Chương I MOT SO VAN DE CHUNG VE HOA NHAP DOI VOI NGUOI KHUYET TAT 1. Một số van đề lý luận về người khuyết tật 1. Khái niệm về người khuyết tật * Dưới góc độ pháp luật quốc té Cách nhìn nhận về NKT có những thay đổi nhất định qua từng thời kì. Nếu như thững năm 1950 NKT được nhìn nhận theo mô hình “chdm sóc y tế”,theo đó NKT bị coi là các “đối tuong” của “phúc lợi xã hội” mà không phải là các chủ thé có quyền như một công dân bình thường.
Thì đến những năm 1970, cách nhìn nhận NKT đã có sự thay đổi, theo đó những NKT là những người có khả năng, có quyền sống và lao động như những người bình thường chứ không phải là một đối tượng cần nhận sự “chiếu cố ” của xã hội. Qúa trình chuyển biến nhận thức về NKT là kết quả đấu tranh bằng nhiều hình thức khác nhau của bản thân NKT và các hiệp hội của họ xuất phát từ Hoa Kỳ sau đó lan rộng và phổ biến ở nhiều nước như Thụy Điển, Nhật Bản, Brazin.và gần đây là Hàn Quốc, Thái Lan. Tư tưởng cốt lõi của nhận thức mới này là các vấn đề về NKT được xem xét dưới góc độ quyền con người, dựa trên quan điểm “tất cả mọi người đều có quyền được sống một cuộc sống đây đủ và có phẩm giá” đã được ghi nhận trong Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người năm 1948''. Tuy nhiên hiện nay vẫn chưa có cách nhìn nhận thống nhất về NKT.
Lịch sử phát triển của vấn đề này trên thế giới cho thấy đã có các quan điểm khác nhau về NKT. Tuy nhiên hiện nay có hai quan điểm song song cùng tồn tại đó là: Quan điểm khuyết tật dưới góc độ y tế và quan điểm khuyết tật dưới góc độ xã hội. * Dưới góc độ y tế Quan điểm khuyết tật dưới góc độ y tế: Quan điểm này cho rằng khuyết tật là do hạn chế cá nhân, là ở chính con người đó, chú trọng rất ít hoặc không dé ý đến các yếu tố về môi trường xã hội và môi trường vật thể xung quanh NKT. Quan niệm này cho rằng NKT có thể hưởng lợi từ phương pháp khoa học như thuốc điều trị và các công 13 https://nammelinh.com/nguoi-mu-do-day/ oo 14 ILO, Công ước 102 ngày 28/6/1952 quy định những quy phạm tối thiểu về an sinh xã hội.
8 nghệ cải thiện chức năng. Mô hình y tế chú trọng vào việc trị liệu cá nhân chứ không xem trọng việc trị liệu xã hội. Như vậy, mô hình y tế nhìn nhận NKT là một vấn đề và đưa ra giải pháp để làm người đó “bình thudng” thông qua việc cung cấp các dịch vụ giáo dục đặc biệt, giao thông đặc biệt, nghề trị liệu, vật lý trị liệu.Nó cũng có thé dẫn đến việc chọn lọc khả năng sinh tồn, ngăn trẻ sơ sinh khuyết tật bằng cách ngăn chặn cả người mẹ khuyết tật và người mẹ bình thường sinh ra nó. Lý giải rõ thêm cho quan điểm này, theo phân loại của Tổ chức Y tế Thế giới, có ba mức độ suy giảm là: khiếm khuyết (impairment), khuyết tat (disability) và tàn tat (handicap).
“Khiếm khuyết” chỉ đến sự mat mát hoặc không bình thường của cấu trúc cơ thể liên quan đến tâm lý hoặc sinh lý. “Khuyét tat” chỉ đến sự giảm thiểu chức năng hoạt động, là hậu quả của sự khiếm khuyết. Còn “tan tat” đề cập đến tình thế bất lợi hoặc thiệt thòi của người mang khiếm khuyết đo tác động của môi trường xung quanh lên tình trạng khuyết tật của họ. Như đã trình bày, định nghĩa theo quan điểm y tế thường tập trung vào sự khiếm khuyết về thé trạng, tinh thần, thính giác, thị giác và sức khỏe tâm than.
Trên cơ sở đó, nhiều quốc gia định nghĩa về NKT theo quan niệm này như sau: + Trung Quốc: Luật của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa về bảo vệ NKT ban hành năm 1990, Điều 2 quy định: “ngwoi khuyết tật là một trong những người bị bắt thường, mất mát của một cơ quan nhất định hoặc chúc năng, tâm lý hay sinh lý, hoặc trong cấu trúc giải phẫu và những người đã mat toàn bộ hoặc một phan khả năng tham gia vào các hoạt động một cách bình thường. “Người khuyết tật là những người có thính giác, thị giác, lời nói hoặc khuyết tật về thể chất, chậm phat triển tâm thân, rối loạn tâm thân, khuyết tật nhiều và / hoặc khuyết tật khác. ” + Ấn Độ: Luật về Người khuyết tật ban hành năm 1995 (về cơ hội bình dang, bao vệ quyền va đảm bao cho NKT tham gia mọi hoạt động xã hội) định nghĩa khuyết tật bao gồm những tình trạng bị mù, nghe kém, lành bệnh phong; thị lực kém; suy giảm khả năng vận động; chậm phát triển trí óc và mắc bệnh về tâm thần. Trong khi đó định nghĩa về NKT lại được nêu “mộ người bị bat kỳ một khuyết tật nào không dưới 40% : a ft a 3 À oS theo xác nhận của cơ quan y tê có thâm quyên `” `.com/nguoi-mu-do-day/ 9 + Theo đạo luật số 7277 với tên gọi là “Đạo luật tạo nên sự phục hồi chức năng, tự phát triển và tự tin cho người khuyết tật và hòa nhập người khuyết tật vào xã hội và các mục đích khác”.
Được thông qua bởi Thượng nghị viện và Hạ nghị viện của Quốc hội Phillipines vào ngày 12 tháng 7 năm 1991; quy định: “Người khuyết tật — là người có sự khác biệt về khả năng và hạn chế do khiếm khuyết về giác quan, vận động, và tâm than dé thực hiện một hoạt động được coi là bình thường ”. Cùng với khái niệm về NKT, đạo luật số 7277 của Philipine còn giải thích một số thuật ngữ khác có liên quan đến NKT, cụ thể như sau: * Sự khiếm khuyết: là sự mat, giảm hay rối loạn về chức năng, hay cấu trúc cơ thể, tâm lý và hành vi. * Khuyết tật: có nghĩa là (i) sự khiếm khuyết về vận động hay trí não mà có ảnh hưởng đáng kể một hoặc nhiều chức năng vận động, tâm thần của một cá nhân hay các hoạt động của cá nhân, hoặc (ii) được coi là có khiếm khuyết. "Như vậy, quan điểm khuyết tật dưới góc độ y tế nhìn nhận NKT như những người có van đề về thé chất và cần phải chữa trị.
Điều này đã đây những NKT vào thế bị động của người bệnh. Mục tiêu của hướng tiếp cận y tế là làm cho những NKT cảm thấy trở lại trạng thái bình thường nhưng vô hình trung lại khiến cho những NKT cảm thấy họ không bình thường. Theo đó vấn đề khuyết tật được cho là hạn chế ở từng cá nhân. Khi bị khuyết tật những người này cần phải thay đổi chứ không phải xã hội hay môi trường xung quanh phải thay đổi.
* Dưới góc độ xã hội Quan điểm khuyết tật dưới góc độ xã hội: Vào cuối những năm 1990, mô hình xã hội trở nên khá nổi trội trong những nghiên cứu khuyết tật trên thế giới, đó là khái niệm được sử dụng phổ biến nhất. Mô hình xã hội là mô hình có cơ sở lý thuyết và có quy tắc riêng được coi là nền tang của những biến chuyền về vấn dé NKT. Trong mô hình xã hội, khuyết tật được nhìn nhận là hệ quả bị xã hội loại trừ và phân biệt. Bởi vì xã hội được tổ chức không tốt nên những NKT phải đối mặt với một số phân biệt đối xử như: i/ Thái độ: thé hiện sự sợ hãi, sự thiếu hiểu biết và it kỳ vọng (ảnh hưởng bởi văn hóa và tín ngưỡng), ii/ Môi trường: dẫn đến việc không tiếp cận về vật chất, ảnh hưởng đến tất cả các mặt của đời sống (trường học, cửa hàng, tòa nhà công cộng, giao thông.); iii/ Thể chế: là những phân biệt mang tính pháp lý (vi dụ như không được lập gia đình hay có con, không được nhận vào trường học.
Mô hình xã 10 hội đưa ra cơ sở để hiểu được những van đề phức tạp về khuyết tật. Nó thể hiện khuyết tật là lát cắt ngang các vấn dé xã hội và chính sách cơ bản làm thay đổi tình trạng và hoàn cảnh mà NKT bị hạn chế hay ngăn cản tham gia đầy đủ như một công dân bình đẳng. Mô hình xã hội về khuyết tật cho rằng nhiều người bị khiếm khuyết ở các cách khác nhau nhưng chỉ xã hội biến họ thành khuyết tật, “con người bị khiếm khuyết nhưng xã hội bị khuyết tat”. Noi cách khác, mô hình xã hội khuyết tật coi xã hội là vấn đề, giải pháp là phải thay đổi xã hội.
Chính xã hội và chính sách cần phải cải tổ chứ không phải NKT. Tuy nhiên, mô hình xã hội không phủ nhận tầm quan trọng cũng như sự khác nhau của khiếm khuyết. Đặc biệt trước đây sự khác biệt về khuyết tật chỉ được nhìn nhận theo cách tiêu cực, điều này dẫn đến việc NKT bị phân biệt và loại trừ khỏi đời sống xã hội. Mô hình xã hội giúp thừa nhận sự khác biệt theo cách tích cực hoặc trung lập và khiến NKT được hưởng quyền công dân và quyền con người.
Vì mô hình xã hội phân biệt những rào cản khuyết tật và khiếm khuyết nên nó tạo điều kiện cho NKT chỉ tập trung vào khả năng và những điều cần làm là loại bỏ các yếu tố rào cản trợ giúp cho các khiếm khuyết và được đối xử như những người khác. Mô hình xã hội giúp NKT hiểu điều gì cần thực hiện để tiếp cận với quyền công dân và quyền con người. Điều có ý nghĩa ở đây là chính NKT cũng phải nhận thức được đầy đủ các nghĩa vụ của mình với tư cách là một công dân trong mọi lĩnh vực đời sống, kinh tế, chính trị, xã hội mà mình tham gia. Định nghĩa NKT theo quan điểm xã hội là sự kết hợp giữa sự khiếm khuyết và các yếu tố môi trường và tiếp cận dưới góc độ quyền của NKT.