CHƯƠNG I. TỔNG QUAN VỀ VÙNG NGHIÊN CỨU I. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ VÀ XÃ HỘI I. Ví trí địa lý Khu vực nghiên cứu gồm các quận 12, Tân Bình và Gò Vấp thuộc vùng trung tâm và phía bắc - tây bắc thành phố Hồ Chí Minh, minh họa ở hình 1.
Tọa độ: 10°36' ÷ 10°54' vĩ độ bắc và 106°36' ÷ 106°42' kinh độ đông. Với diện tích khoảng 102,52km2, khu vực nghiên cứu tiếp giáp với các quận, huyện nội thành khác như huyện Hóc Môn, quận Tân Phú,… của thành phố Hồ Chí Minh ở phía bắc, tây, nam, và đông nam; tiếp giáp với Bình Dương ở phía đông bắc.2: Vị trí khu vực nghiên cứu (quận 12, Gò Vấp và Tân Bình). Địa hình và thủy văn Vùng nghiên cứu thuộc khu vực có độ cao từ thấp (2 - 5m) đến trung bình (5 - 15m). Địa hình thấp phân bố theo dải ở trung tâm, phía đông bắc (dọc các lưu vực sông, rạch) và một khoảnh nhỏ ở cực nam khu vực nghiên cứu; địa hình trung bình phân bố theo khoảnh lớn ở phía bắc và nam, có dạng lượn sóng.
Vùng nghiên cứu được bao phủ bởi hệ thống sông ngòi, kênh rạch khá dày. Trong đó, phải kể đến sông Sài Gòn chảy dọc phía đông - đông bắc có bề rộng thay đổi từ 225m đến 370m và độ sâu tới 20m. Ngoài ra, còn có các kênh rạch thuộc hệ thống Sài Gòn như sông Tham Lương, Trường Đá, Lái Thiêu, kênh 19 - 5 và rạch cầu. Hầu hết các sông ngòi, kênh rạch đều chịu ảnh hưởng dao động triều bán nhật của Biển Đông.
Mỗi ngày, nước lên xuống hai lần, theo đó thủy triều thâm nhập sâu vào các sông ngòi, kênh rạch, gây nên tác động không nhỏ đối với sản xuất nông nghiệp và hạn chế việc tiêu thoát nước ở khu vực nội thành. Về mùa khô, lưu lượng của nguồn các sông nhỏ, độ mặn 4% có thể xâm nhập trên sông Sài Gòn đến quá Lái Thiêu. Mùa mưa lưu lượng của nguồn lớn, nên mặn bị đẩy lùi ra xa hơn và độ mặn bị pha loãng đi nhiều. Khí hậu và thời tiết Khu vực nghiên cứu thuộc thành phố Hồ Chí Minh, nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa cận xích đạo nên đặc điểm chung của khí hậu - thời tiết là nhiệt độ cao đều trong năm và có hai mùa mưa - khô rõ ràng.
Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau. Theo tài liệu quan trắc nhiều năm của trạm Tân Sơn Nhất, những đặc trưng khí hậu - thời tiết của thành phố Hồ Chí Minh như sau: ¾ Lượng bức xạ dồi dào, trung bình khoảng 140 Kcal/cm2/năm. Số giờ nắng trung bình/tháng 160 - 270 giờ. Nhiệt độ không khí trung bình 27°C.
Nhiệt độ cao tuyệt đối 40°C, nhiệt độ thấp tuyệt đối 13,8°C. Tháng có nhiệt độ trung bình cao nhất là tháng 4 (28,8°C), tháng có nhiệt độ trung bình thấp nhất là khoảng giữa tháng 12 và tháng 1 (25,7°C). Hàng năm có tới trên 330 ngày có nhiệt độ trung bình 25 - 28°C. ¾ Lượng mưa cao, bình quân/năm là 1.
Năm cao nhất là 2.718mm (1908) và năm nhỏ nhất là 1. Số ngày mưa trung bình/năm là 159 ngày. Trên phạm vi không gian thành phố, lượng mưa phân bố không đều, có khuynh hướng tăng dần theo trục tây nam - đông bắc. Ðại bộ phận các quận nội thành và các huyện phía Bắc thường có lượng mưa cao hơn các quận huyện phía nam và tây nam.
¾ Ðộ ẩm tương đối của không khí bình quân/năm là 79,5%, bình quân mùa mưa là 80% và trị số cao tuyệt đối tới 100%, bình quân mùa khô là 74,5% và mức thấp tuyệt đối xuống tới 20%. Qua đó, nhận thấy rằng độ ẩm của thành phố khá cao. ¾ Thành phố Hồ Chí Minh chịu ảnh hưởng bởi hai hướng gió chính và chủ yếu là gió mùa tây - tây nam và bắc - đông bắc. Gió tây - tây nam từ Ấn Ðộ Dương thổi vào trong mùa mưa, tốc độ trung bình là 3,6m/s.
Gió bắc - đông bắc từ biển Đông thổi vào trong mùa khô, tốc độ trung bình là 2,4 m/s. Điều kiện kinh tế - xã hội Toàn bộ khu vực nghiên cứu thuộc thành phố Hồ Chí Minh, thành phố có nền kinh tế năng động và phát triển nhất Việt Nam. Nơi đây tập trung dân cư đông đúc, có tri thức cao, cơ sở hạ tầng được đầu tư mạnh mẽ và đời sống vật chất cũng như tinh thần khá tốt. Tuy nhiên, với đặc điểm vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên nên các quận, huyện của vùng nghiên cứu có vài nét đặc trưng về đặc điểm kinh tế - xã hội như sau: II.
Gò vấp Với tổng diện tích mặt đất tự nhiên 19,49km2, dân số 555.577 người (số liệu năm 2011), quận Gò Vấp có cơ cấu kinh tế như sau: Nông nghiệp: từ giữa thập niên 90, đặc biệt là năm 1996 trở đi, tốc độ chuyển dịch cơ cấu cây trồng ở quận Gò Vấp diễn ra khá nhanh và mạnh, nhất là chuyển diện tích trồng lúa không hiệu quả sang thâm canh các loại rau, đậu, củ. Diện tích đất nông nghiệp ở Gò Vấp hiện nay còn lại rất ít nhưng do được sử dụng có hiệu quả nên không một hộ dân nông nghiệp nào còn trong diện đói nghèo. Công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp: trên địa bàn Gò Vấp hiện có 3.437 cơ sở sản xuất, thu hút 55.300 lao động; bao gồm 8 doanh nghiệp nhà nước, 320 doanh nghiệp tư nhân và công ty trách nhiệm hữu hạng, 17 doanh nghiệp nước ngoài. Thương mại và dịch vụ: tuy không phải là thế mạnh của một quận vùng ven như Gò Vấp, nhưng sau khi đất nước mở cửa, đã nhanh chóng vượt qua hơn một thập niên trì trệ và có bước phát triển bền vững.
Năm 1991, Gò Vấp bắt đầu có sản phẩm xuất khẩu đạt kim ngạch gần 6 triệu USD, năm 1995 là 11,5 triệu USD, năm 1998 hơn 31,5 triệu USD, năm 2001 đạt 71 triệu USD và năm 2004 đạt 120 triệu USD. Quận 12 Với tổng diện tích mặt đất tự nhiên 52,75km2, dân số 395.790 người (số liệu năm 06/2009), theo “Hoạt động chỉ đạo, điều hành của UBND quận, tình hình kinh tế xã hội năm 2010” tháng 04 năm 2011, cơ cấu kinh tế của Quận 12 như sau: Nông nghiệp: diện tích gieo trồng rau các loại cả năm 2010 đạt 1.265ha chủ yếu rau muống nước, rau dềnh, tầng ô tập trung ở phường Thới An, Thạnh Xuân. Một số cây trồng giảm trong năm như: ngâu, lài, hoa kiểng thời vụ do ảnh hưởng các đợt triều cường cuối năm. Công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp: tình hình sản xuất công nghiệp trên địa bàn quận có khuynh hướng hồi phục tốt, các doanh nghiệp phát triển ổn định.
Giá trị sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp thực hiện năm 2010 ước đạt 2. Có 661 doanh nghiệp và 197 cơ sở đầu tư với tổng vốn là 1447,6 tỷ đồng. Thương mại - dịch vụ: Tổng mức luân chuyển hàng hóa và doanh thu dịch vụ năm 2010 ước đạt 4,040. Có 941 doanh nghiệp và 746 cơ sở đầu tư với tổng vốn đăng ký là 2.
Tân Bình Với tổng diện tích mặt đất tự nhiên 19,49km2, dân số 555.577 người (số liệu năm 2011), quận Tân Bình có cơ cấu kinh tế gồm có thuơng mại chiếm 40%, dịch vụ 32%, công nghiệp 18% và hoạt động khác 10%, cụ thể như sau: Thương mại - dịch vụ, xuất - nhập khẩu: doanh thu thương mại - dịch vụ ước thực hiện 18.940,58 tỷ đồng, đạt 43,61% kế hoạch năm. Tổng kim ngạch xuất khẩu ước thực hiện 84,41 triệu USD, đạt 38,36 % kế hoạch năm. Tổng kim ngạch nhập khẩu ước thực hiện 109,71 triệu USD, đạt 45,71% kế hoạch năm (tính đến 06/2009). Công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp: Giá trị sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp ước thực hiện là 1.826 tỷ đồng, đạt 39,63% kế hoạch năm.
Trong đó, giá trị sản xuất khối công nghiệp dân doanh là 1.270,496 tỷ đồng, giá trị sản xuất công nghiệp khu vực cá thể 555,532 tỷ đồng (tính đến 06/2009). ĐIỀU KIỆN ĐỊA CHẤT THỦY VĂN KHU VỰC NGHIÊN CỨU III. Đặc điểm tầng chứa nước Hiện nay, mức độ nghiên cứu địa chất chất thủy văn vùng chỉ tập trung vào 3 tầng chứa nước chính là tầng chứa nước lỗ hổng Pleistocen trên, Pleistocen giữa trên và Pleistocen dưới. Các tầng chứa nước Holocen và Pliocen trên được nghiên cứu khá hạn chế.
Dưới đây sẽ trình bày đặc điểm phân bố, mực nước, mức độ giàu nước tiềm năng và hiện trạng khai thác của 5 tầng chứa nước vừa nêu trên. Tầng chứa nước lỗ hổng Holocen (qh) Theo thống kê 21 lỗ khoan nghiên cứu, độ sâu mái thay đổi trong khoảng từ 0 ÷ 18,0m, độ sâu đáy thường gặp trong khoảng 2,0 ÷ 24,0m và bề dày thay đổi trong khoảng 2,0 ÷ 13,0m. Tầng chứa nước có nguồn bổ cập chủ yếu từ mưa ngấm xuống và là nguồn cung cấp chính cho các tầng chứa nước bên dưới. Nước có chất lượng xấu và thường có tính axit.
Tầng chứa nước lỗ hổng Pleistocen trên (qp3) Theo thống kê tại 88 lỗ khoan nghiên cứu, độ sâu mái thay đổi trong khoảng từ 0 ÷ 35,0m, độ sâu đáy thường gặp trong khoảng 16,0 ÷ 55,0m và bề dày thay đổi trong khoảng 4,0 ÷ 55,0m. Thống kê chiều sâu mực nước và chiều cao mực áp lực được trình bày ở bảng 3. Mức độ giàu nước chủ yếu từ nghèo tới trung bình và khu vực giàu nước chiếm diện tích không lớn dưới dạng những khoảnh nhỏ cục bộ. Tầng chứa nước có nguồn bổ cập chủ yếu từ mưa ngấm xuống, từ các vùng cao phía bắc chảy đến và một phần được bổ cập từ những dòng chảy lớn có đáy xâm thực sâu.
Miền thoát chủ yếu là chảy về phía nam và một phần chảy ra các sông suối lớn và một lượng đáng kể được khai thác sử dụng cho các hoạt động con người. Tầng chứa nước qp3 phân bố nông, thuộc loại nhạt và siêu nhạt, chất lượng tốt, tuy nhiên do bề dày không lớn nên giá trị khai thác không cao.1: Thống kê chiều sâu mực nước và chiều cao mực áp lực tầng qp3.