Tổng quan luận án

Công trình "Nghiên cứu cơ sở khoa học bảo tồn nguồn gen các loài thuộc chi Lan kim tuyến (Anoectochilus Blume) tại tỉnh Thanh Hóa" được tác giả Nguyễn Trọng Quyền thực hiện tại Trường Đại học Lâm nghiệp dưới sự hướng dẫn của GS. Hoàng Văn Sâm và PGS. Bùi Văn Thắng. Luận án thuộc chuyên ngành Lâm nghiệp (mã số: 9620211), bảo vệ năm 2022. Dữ liệu thực nghiệm được triển khai từ năm 2017 đến năm 2021, gắn liền với nhiệm vụ của Đề tài Quỹ gen cấp Quốc gia mã số NVQG-2016/07 do Bộ Khoa học và Công nghệ cùng Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa giao tác giả làm chủ nhiệm.

Về tính cấp thiết, chi Lan kim tuyến (Anoectochilus Blume) thuộc họ Lan (Orchidaceae) bao gồm các loài địa lan quý hiếm có giá trị dược tính cao, thường được dùng trong y học dân gian và y học cổ truyền để hỗ trợ điều trị đau ngực, đau bụng, tiểu đường, viêm thận, sốt, cao huyết áp, rối loạn chức năng gan, lá lách, khối u và làm giảm lipase máu (Nguyễn Tiến Bân, 2005; Đỗ Tất Lợi, 2004). Nghị định số 06/2019/NĐ-CP của Chính phủ đã xếp loài A. calcareus vào nhóm IA (nghiêm cấm khai thác vì mục đích thương mại) và các loài còn lại thuộc chi vào nhóm IIA (hạn chế khai thác). Hiện nay, quần thể tự nhiên của các loài này suy giảm nghiêm trọng do môi trường sống bị thu hẹp, chia cắt, sự tàn phá của động vật và áp lực khai thác thương mại bừa bãi. Khoảng trống nghiên cứu và thực tiễn cốt lõi được tác giả chỉ ra là: lực lượng Kiểm lâm sở tại và cán bộ kỹ thuật tại các ban quản lý rừng đặc dụng ở Thanh Hóa phần lớn chưa nhận biết, phân loại được đến cấp độ loài mà chỉ gọi chung là "Lan kim tuyến", dẫn đến nhiều khó khăn trong quản lý, bảo tồn và thực thi chế tài xử lý vi phạm.

Mục tiêu chung của luận án là cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn nhằm bảo tồn, phát triển nguồn gen các loài thuộc chi Lan kim tuyến tại tỉnh Thanh Hóa và Việt Nam. Các mục tiêu cụ thể được xác định gồm:

  1. Đánh giá được tính đa dạng về thành phần loài, đặc điểm phân bố, đặc điểm hình thái, sinh thái và giá trị bảo tồn của các loài thuộc chi Lan kim tuyến (Anoectochilus Blume) tại tỉnh Thanh Hóa.
  2. Xây dựng được kỹ thuật nhân giống in vitro, trồng và bảo tồn loài Lan gấm (Anoectochilus formosanus Hayata) từ nguồn vật liệu thu từ rừng tự nhiên tại Thanh Hóa.
  3. Đề xuất được giải pháp bảo tồn các loài thuộc chi Lan kim tuyến (Anoectochilus Blume) tại Thanh Hóa.

Đối tượng nghiên cứu là các loài thuộc chi Lan kim tuyến (Anoectochilus Blume) hiện diện tại Thanh Hóa, tập trung nghiên cứu sâu về đặc điểm di truyền, nhân giống in vitro và kỹ thuật nuôi trồng đối với loài Lan gấm (Anoectochilus formosanus Hayata).

Phạm vi không gian nghiên cứu bao quát 11 khu rừng đặc dụng trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa, bao gồm:

  1. Vườn Quốc gia Bến En
  2. Vườn Quốc gia Cúc Phương (phần thuộc địa bàn tỉnh Thanh Hóa)
  3. Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên
  4. Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông
  5. Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hu
  6. Khu bảo tồn loài Sến Tam Quy
  7. Khu bảo tồn các loài thực vật hạt trần quý hiếm Nam Động
  8. Khu di tích lịch sử văn hóa Hàm Rồng
  9. Khu di tích lịch sử văn hóa Lam Kinh
  10. Khu di tích lịch sử văn hóa Trường Lệ
  11. Khu di tích lịch sử văn hóa Đền Bà Triệu

Phạm vi thời gian thực hiện nghiên cứu ngoại nghiệp, thực nghiệm phòng thí nghiệm và thử nghiệm lâm sinh diễn ra trong giai đoạn 2017–2021.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Về phân loại học và tính đa dạng, chi Anoectochilus được Carl von Blume mô tả năm 1825. Theo cuốn Thực vật Trung Quốc (2009), chi này có khoảng 30 loài, trong khi Chuan Gao (2009) ghi nhận khoảng 40 loài, và cơ sở dữ liệu The Plant List ghi nhận 50 loài. Tại Việt Nam, số lượng loài công bố có sự biến động lớn giữa các tác giả: Phạm Hoàng Hộ (2000) thống kê 6 loài; Nguyễn Thiện Tịch (2001) thống kê 10 loài; Nguyễn Tiến Bân (2005) ghi nhận 12 loài. Đáng chú ý, Leonid V. Averyanov và cộng sự từng ghi nhận 13 loài vào năm 2003, nhưng đến năm 2008 chỉ công nhận 7 loài (trong đó giữ lại 3 loài cũ là A. lylei, A. roxburghii, A. calcareus, bổ sung 4 loài mới gồm A. annamensis, và loại bỏ 10 loài đã nêu trước đó). Tại Thanh Hóa, các báo cáo điều tra từ năm 2011 đến 2019 của Hạt Kiểm lâm Pù Luông (2011), Ban quản lý KBTTN Xuân Liên, Pù Hu (2013), Đậu Bá Thìn và cộng sự (2013), Đặng Quốc Vũ (2013), Nguyễn Đức Thắng và Vũ Quang Nam (2015), Cao Văn Cường (2017), và Phan Xuân Bình Minh (2019) ghi nhận rải rác sự xuất hiện của A. calcareus, A. elwesii, A. setaceus, A. annamensis, nhưng số liệu chưa thống nhất và chưa có nghiên cứu chuyên sâu về phân loại kết hợp chỉ thị phân tử.

Về dược tính, các nghiên cứu quốc tế đã phân lập nhiều hoạt chất có giá trị sinh học từ chi Lan kim tuyến: Zhen-Ling Liu (2013) phân lập Kinsenoside từ A. roxburghii có tác dụng bảo vệ nội mô mạch máu; Zeng và cộng sự (2017) phát hiện polysaccharide ARPT có tác dụng bảo vệ gan chống độc tính do CCl4 ở chuột; Wang LF và cộng sự (2005) phân lập kinsenone và các dẫn xuất flavonoid (quercetin, isorhamnetin); Ching-Yi Lai (2015) xác định Type II Arabinogalactan kích hoạt hệ miễn dịch; Tseng CC và cộng sự (2006) chứng minh dịch chiết A. formosanus ức chế khối u ruột kết CT-26 trên chuột; đề tài chiết xuất bảo vệ gan từ A. formosanus đã được cấp bằng sáng chế Hoa Kỳ số US9072770 B2 (2015). Tại Việt Nam, Phan Xuân Bình Minh (2019) phân lập được 8 hợp chất từ A. setaceus và 6 hợp chất từ A. annamensis.

Về nhân giống và nuôi trồng, Yih-Juh Shiau và cộng sự (2001, 2002) tại Đài Loan nghiên cứu gieo hạt in vitro và nhân giống vi mô A. formosanus; Fu-sheng Zhang và cộng sự (2013) dùng môi trường MS bổ sung 0,5 mg/l NAA, 1 mg/l 6-BA, 1 g/l than hoạt tính và 30 g/l sucrose. Ở Việt Nam, Nguyễn Văn Kết và cộng sự (2003, 2004), Phan Xuân Huyên và cộng sự (2015, 2017, 2018), Nguyễn Thị Lệ Hà (2017), Đỗ Đăng Giáp và cộng sự (2015), Hoang Chinh Nguyen và cộng sự (2018) đã thử nghiệm nhân giống in vitro và nuôi trồng A. formosanus trên các giá thể xơ dừa, dớn mút, phân bón lá (JIA6, Nitrophoska) hoặc nuôi sinh khối bioreactor, thủy canh.

Về đặc điểm di truyền, Tongwei Lv và cộng sự (2015) dùng mã vạch DNA (matK, psbA-trnH, ITS2) định danh A. roxburghii. Tại Việt Nam, Lê Đình Chắc (2017) đọc trình tự ITS của 4 mẫu Anoectochilus tại Thanh Hóa; Đỗ Thị Gấm và cộng sự (2017) xác định ITS phân loại tốt hơn matK và psbA-trnH; Huỳnh Hữu Đức (2019) phân tích 9 vùng DNA barcode để phân biệt các dòng lan kim tuyến.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án lựa chọn giải quyết: Chưa có công trình nào điều tra toàn diện, hệ thống về thành phần loài, vùng phân bố của chi Anoectochilus trên toàn bộ hệ thống rừng đặc dụng tỉnh Thanh Hóa; thiếu khóa tra cứu nhận diện thực địa phục vụ quản lý rừng; chưa xác thực loài A. formosanus ngoài tự nhiên tại Việt Nam bằng mã vạch DNA đối chiếu Ngân hàng gen quốc tế (NCBI); chưa có quy trình gắn kết từ nhân giống in vitro đến mô hình trồng bán tự nhiên dưới tán rừng đối với nguồn gen A. formosanus bản địa tại vùng Bắc Trung Bộ.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án dựa trên cơ sở lý thuyết phân loại thực vật học hình thái học so sánh đối với họ Lan (Orchidaceae); nguyên lý bảo tồn sinh học gồm bảo tồn nguyên vị (in situ) tại các hệ sinh thái rừng đặc dụng và bảo tồn chuyển chỗ (ex situ) thông qua lưu trữ giống in vitro và gây trồng thực nghiệm; nguyên lý di truyền học phân tử sử dụng chỉ thị phân tử RAPD và mã vạch DNA (DNA barcoding) để giám định loài; tiêu chuẩn GACP-WHO trong canh tác cây thuốc.

Phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa điều tra thực địa, phỏng vấn xã hội học, phân tích sinh học phân tử, thực nghiệm công nghệ sinh học và khảo nghiệm lâm sinh:

| Nhóm phương pháp | Nội dung và kỹ thuật thực hiện | Nguồn dữ liệu / Chỉ tiêu theo dõi |
| :--- | :--- | :--- |
| Kế thừa và chuyên gia | Thu thập tài liệu quy hoạch rừng đặc dụng, bản đồ địa hình, số liệu khí hậu, thổ nhưỡng; tham vấn các nhà thực vật học. | Hồ sơ quy hoạch 11 khu rừng đặc dụng, báo cáo khoa học của các khu bảo tồn. |
| Phỏng vấn xã hội học | Phỏng vấn bán cấu trúc cán bộ kiểm lâm và người dân địa phương tại vùng đệm các khu bảo tồn. | Bảng hỏi về nhận thức, tên gọi, tình hình khai thác, buôn bán và sử dụng Lan kim tuyến. |
| Điều tra ngoại nghiệp | Lập tuyến điều tra thực địa qua các sinh cảnh rừng tại 11 khu rừng đặc dụng; định vị bằng GPS cầm tay; thu mẫu tiêu bản; mô tả môi trường sống. | Tọa độ điểm phân bố, độ cao, kiểu thảm thực vật (IVA, IVB, IIIA2, IIIA3, IIIB, IIIB-NIII, NIII theo QPN 6-84), độ che phủ. |
| Phân tích di truyền phân tử | Chiết tách DNA tổng số từ lá; chạy phản ứng PCR với 10 mồi RAPD; nhân bản và giải trình tự 3 đoạn gen mã vạch (*matK*, *rbcL*, *ITS2*). | 10 mẫu *A. formosanus* thu tại KBTTN Nam Động; ma trận tương đồng di truyền UPGMA, đối chiếu dữ liệu NCBI GenBank. |
| Thí nghiệm in vitro | Khử trùng đốt thân/chồi bằng dung dịch sát trùng theo thời gian; tái sinh và nhân nhanh chồi trên môi trường MS, 1/2 MS, Knud kết hợp BAP, Kinetin, NAA; kích thích ra rễ. | Tỷ lệ mẫu sạch sống (%), số chồi/mẫu, chiều cao chồi (cm), số rễ/chồi, chiều dài rễ (cm). |
| Khảo nghiệm nuôi trồng | Ra ngôi cây mô sau 8 tuần trên các giá thể; bố trí thí nghiệm trồng trong nhà lưới và dưới tán rừng tự nhiên (xã Vạn Xuân, giáp KBTTN Xuân Liên). | Tỷ lệ sống (%), động thái tăng trưởng chiều cao, đường kính thân, số lá, sinh khối tươi, mức độ gây hại của sâu bệnh, động vật. |
| Phân tích hóa học | Chiết xuất mẫu cây 12 tháng tuổi nuôi trồng trong nhà lưới và dưới tán rừng; định lượng hàm lượng flavonoid bằng phương pháp đo quang phổ. | Hàm lượng tổng flavonoid (%). |
| Xử lý số liệu | Thống kê sinh học, phân tích phương sai, so sánh các công thức thí nghiệm bằng phần mềm chuyên dụng. | Giá trị trung bình, độ lệch chuẩn, sai khác có ý nghĩa thống kê giữa các nghiệm thức. |

Các nguồn tư liệu và hóa chất chính bao gồm: mẫu vật thực vật thu từ rừng tự nhiên tại Thanh Hóa; mồi PCR, hóa chất sinh học phân tử đạt tiêu chuẩn giải trình tự; các môi trường dinh dưỡng nuôi cấy mô MS, Knudson; chất điều hòa sinh trưởng BAP, Kinetin, NAA; các loại giá thể xơ dừa, tro trấu, rêu khô (dớn).

Nội dung chính theo từng chương

Luận án có dung lượng 137 trang văn bản, bao gồm phần Mở đầu (4 trang), 3 chương nội dung, phần Kết luận và kiến nghị (3 trang), Danh mục công trình khoa học (12 trang) cùng 30 hình ảnh và 29 bảng số liệu.

Chương 1: Tổng quan các vấn đề nghiên cứu

Chương 1 (33 trang) trình bày lịch sử phân loại, đặc điểm hình thái và sinh thái học chung của chi Anoectochilus Blume cùng 5 loài mục tiêu liên quan đến địa bàn nghiên cứu:

  • Anoectochilus annamensis Aver (Kim tuyến Trung bộ): Thân rễ nằm ngang sát đất, thân khí sinh mọng nước dài 4–8 cm, 2–6 lá hình trứng màu nâu đỏ mượt như nhung, 5 gân gốc màu hồng nổi rõ; cụm hoa ngọn dài 10–20 cm mang 4–10 hoa thưa, cánh môi trắng dài 1,5 cm có 6–8 dải hẹp mỗi bên gốc.
  • Anoectochilus calcareus Aver (Kim tuyến đá vôi): Loài đặc hữu Việt Nam, cao 10–15 cm; lá màu xanh thẩm đậm hoặc nâu nhạt có vân trắng bạc/hồng; cụm hoa dài đến 25 cm, mang 3–20 hoa màu trắng ánh xanh, môi trắng dài 14 mm; sống trên mùn đá vôi ẩm.
  • Anoectochilus elwesii (C.Clarke ex Hook.) King & Pantl (Giải thùy Elwes): Thân cao khoảng 10 cm màu nâu, mang 6–7 lá phiến xoan màu nâu đậm dài 3–4 cm; hoa màu lục chót tím, cánh hoa tím có đốm đỏ, môi trắng có rìa 4–6 răng mỗi bên, đầu môi chẻ 2 thùy tứ giác nằm ngang.
  • Anoectochilus formosanus Hayata (Lan gấm): Cây cao tới 25 cm, lá cụm 2–5 lá hình trứng gần tròn, gốc màu nâu đỏ, mặt trên xanh lục đậm với hệ gân trắng bạc; trục hoa dài đến 20 cm, hoa có môi hình chữ Y dài 17–19 mm, xẻ 2 thùy lớn, mỗi bên rìa mang tối đa 8 răng dài 0,2–5,5 mm.
  • Anoectochilus setaceus Blume (Kim tuyến tơ / Lan gấm / Giải thùy tơ): Cây cao 10–20 cm, lá hình xoan có hệ gân hồng nhạt nổi rõ trên nền nâu; môi hoa dài 1,5 cm, gốc hình tam giác, phần hẹp có 5–8 tua dài 5 mm mỗi bên, đầu môi xẻ 2 thùy tròn tà.

Chương này cũng tổng hợp sâu các nghiên cứu quốc tế và trong nước về dược lý (tác dụng bảo vệ gan, hạ đường huyết, chống oxy hóa, kích thích miễn dịch, kháng u), kỹ thuật nhân giống in vitro, kỹ thuật nuôi trồng, các công trình sử dụng chỉ thị phân tử (RAPD, barcode) và tổng quan điều kiện lập địa, khí hậu, thủy văn, thổ nhưỡng tại các khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hu, Pù Luông, Xuân Liên và KBTTN Nam Động.

Chương 2: Nội dung, địa điểm và phương pháp nghiên cứu

Chương 2 (24 trang) cụ thể hóa 7 nội dung nghiên cứu gắn với các bảng bố trí thí nghiệm:

  • Bố trí các tuyến điều tra ngoại nghiệp tại 11 khu rừng đặc dụng của Thanh Hóa.
  • Kỹ thuật tách chiết DNA và điện di kiểm tra chất lượng. Bảng 2.1 trình bày trình tự 10 mồi RAPD ngẫu nhiên. Bảng 2.2 thể hiện trình tự các cặp mồi khuếch đại gen đích (matK, rbcL, ITS2) và kích thước sản phẩm theo lý thuyết. Bảng 2.3 liệt kê danh mục hóa chất, dung môi sinh học phân tử đạt chuẩn ISO/IEC 17025.
  • Bố trí thí nghiệm in vitro: Bảng 2.4 lập công thức thử nghiệm ảnh hưởng của nồng độ các chất điều hòa sinh trưởng BAP, Kinetin và NAA lên khả năng tạo đa chồi từ đoạn thân mang mầm ngủ trên các nền môi trường khoáng MS, 1/2 MS và Knudson (Knud). Bảng 2.5 xác lập các nồng độ NAA kích thích hình thành rễ để tạo cây hoàn chỉnh.
  • Bố trí thí nghiệm nuôi trồng lâm sinh: Thử nghiệm ra ngôi cây mô 8 tuần tuổi; thí nghiệm nuôi trồng trong nhà lưới với các tổ hợp giá thể (vụn xơ dừa, tro trấu, rêu khô/dớn), mật độ trồng, liều lượng phân bón lá (JIA6, Nitrophoska) và thời vụ trồng; thí nghiệm trồng dưới tán rừng hỗn giao tự nhiên gỗ - tre nứa tại xã Vạn Xuân (huyện Thường Xuân) giáp KBTTN Xuân Liên.
  • Phương pháp điều tra sâu bệnh hại (bọ trĩ, sên, châu chấu, bệnh thối nhũn, nấm) và động vật phá hại (sóc). Phương pháp quang phổ xác định tổng hàm lượng flavonoid.

Chương 3: Kết quả nghiên cứu và bàn luận

Chương 3 (61 trang) là phần nội dung thực nghiệm trọng tâm, thể hiện qua 30 bảng số liệu và các sơ đồ phân bố, hình ảnh minh chứng:

  1. Đa dạng thành phần loài và phân bố chi Lan kim tuyến tại Thanh Hóa: Nghiên cứu xác định được 5 loài thuộc chi Anoectochilus tại các khu rừng đặc dụng của tỉnh Thanh Hóa:
  • Anoectochilus calcareus Aver (Kim tuyến đá vôi)
  • Anoectochilus elwesii (C.Clarke ex Hook.) King & Pantl (Giải thùy Elwes)
  • Anoectochilus setaceus Blume (Kim tuyến tơ)
  • Anoectochilus annamensis Aver (Kim tuyến Trung bộ)
  • Anoectochilus formosanus Hayata (Lan gấm)

Luận án đã lập Bảng 3.4 xây dựng "Khóa tra cứu nhanh nhận biết một số loài thuộc chi Lan kim tuyến tại tỉnh Thanh Hóa" dựa trên các đặc điểm hình thái sai khác rõ rệt: hình dạng và mạng lưới gân lá (gân hồng, gân bạc, nền lá nâu nhung hay xanh sẫm); hình dạng cán môi và cấu trúc răng/tua ở rìa cán môi (số lượng răng, tua, dạng chữ Y hay xẻ đôi nằm ngang). Các loài phân bố tập trung chủ yếu ở đai độ cao từ 600 m đến trên 1.200 m, thuộc các kiểu rừng nguyên sinh và thứ sinh (IVA, IVB, IIIA2, IIIA3, IIIB, IIIB-NIII) trên nền đá vôi hoặc sa thạch ẩm ướt, nhiều mùn.

| Tên loài | Phân bố tự nhiên ghi nhận tại Thanh Hóa | Đặc điểm sinh thái nơi gặp | Tình trạng bảo tồn |
| :--- | :--- | :--- | :--- |
| *A. calcareus* | KBTTN Pù Luông, KBTTN Pù Hu | Rừng trên núi đá vôi ẩm, độ cao 700–1.100 m | Nhóm IA (NĐ 06/2019), EN (SĐVN 2007) |
| *A. elwesii* | KBTTN Pù Luông | Dưới tán rừng kín thường xanh ẩm núi đất/đá | Nhóm IIA (NĐ 06/2019) |
| *A. setaceus* | KBTTN Pù Luông, KBTTN Xuân Liên | Đất nhiều mùn dưới tán rừng tự nhiên ẩm | Nhóm IA/IIA, EN (SĐVN 2007) |
| *A. annamensis* | KBTTN Xuân Liên, KBTTN Pù Luông | Rừng kín thường xanh, dọc khe suối ẩm mùn | Nhóm IIA (NĐ 06/2019) |
| *A. formosanus* | KBTTN loài hạt trần quý hiếm Nam Động | Núi đá vôi xen kẹt, độ cao 700–900 m, giàu mùn | Nhóm IIA (NĐ 06/2019) |
  1. Đa dạng di truyền loài Lan gấm (Anoectochilus formosanus):
  • Phân tích 10 mẫu A. formosanus thu tại KBTTN Nam Động bằng chỉ thị RAPD cho thấy mức độ đa hình rõ rệt, hệ số tương đồng di truyền giữa các cặp mẫu dao động trong biên độ cho phép nhận diện tính đa dạng nội loài, chia các cá thể thành các nhánh phân nhóm trên sơ đồ hình cây UPGMA (Hình 3.13).
  • Giải trình tự thành công 3 đoạn gen mã vạch: matK, rbcL và ITS2. So sánh với cơ sở dữ liệu NCBI cho thấy:
    • Đoạn gen matK có độ tương đồng cao với các công bố chuẩn, phát hiện các vị trí nucleotide sai khác đặc trưng giúp khu biệt với các loài lan khác (Bảng 3.8, Hình 3.15).
    • Đoạn gen rbcL xác định các đột biến điểm đặc thù của quần thể Thanh Hóa so với 5 mã gen trên NCBI (Bảng 3.9, Hình 3.16).
    • Đoạn gen ITS2 thể hiện độ đặc hiệu loài rất cao khi đối chiếu với 4 mã gen quốc tế (Bảng 3.10, Hình 3.17). Tác giả đã hoàn thiện thủ tục công bố 02 trình tự mã vạch DNA của nguồn gen A. formosanus Việt Nam lên Ngân hàng gen quốc tế GenBank.
  1. Kỹ thuật nhân giống in vitro loài Lan gấm (Anoectochilus formosanus):
  • Khử trùng mẫu: Xử lý đốt thân bằng chất sát trùng với mốc thời gian tối ưu giúp mẫu sạch đạt tỷ lệ sống và nảy chồi cao nhất mà không làm cháy mô (Bảng 3.12).
  • Nhân nhanh cụm chồi: Môi trường khoáng MS thể hiện tính ưu việt hơn môi trường 1/2 MS và Knudson về số lượng chồi hình thành và chiều cao chồi (Bảng 3.13, Hình 3.18). Khi bổ sung tổ hợp chất điều hòa sinh trưởng, nghiệm thức kết hợp BAP, Kinetin và NAA ở nồng độ thích hợp (Bảng 3.14) cho hệ số nhân chồi cao, chồi mập mạp và phát triển đồng đều sau 8 tuần nuôi cấy.
  • Tạo rễ: Môi trường bổ sung chất điều hòa sinh trưởng auxin (NAA) kích thích chồi ra rễ nhanh, tỷ lệ ra rễ đạt 100%, số rễ và chiều dài rễ đạt tiêu chuẩn xuất vườn mô (Bảng 3.15, Hình 3.20).
  1. Thử nghiệm kỹ thuật nuôi trồng Lan gấm:
  • Ra ngôi cây mô: Sau 8 tuần ra ngôi, giá thể rêu khô (dớn) và giá thể hỗn hợp xơ dừa phối trộn đạt tỷ lệ sống trên 90%, cây hình thành hệ rễ mới vững chắc (Bảng 3.16, Hình 3.21).
  • Trồng trong nhà lưới: Sau 12 tuần và 12 tháng theo dõi (Bảng 3.17, 3.21, Hình 3.23), cây sinh trưởng ổn định; nghiệm thức mật độ thích hợp và chế độ bổ sung dinh dưỡng bằng phân bón qua lá định kỳ (Bảng 3.18, 3.19) giúp cây tích lũy sinh khối cao. Thời vụ trồng vào mùa xuân (tháng 2–3) cho tỷ lệ sống và tốc độ đâm chồi vượt trội so với các thời điểm khác (Bảng 3.20).
  • Trồng dưới tán rừng: Thử nghiệm trồng bán tự nhiên dưới tán rừng tự nhiên hỗn giao gỗ - tre nứa tại xã Vạn Xuân (giáp KBTTN Xuân Liên) đạt tỷ lệ sống khá, cây thích ứng tốt với nền vi khí hậu tự nhiên sau 12 tuần và 12 tháng (Bảng 3.26, 3.27,