứa diễn ra chậm, có ít hồ chứa được xây dựng trong giai đoạn này. Sau năm 1964, đặc biệt từ khi nước nhà thống nhất thì việc xây dựng hồ phát triển mạnh.
Từ 1976 đến nay số hồ chứa xây dựng mới chiếm 67%. Không những tốc độ phát triển nhanh, mà cả về quy mô công trình cũng lớn lên không ngừng. Hiện nay, đã bắt đầu xây dựng hồ lớn, đập cao ở cả những nơi điều kiện tự nhiên phức tạp. Theo thống kê của Tổng cục Thủy lợi đến tháng 12/2013, cả nước hiện có 6.648 hồ chứa Thủy lợi với tổng dung tích trên 11 tỷ m3 nước.
Trong đó hồ có dung tích từ 10 triệu m3 nước có 103 hồ, dung tích từ 3 đến cận 10 triệu m3 nước có 255 hồ, từ 1 đến 3 triệu m3 có 459 hồ, từ 0,2 dến 1 triệu m3 có 1.752 hồ, và hồ có dung tích nhỏ hơn 0,2 triệu m3 có 4. Ngoài ra ngành Thủy điện có 29 hồ lớn với tổng dung tích trên 27 tỷ m3 nước. Hồ lớn tuy ít về số lượng, nhưng có vai trò quyết định tạo đà phát triển trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa; phòng chống lũ lụt, phát điện, khả năng vượt tải cao nên chống hạn tốt. Hồ chứa nước chỉ có thể xây dựng ở những vùng có địa hình, địa chất phù hợp.
Vừa qua xây dựng hồ chứa đã chú ý tới các vùng miền, nhưng ở Nam Trung Bộ và Tây Nguyên còn ít, đặc biệt hồ lớn ở Tây Nguyên quá ít nên chống lũ, chống hạn ở những vùng này còn khó khăn. Đập ngăn sông tạo hồ chứa có chiều cao không vượt quá 25m chiếm tới 87,18%. Việc xây dựng những đập cao hơn 25m đang bắt đầu được quan tâm đầu tư. 5 Hình thức kết cấu và kỹ thuật xây dựng từng loại công trình ở hồ chứa nước còn đơn điệu, ít có đổi mới, đa dạng hóa.
Việc áp dụng vật liệu mới, công nghệ mới hiện đang được quan tâm. Đối với hồ thủy lợi Tính đến nay chúng ta đã xây dựng được trên 6500 hồ chứa thủy lợi với tổng dung tích trữ nước khoảng 11 tỷ m3 trong đó có 560 hồ chứa có dung tích trữ nước lớn hơn 3 triệu m3 hoặc đập cao trên 15m, 1752 hồ chứa có dung tích từ 0,2 triệu đến 3 triệu m3 nước, còn lại là những hồ đập nhỏ có dung tích dưới 0,2 triệu m3 nước. Các tỉnh đã xây dựng nhiều hồ chứa là : Nghệ An 625 hồ chứa Thanh Hóa 618 hồ chứa Hòa Bình 521 hồ chứa Tuyên Quang 503 hồ chứa Bắc Giang 461 hồ chứa Đắc Lắc 439 hồ chứa Hà Tĩnh 345 hồ chứa Vĩnh Phúc 209 hồ chứa Bình Định 161 hồ chứa Phú Thọ 124 hồ chứa Từ những năm 60 đến năm 2000 của thế kỷ trước nước ta đã đầu tư xây dụng hàng ngàn hồ chứa với các quy mô và hình thức đầu tư khác nhau, cụ thể: - Giai đoạn 1960-1975: Nhà nước đã đầu tư xây dựng nhiều hồ chứa có dung tích trữ từ 10-15 triệu m3 và chiều cao lớn chủ yếu là các đập vật liệu địa 6 phương trong đó đập đất chiếm đa phần như: Đại Lải, Suối Hai, Đồng Mô (Hà Nội); Khuôn Thần (Bắc Giang); Thượng Tụy (Hà Tĩnh); Rào Nan, Cẩm Ly (Quảng Bình)…, trong đó, hồ Cấm Sơn với dung tích trữ 248 triệu m3 và chiều cao đập 40m (là hồ chứa có đập đất cao nhất thời bấy giờ). - Giai đoạn 1975-2000: Sau khi đất nước thống nhất, để đẩy mạnh phát triển kinh tế, nhà nước đã đầu tư xây dựng hàng loạt hồ chứa với nhiều quy mô khác nhau.
Một số hồ quy mô lớn như : Núi Cốc (Thái Nguyên), Kẻ Gỗ (Nghệ An), Yên Lập (Quảng Ninh), Sông Mực (Thanh Hóa), Phú Ninh (Quảng Nam), Dầu Tiếng (Tây Ninh)…, trong đó hồ Dầu Tiếng có dung tích lớn nhất 1,58 tỷ m3. Các địa phương trên cả nước đã xây dựng hơn 700 hồ chứa có dung tích từ 1-10 triệu m3, đặc biệt trong giai đoạn này các huyện, hợp tác xã, nông lâm trường đã xây dựng hàng ngàn hồ chứa nhỏ có dung tích dưới 0,2 triệu m3. - Giai đoạn từ năm 2000 đến nay, bằng nhiều nguồn vốn đặc biệt là nguồn vốn trái phiếu chính phủ, Bộ NN&PTNT đã quản lý đầu tư xây dựng mới nhiều hồ chứa có quy mô lớn và vừa như : Cửa Đạt (Thanh Hóa); Định Bình (Bình Định); Tả Trạch (Thừa Thiên Huế); Nước Trong (Quảng Ngãi); Đá Hàn (Hà Tĩnh); Rào Đá (Quảng Bình); Thác Chuối (Quảng Trị); Kroong Buk Hạ, IaSup Thượng (Đắc Lắc)… Đặc điểm chung của các hồ chứa thủy lợi là đập chính ngăn sông tạo hồ, tuyệt đại đa số là đập đất. Nhận định chung, hơn một nửa trong tổng số hồ đã được xây dựng và đưa vào sử dụng trên 25 ÷ 30 năm nhiều hồ đã bị xuống cấp.
Những hồ có dung tích từ 1 triệu m3 nước trở lên đều được thiết kế và thi công bằng lực lượng chuyên nghiệp trong đó nhữ hồ có dung tích từ 10 triệu m3 trở lên phần lớn do Bộ Thủy lợi (trước đây) và Bộ NN&PTNT hiện nay quản lý vốn, kỹ thuật thiết kế và thi công. Các hồ có dung tích từ 1 triệu ÷ 10 triệu m3 nước phần lớn do UBND tỉnh quản lý vốn, kỹ thuật thiết kế và thi công. Các hồ nhỏ phần lớn do huyện, xã, HTX, nông trường tự bỏ vốn xây dựng và quản lý kỹ thuật. Những hồ tương đối lớn được đầu tư tiền vốn kỹ thuật tương đối đầy đủ thì chất lượng xây dựng đập đạt yêu cầu.
Còn những hồ nhỏ do thiếu tài liệu cơ bản như : địa hình, địa chất thủy văn, thiết bị thi công, lực 7 lượng kỹ thuật và nhất là đầu tư kinh phí không đủ nên chất lượng đập chưa tốt, mức độ an toàn rất thấp. Đối với các hồ Thủy Điện 1. Tiềm năng về thủy điện Nước ta có hệ thống sông, suối khá phong phú, được phân bố tương đối đều trên địa bàn cả nước. Do đặc điểm địa hình, các sông, suối thuộc khu vực miền núi phía Bắc, Trung Trung Bộ và Tây Nguyên là nguồn thủy năng dồi dào và đây là điều kiện thuận lợi để phát triển thủy điện.
Một số hồ chứa thủy điện ngoài mục đích cung cấp nguồn thủy năng cho nhà máy thủy điện (NMTĐ) để phát điện, còn tham gia chống lũ (các hồ chứa thủy điện Sơn La, Hòa Bình, Tuyên Quang, Thác Bà.) hoặc cắt đỉnh lũ, làm giảm lưu lượng lũ về hạ du (các hồ chứa thủy điện A Vương, Bản Vẽ, An Khê, Đồng Nai 3.) trong mùa mưa và cung cấp nước cho vùng hạ du vào mùa khô. Về quy hoạch Theo các quy hoạch thủy điện, tính đến tháng 6 năm 2013, trên địa bàn cả nước có 1.097 dự án xây dựng NMTĐ đã được phê duyệt với tổng công suất lắp máy trên 24. Đến hết tháng 6 năm 2013, có 266 NMTĐ đã đi vào vận hành và trên 200 dự án khác đang được triển khai xây dựng. Thực hiện chỉ đạo của Chính phủ, trong hai năm 2012 và 2013, Bộ Công Thương phối hợp với Ủy ban nhân dân (UBND) một số tỉnh đã tổ chức rà soát toàn bộ các dự án xây dựng NMTĐ trên địa bàn tỉnh đã được phê duyệt nhưng chưa triển khai thực hiện.
Sau rà soát, Bộ Công Thương đã thống nhất với UBND tỉnh loại khỏi quy hoạch 338 dự án xây dựng NMTĐ với tổng công suất lắp máy 1.088,9MW do có hiệu quả đầu tư thấp hoặc ảnh hưởng xấu đến môi trường, xã hội. Thời gian tới, Bộ Công Thương sẽ tiếp tục phối hợp với các địa phương rà soát, loại bỏ khỏi quy hoạch các thủy điện có hiệu quả thấp hoặc tác động xấu đến môi trường. Về đầu tư xây dựng hồ chứa thủy điện Hầu hết các dự án xây dựng NMTĐ bậc thang trên dòng sông chính (có công suất lắp máy trên 30MW) đều do các Tập đoàn, Tổng công ty, Công ty có đủ năng 8 lực như Tập đoàn Điện lực Việt Nam, Tổng công ty Sông Đà. làm chủ đầu tư.
Để triển khai dự án, các chủ đầu tư đều thành lập Ban Quản lý dự án thay mặt chủ đầu tư thực hiện việc quản lý quá trình xây dựng NMTĐ. Đối với việc xây dựng hồ chứa, trong quá trình chuẩn bị đầu tư và thực hiện đầu tư, công tác khảo sát thiết kế, lựa chọn công nghệ xây dựng, thiết kế kỹ thuật, thiết kế bản vẽ thi công. đều do các đơn vị tư vấn có năng lực, kinh nghiệm thực hiện và tuân thủ nghiêm ngặt các quy định, các quy chuẩn, tiêu chuẩn được phép áp dụng; các nội dung kỹ thuật phức tạp mà tư vấn trong nước chưa có nhiều kinh nghiệm đều thuê tư vấn nước ngoài thực hiện hoặc được các tổ chức tư vấn nước ngoài có kinh nghiệm và uy tín trợ giúp trong quá trình lập, thẩm định thiết kế kỹ thuật, giám sát thi công như tại các dự án xây dựng NMTĐ Bản Vẽ, Đồng Nai 3, Đồng Nai 4, Sơn La. Các dự án xây dựng NMTĐ nhỏ còn lại hầu hết các chủ đầu tư tự thực hiện quản lý quá trình đầu tư xây dựng công trình.
Đối với các dự án xây dựng NMTĐ vừa và nhỏ (có công suất lắp máy bằng hoặc nhỏ hơn 30MW) chủ đầu tư chủ yếu là tư nhân. Trong công tác đầu tư xây dựng đập, một số chủ đầu tư thực hiện không đầy đủ quy định của pháp luật về quản lý chất lượng công trình xây dựng như xây dựng đập không theo đúng thiết kế được duyệt; lựa chọn nhà thầu xây dựng, giám sát thi công không đủ năng lực; không tổ chức nghiệm thu đúng quy định… nên đã để xảy ra sự cố ngay trong quá trình xây dựng (các vụ sự cố vỡ đập thủy điện Đăk Rông 3 tỉnh Quảng Trị, Đăk Mek 3 tỉnh Kon Tum, Ia Krel 2 tỉnh Gia Lai; vỡ tuyến năng lượng của thủy điện Đạm Bon - Đạ Tẻh tỉnh Lâm Đồng…). Đến tháng 6/2013 đã có 266 nhà máy thủy điện đi vào vận hành và có trên 200 dự án khác đang triển khai xây dựng. Các dự án lớn do Tập đoàn điện lực Việt Nam và Tổng công ty lớn đầu tư đều có ban quản lý dự án trực tiếp chỉ đạo thực hiện.