Chương 1: Tổng quan các vấn đề nghiên cứu: 33 trang - Chương 2: Nội dung, địa điểm và phương pháp nghiên cứu: 24 trang - Chương 3: Kết quả nghiên cứu và bàn luận: 61 trang - Kết luận và kiến nghị: 03 trang - Danh mục bài báo và tài liệu tham khảo: 12 trang 4 Chươ 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Thô ch về ch La k m ế Chi Lan kim tuyến (Anoectochilus Blume), thuộc họ Lan (Orchidaceae), được mô tả lần đầu tiên vào năm 1825 bởi nhà thực vật học Carlvon Blume. Đặc điểm chung của các loài thuộc chi Lan kim tuyến (Anoectochilus Blume) là địa lan, lá màu lục hay có màu, có cuống. Phát hoa có cán tương đối ngắn với vài hoa không to.
Lá đài trên và 2 cánh hoa hợp với nhau thành cái nón. Môi hoặc có móng dài hoặc có túi khuất trong lá đài; có 2 tuyến lớn không cọng ở gần miệng của móng hay ở đáy túi, phần giữa của môi hẹp lại, 2 mép gấp lại và chạm vào nhau tạo thành cán môi thường có răng, tua, diềm ở 2 bên, đôi khi có thùy bên rõ rệt ở dưới cán môi; ở phía trước của cán môi rộng ra đột ngột thành 2 thùy ngang. Trụ có 2 cánh ở phía trước hoặc nhỏ hoặc chạy vào trong túi thành 2 phiến rời song song. Nướm thường là 2, ở mỗi bên của đáy cằm (Nguyễn Thiện Tịch, 2001)[40].
Thô mộ số o h ộc ch La k m ế q a đế h cứ 1. Kim tuyến trung bộ (Anoectochilus annamensis Aver) Tên khác: Lan sứa Trung bộ, loài đặc hữu của Việt Nam [48] * Đặc điểm hình thái: Lá mọc cách xắn quanh thân, xoè trên mặt đất. Lá hình trứng, gần tròn ở gốc, đầu lá hơi nhọn và có mũi ngắn, thường dài từ 3 - 5 cm, rộng từ 2 - 4 cm. Lá có màu nâu đỏ ở mặt trên và phủ lông mịn như nhung.
Hệ gân lá mạng lưới lông chim, thường có 5 gân gốc, các gân này thường có màu hồng ở mặt trên và nổi rất rõ, đôi khi gân ở giữa có màu vàng nhạt; mặt dưới lá có màu nâu đỏ nhạt, nhẵn với 5 gân gốc nổi rõ; các gân bên ở rìa lá nổi rõ, gân ở giữa lá ở dưới không rõ; cuống lá dài 0,6 - 1,2 cm, thường nhẫn và có màu trắng xanh, đôi khi hơi đỏ tía ở bẹ lá, bẹ lá nổi rõ và nhẵn; số lá trên một cây thay đổi từ 2 - 6 lá. Thân khí sinh thường mọng nước, nhẵn, không phủ lông, thường có màu xanh trắng, đôi khi có màu hồng nhạt; thân khí sinh thường mọc thẳng trên mặt đất, ít khi mọc nghiêng; chiều dài thân khí sinh từ 4-8 cm, đường kính thân khí sinh từ 3 - 5 mm, thân khí sinh mang nhiều lóng, 5 mỗi lóng từ 1-4cm. Thân rễ nằm ngang sát mặt đất, đôi khi hơi nghiêng, bò dài; chiều dài thân rễ từ 5 - 12 cm, đường kính thân rễ từ 3 - 4 mm; chiều dài lóng từ 1 - 6 cm. Thân rễ thường có màu trắng xanh dương, đôi khi có màu nâu đỏ, thường nhẵn, không phủ lông.
Rễ được mọc ra từ các mấu trên thân rễ, đôi khi rễ cũng được mọc từ thân khí sinh. Cụm hoa dài 10 - 20 cm, mọc ở ngọn thân, mang 4 - 10 hoa mọc thưa; lá bắc hình trứng, dài 6 - 10 mm, màu hồng, các mảnh bao hoa dài khoảng 6 mm; cánh môi màu trắng dài đến 1,5 cm, mỗi bên gốc mang 6 -8 dải hẹp, đầu chẻ đôi. Mùa hoa tháng 10 – 12. Mùa quả chín tháng 12 – 3 năm sau.
Những đặc điểm nêu trên được mô tả dựa trên mô tả của các tác giả: Averyanov LV (2008) [48] Nguyễn Đức Thắng và Vũ Quang Nam (2015) [35], Phan Xuân Bình Minh (2019)[28]. * Giá trị bảo tồn: Kim tuyến trung bộ (A.annamensis) thuộc Nhóm IIA, Nghị định 06/2019/NĐ-CP của Chính Phủ [12]. Kim tuyến đá vôi (A.calcareus Aver) * Đặc điểm hình thái: Cây thân thảo, cao 10-15 cm, là loài có kích thước lớn trong các loài thuộc Chi Lan kim tuyến (Anoectochilus Blume). Lá hình trứng, có lông, tùy từng điều kiện sống mà lá mặt trên có màu xanh thẩm đậm, xanh phớt tím, xanh nâu sẫm hoặc nâu nhạt, mượt như nhung, với gân mầu trắng bạc hoặc hồng nhạt, mặt dưới màu nâu đỏ.
Thân khí sinh mập, mọc thẳng hoặc nghiêng trên mặt đất, dài khoảng 3-10 cm, đốt thân từ 0,8-3cm. Thân rễ nằm bò trên mặt đất, đôi khi được lớp mùn, lá cây che phủ; thân rễ có mầu xanh. Rễ được mọc ra từ các đốt trên thân rễ, đôi khi mọc từ đốt của thân khí sinh, rễ dài đến 8 cm, có các lông hút bám vào đất tơi xốp hoặc lá, cành cây mục. Ra hoa tháng 7 – 8, quả tháng 10,11; cụm hoa dài đến 25 cm, có 2 - 3 lá bắc, lá bắc dài 8 - 10 mm.
Bầu dài 8 - 10 mm, có lông rậm. Lá đài màu lục sáng, mặt trên có lông thưa; lá đài giữa hình trứng rộng dài 4 mm, đỉnh cụt; lá đài bên hình trứng hẹp, kích thước 6 - 2,6 mm. Có 3 - 20 hoa, cánh hoa trắng, xanh nhạt ở đỉnh, hình liềm, phần trên dính với lá đài giữa tạo thành túi. Môi màu trắng, dài khoảng 14 mm từ đỉnh cựa đến đỉnh.
Quả chín tháng 10-11, chùm quả có 3-20 quả nang, mầu nâu đỏ, chứa nhiều hạt, khi chín các nang tách ra phát tán hạt để tái sinh Những đặc điểm nêu trên được mô tả dựa trên mô tả của các tác giả: Nguyễn Tiến Bân (2005) [6], Averyanov VL (2008)[48] Phan Xuân Bình Minh (2019)[28].2 K m ế đá vô (Anoectochilus calcareus Aver) (Nguồn: a-Phan Xuân Bình Minh (2019),b-Cao Văn Cường(2017) * Phân bố: Trên thế giới: Loài đặc hữu Việt Nam. 7 Ở Việt Nam: Phân bố tại Hà Giang (Quản Bạ: Cán Tỷ), Hoà Bình (Mai Châu), Quảng Bình (Kẻ Bàng), Lâm Đồng (Bì Đúp), Khánh Hoà (Hòn Giao) [7] * Giá trị bảo tồn: Kim tuyến đá vôi (A.calcareus) thuộc Nhóm IA, Nghị định 06/2019/NĐ-CP [11]; EN trong Sách đỏ Việt Nam năm 2007 [7]. Giải thùy Elwes (A.Clarke ex Hook.) King & Pantl) Tên khác: Lan Sứ bắc Đồng danh: Odontochilus elwesii Hook. [18] * Đặc điểm hình thái: Thân bò rồi đứng, cao cỡ 10cm, màu nâu.
Lá 6 – 7, đẹp, phiến xoan, dài 3 – 4cm, mặt trên nâu đậm, cuống dài 2cm. Phát hoa cao 10cm, có lông tiết dài, ít hoa; lá hoa dài bằng bầu noãn. Lá đài dài bằng cánh hoa, màu lục chót tím. Cánh hoa màu tím có bớt đỏ hay nâu, bất xứng, cạnh sau gần như thẳng, cạnh trước cong, trên to, hẹp dần về phía đáy, đỉnh có mũi.
Môi màu trắng, cán môi có bìa rìa với 4 – 6 răng ở mỗi bên, đầu môi chẻ 2 thùy nằm ngang ra, đầu cụt, dạng tứ giác; đáy túi có tuyến ở mỗi bên. Bầu noãn có lông. Những đặc điểm nêu trên được mô tả dựa trên mô tả của các tác giả: Phạm Hoàng Hộ (2000) [19], Nguyễn Tiến Bân (2005)[6] (Nguyễn Thiện Tịch (2001) [40] a b c Hình 1.Clarke ex Hook. Ở Việt Nam: Phân bố tại Lào Cai [19,40], Hà Giang (Khau Cạ), Nghệ An (xã Tam Hợp, H.
Tương Dương), Vĩnh Phúc (VQG Tam Đảo), Phú Thọ (VQG Xuân Sơn), Thanh Hoá, Quảng Bình (VQG Phong Nha Kẻ Bàng) [28]. * Giá trị bảo tồn: Giải thùy Elwes (A.elwesii) thuộc Nhóm IIA, Nghị định 06/2019/NĐ-CP của Chính Phủ [12]. formosanus Hayata) * Đặc điểm hình thái: Cây mọc thẳng, cao tới 25 cm. Thân rễ leo; rễ có lông hút dài từ 0,3–0,5 cm, mang chân lông dày.
Lá mọc xoè cụm từ 2–5 lá; cuống lá dài 1,5–2,5 rộng 0,8–1 cm, màu nâu đỏ tươi, có bẹ ở gốc; lá hình trứng gần tròn ở gốc, dài 2–5 cm, rộng 2– 3,5 cm, nhọn ở đỉnh, mép màu trắng nhạt, mặt lưng màu nâu đỏ tươi, mặt trên màu lục đậm, hệ gân mầu trắng bạc. Trục hoa dựng đứng, nhỏ gọn, mảnh mai, lên đến 3 nốt, có lông, màu nâu đỏ nhạt, dài đến 20 cm, mang 2–3 lá bắc; lá bắc hình trứng, 1–1,5 rộng 0,8–1 cm, nhọn ở đỉnh, có màng, màu nâu đỏ tươi; hoa tự chùm dài 3– 5,5 cm, mang tối đa 7 hoa xếp thành hình xim; lá bắc hoa hình trứng dài 1–1,5 cm, rộng 0,6–0,8 mm, nhiều lông ở đỉnh, có lông ở mặt lưng, sáng bóng bụng màu nâu đỏ; lá đài và cánh hoa màu nâu xanh lục đến xanh lục đỏ, phần cuối môi dưới màu trắng, ửng vàng trên bề mặt bên ngoài của phần giữa môi; buồng trứng và cuống dài 12–16mm, rộng 3–5 mm, phủ lông tuyến; lá đài mặt lưng hình elip dài 6–6,5 mm, rộng 4,3–4,5 mm, thon dần ở cả hai đầu, thuôn nhọn ở đỉnh, tạo thành một chiếc mũ trùm với những cánh hoa phía trên trụ, có lông với các lông tuyến trên mặt lưng, mặt bụng bằng phẳng; lá đài bên hình trứng xiên dài 7,5–8 mm, rộng 4–4,5 mm, nhọn, có lông tuyến trên mặt lưng; cánh hoa nở ra theo hình xiên, dài 6–7 mm, rộng 3–3,5 mm áp vào mép của lưng lá đài; môi hình chữ Y, phía đỉnh hơi nhọn, màu trắng đục, nửa trong suốt; phần cuối của môi dưới lan rộng và phóng xuống dưới, dài 17–19mm, rộng 12–14 mm bao gồm 3 phần; mỗi bên rìa có tối đa 8 răng, mỗi răng dài 0,2–5,5 mm. 9 Những đặc điểm nêu trên được mô tả dựa trên mô tả của tác giả Kumar P.4 Câ v các bộ phậ hoa của La ấm (Anoectochilus formosanus Hayata) (Nguồn: Kumar P. Gale, 2000[71]) * Phân bố: Trên thế giới: Đài Loan, Nhật Bản (quần đảo Ryukyu), Trung Quốc (tỉnh Phúc Kiến) (Anon, 1999) [46], Hồng Kông (Kumar P & S.
Tại Việt Nam: Chưa có tài liệu nào đề cập phân bố tự nhiên, ngoài một số nghiên cứu của Yeo-Joong Yoon et.al, 2007) [99] có đề cập đến thông tin tác giả Nguyễn Văn Kết (2003) đã thu thập Lan gấm (A.formosanus) ở Lâm Đồng làm vật liệu cho công trình nghiên cứu luận án tiến sĩ của mình; một số tác giả nghiên cứu nhân giống in vitro, nuôi sinh khối trong bình chồi, như: Đỗ Đăng Giáp (2015) [17], Phan Xuân Huyên và cộng sự (2015, 2016, 2017, 2018) [22, 23,24,25], Nguyễn Thị Lệ Hà (2017) [18], tuy nhiên các báo cáo chưa làm rõ xuất sứ nguồn gen của vật liệu nghiên cứu cụ thể ở đâu. * Giá trị bảo tồn: Thuộc Nhóm IIA, Nghị định 06/2019/NĐ-CP của Chính Phủ [12].setaceus Blume) Tên gọi khác: Giải thuỳ tơ, Kim tuyến đỏ, Sứa hồng [7]; Giải thùy roxburgh [19, 7] Đồng danh: Anoectochilus roxburghii Wall. ex Lindl [7] Chrysobaphus roxburghii Wall, Anoectochilus siamensis auct. Non Schultr, Seidenf.
1959 [40] * Đặc điểm hình thái: Địa lan 10 – 20cm, thân hơi mập, có lông.