mở đầu bài viết bằng việc phân tích quy định của BLHS năm 2015 về các dấu hiệu CTTP, trên cơ sở đó, đánh giá thực trạng quy định tại Điều 348 BLHS và chỉ ra một số hạn chế như chưa quy định chủ thể của tội phạm là pháp nhân thương mại; chưa quy định tình tiết định khung tăng nặng gây thương tích cho người khác và quy định hình phạt chưa tương xứng với trường hop tái phạm nguy hiểm, hình phạt bổ sung là phạt tiền quy định còn tương đối thấp. Với những phân tích như vậy, nhóm tác giả cũng đề xuất một số giải pháp khắc phục các hạn chế trong thực trạng quy định nói trên. - Tác giả Phan Ngọc Sơn cũng có bài viết với nhan đề “Tội 16 chức, môi giới cho người khác xuất cảnh, nhập cảnh hoặc ở lại Việt Nam trải phép - một số hạn chế, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện” trên Tạp chí Tòa án nhân dân số 22/2022. Cùng chung định hướng triển khai như bài viết của nhóm tác giả Nguyễn Thị Ngọc Linh — Nguyễn Khắc Đạt, nhưng nội dung phân tích các dau hiệu cho thay quan điểm khác biệt va một số kiến nghị hoàn thiện theo đó cũng không hoàn toàn giống nhau (chang hạn kiến nghị về tình tiết phạm tội có tính chất chuyên nghiệp, kiến nghị về việc phân hóa lại khung hình phạt tại khoản 2, 3 Điều 348 BLHS).
*Ngoài những công trình nghiên cứu trực tiếp về các tội: tổ chức, môi giới cho người khác xuất cảnh, nhập cảnh hoặc ở lại Việt Nam trái phép; tô chức, môi giới cho người khác trốn đi nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài trái phép, những công trình khác thuộc lĩnh vực pháp luật hành chính, pháp luật quốc tế về vấn đề xuất cảnh, nhập cảnh cũng là một nguồn tài liệu có thê tham khảo nhằm đối chiếu, rà soát tính đồng bộ trong việc thiết lập hệ thống các biện pháp xử lý vi phạm về xuất cảnh, nhập cảnh trái phép nói chung (trong đó, có biện pháp xử lý hình sự); các biện pháp khác phối hợp với biện pháp hình sự trong việc nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về xử lý những tội này. Những ? Xem: https://tapchitoaan.vn/hoan-thien-quy-dinh-toi-to-chue-moi-gioi-cho-nguoi-khac-xuat-canh-hoac-o-lai- viet-nam-trai-phep6240.html 9 công trình đó có thể kê đến như: Đề tài nghiên cứu cấp Trường Đại học Luật Hà Nội “Pháp luật diéu chỉnh hoạt động xuất nhập cảnh, cư trú, đi lại của người nước ngoài tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp” tác giả Nguyễn Hồng Bắc chủ nhiệm nghiệm thu năm 2019; Luận văn thạc sỹ “Xứ phat vi phạm hành chính đối với người nước ngoài trong lĩnh vực xuất, nhập cảnh ở Việt Nam” của học viên Nguyễn Thu Thảo bảo vệ thành công năm 2011 tại Trường Đại học Luật Hà Nội; Luận văn thạc sỹ “Quản lý nhà nước về xuất cảnh, nhập cảnh trên địa bàn tỉnh Lào Cai — Thực trạng và giải pháp” của học viên Lê Hồng Quang bảo vệ thành công năm 2019 tại Trường Đại học Luật Hà Nội; Bài viết của tác giả Cao Vũ Minh, Nguyễn Nhật Khanh với tựa đề “Hoàn thiện pháp luật xử phạt vi phạm hành chính vé xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh, cu trú và di lại cua người nước ngoài tại Việt Nam” trên Tạp chí Khoa học pháp lý số 9/2018; bài viết “Tác động của hoạt động xuất nhập cảnh, cư trú, lao động của người nước ngoài đối với chính trị, an ninh, kinh tế, văn hóa - xã hội của Việt Nam” của tác giả Trần Thăng Long trên Tạp chí Khoa học pháp lý số 4/2019; bài viết của tác giả Lê Anh với nhan đề “Hoàn thiện khung pháp luật về phòng, chong dua người di di cu trái phép””; bài viết “Đẩy nhanh tiến độ nghiên cứu gia nhập Nghị định thư về chống dua người di cư trái phép” của tác giả Lê Anh trên website của Cổng thông tin điện tử Quốc hội Việt Nam”; sách “Giới thiệu quy định pháp luật về quyền tự do đi lại, cư trú” — Vụ Phé biến, giáo dục pháp luật — Bộ Tư pháp”, 2. Tình hình nghiên cứu ngoài nước Các công trình ngoài nước không nghiên cứu trực tiếp về các tội: tô chức, môi giới cho người khác xuất cảnh, nhập cảnh hoặc ở lại Việt Nam trái phép; tô chức, môi giới cho người khác trốn đi nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài trái phép theo pháp luật hình sự Việt Nam. Nội dung được khai thác chủ đạo trong các công trình này và có giá trị tham khảo cho đề tài tập trung ở một số điểm, ví dụ: lý luận vê các khái niệm “xuât cảnh trái phép”, “nhập cảnh trai phép” (một 32 66 3 Xem: https://quochoi.vn/tintuc/pages/tin-hoat-dong-cua-quoc-hoi.aspx?ItemID=66426 * Xem: https://quochoi.vn/tintuc/pages/tin-hoat-dong-cua-quoc-hoi.aspx?itemid=66353 ° Xem: https://pbgdp1.vn/qt/tintuc/Lists/ToGap/Attachments/355/To%20gap%2009%20- %20Tu%20d0%20di%201ai%20-%20Tieng%20Viet.pdf 10 số khái niệm liên quan trong pháp luật quốc tế như “đưa người di cư trái phép”); quy chế pháp lý quốc tế hay quy định pháp luật của một số quốc gia về các tội tương ứng; những ảnh hưởng và xu hướng phát triển của làn sóng phạm tội này trên thế giới mà có thé dự báo một số van đề tương ứng của Việt Nam.
Các công trình điển hình có thể kế đến như: - Bali Process Policy Guide on Criminalizing Migrant Smuggling (2014): Đây là tài liệu hướng dẫn giới thiệu cho các nhà hoạch định chính sách và các cán bộ thực thi về việc thực hiện các trách nhiệm pháp lý quốc tế trong việc hình sự hóa nạn đưa người di cư trái phép ở cấp độ quốc gia với các nội dung: giới thiệu về đưa người di cư trái phép và khuôn khổ Luật pháp quốc tế áp dụng, các nghĩa vụ bô sung quan trọng được thiết lập bởi Công ước về tội phạm có tô chức cùng một số gợi ý việc xây dựng pháp luật hiệu quả. Chin (2011), J/legal entry as crime, deportation as punishment: immigration status and the criminal process, UCLA Law Review by the Regents of the University of California, Vol.6/2011: Bai viét phan anh tình trạng nhập cu hiện được xem xét ở nhiều lĩnh vực pháp lý ở hầu hết mọi giai đoạn của tiến trình tố tụng hình sự tại Hoa Kỳ: buộc tội, nhận tội, xét xử, tuyên án và thời gian phục vụ thông qua việc trả tự do sớm dé trục xuất. Trước những luồng quan điểm về tội phạm hóa hay phi tội phạm hóa việc nhập cư bất hợp pháp, tác giả đã đưa ra nhận định ủng hộ cho quan điểm xây dựng một CTTP đối với những hành vi này thay vi loại chúng khỏi hệ thống xử lý hình sự. Một số vẫn đề khác có liên quan cũng được chỉ ra như tình trạng nhập cư ảnh hưởng đến quá trình thực hiện tội phạm như thé nào, các van dé về hình phạt trục xuất đối với người nhập cư trái pháp luật.Dohrmann (2015), Hemming in Harboring: The Limits of Liability under 8 U.
1324 and State Harboring Statutes, Columbia Law Review, Vol. 115, Issue 5 (June 2015): Điểm sáng liên quan đến van đề tội phạm được quy định tại Điều 1324 đó là làm rõ các quan niệm về hành vi "chứa chấp" và giới hạn định nghĩa khái niệm này áp dụng dé xử lý hình sự theo pháp luật Hoa Kỳ. II EXER] EXTER (2009), 1UB8/3#2346/HiDHISfEVIfÑJ7i, HITS TH, ESA 18 HA #8 56 HA: Bài viết nghiên cứu về các biện pháp đối phó của pháp luật hình sự đối với việc nhập cư bất hợp pháp của Trung Quốc. Trong đó, tác giả có trình bày các quan điểm về nhập cư, định nghĩa “nhập cư”, phân biệt “nhập cư bất hợp pháp” với “nhập cảnh bất hợp pháp”.
Bài viết cũng đã khái quát được quy định của pháp luật hình sự Trung Quốc (tại thời điểm năm 2009) về các tội phạm này (bao gồm ở đó cả quy định trừng trị các hành vi tổ chức và giúp sức cho người khác vượt biên trái phép) cùng với những nội dung rà soát thực trạng và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về nhóm hành vi nhập cư trái phép. - Bài viết “Actual problems of human trafficking and illegal migration in the Russian Federation” cua tac gia cac tac gia Sergey V. Pismennaya, Svetlana Yu. Sivoplyasova trên Mediterranean Journal of Social Sciences đã chi ra một số van dé về thực trạng buôn ban người và di cư trái phép ở Liên Bang Nga.
Đánh giá chung về tình hình nghiên cứu Các công trình đã khảo sát không liệt kê được toàn bộ nghiên cứu về các tội: tô chức, môi giới cho người khác xuất cảnh, nhập cảnh hoặc ở lại Việt Nam trái phép; tổ chức, môi giới cho người khác trén đi nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài trái phép. Tuy nhiên, kết quả khảo sát đã phần nào phản ánh được trạng thái và quy mô của các nghiên cứu, đặc biệt là những công trình trong nước. Đánh giá những công trình nghiên cứu về các tội: tổ chức, môi giới cho người khác xuất cảnh, nhập cảnh hoặc ở lại Việt Nam trái phép; tô chức, môi giới cho người khác trốn đi nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài trái phép có thể khái quát như sau: Thnk nhất, các công trình nghiên cứu đã cho thấy sự đa chiều trong quan điểm về các vấn đề lý luận, quy định cũng như thực trạng áp dụng quy định pháp luật hình sự về các tội: t6 chức, môi giới cho người khác xuất cảnh, nhập cảnh hoặc ở lại Việt Nam trái phép; tô chức, môi giới cho người khác tron đi 12 nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài trái phép. Điều đó cũng phản ánh răng tính rõ ràng trong quy định BLHS hiện hành và tính thong nhất trong nhận thức của các nhà nghiên cứu, nhà áp dụng pháp luật còn chưa đạt được mức độ cao.
Thứ hai, các công trình nghiên cứu phần lớn lựa chọn hướng tiếp cận truyền thống là tiếp cận luật học thực định nhưng hầu hết là các công trình nghiên cứu cấp độ đơn giản chưa bao quát được tất cả các vẫn đề cần nghiên cứu; nổi bật trong đó có luận văn thạc sĩ “T6i tổ chức, môi giới cho người khác tron di nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài trái phép trong Bộ luật hình sự 2015” của tác giả Hoàng Long với phạm vi nghiên cứu tương đối nhiều khía cạnh nhưng những kết quả nghiên cứu chưa nhiều nội dung sâu sắc, phần nghiên cứu thực tiễn rất ít các vụ án thực tế dé minh chứng cho các điểm hạn chế. Ti ba, những công trình nghiên cứu về lĩnh vực xuất cảnh, nhập cảnh hoặc ở lại Việt Nam trái phép; trỗn đi nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài trái phép có ở các cấp độ, các chuyên ngành khác nhau chuyên ngành luật hình sự, chuyên ngành luật quốc tế, chuyên ngành luật hành chính.