Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài Sản xuất ngô ở nước ta hiện nay gặp phải rất nhiều những khó khăn do nhu cầu giống, mùa vụ, kỹ thuật canh tác. Sản xuất ngô chưa đáp ứng được nhu cầu trong nước. Hàng năm, Việt nam phải nhập khẩu hàng triệu tấn ngô chủ yếu phục vụ ngành chăn nuôi và 1 số ngành công nghiệp khác.
Trong năm 2015, nước ta đã nhập khẩu 7,7 triệu tấn với tổng giá trị nhập khẩu hơn 1,6 tỷ USD. Chỉ tính trong 6 tháng đầu năm 2016, Việt Nam đã nhập 3,3 triệu tấn ngô tương đương 650 triệu USD giá trị nhập khẩu (Tổng cục Hải quan, 2016). Vì vậy, việc chọn tạo và đưa vào thử nghiệm vào sản xuất những giống ngô lai mới có năng suất cao, ổn định và thích nghi với những vùng sinh thái khác nhau là vấn đề rất quan trọng góp phần đưa nhanh các giống ngô tốt vào sản xuất đại trà nhằm nâng cao năng suất, sản lượng ngô. Trong công tác chọn tạo giống cây trồng nói chung và cây ngô nói riêng, việc tạo ra những dòng, giống có khả năng chống chịu với điều kiện ngoại cảnh bất thuận là cần thiết.
Công việc khảo nghiệm và đánh giá các đặc tính nông sinh học của các giống mới đó được xem là một khâu quan trọng trước khi đưa vào sản xuất đại trà. Thông qua việc đánh giá sự sinh trưởng, phát triển, tiềm năng năng suất, khả năng chống chịu sâu bệnh và một số điều kiện bất lợi. Ngày nay, cùng với sự phát triển của nền kinh tế đã kéo theo sự phát triển của các vùng sản xuất. Mục đích sản xuất ngô hàng hoá với sản lượng cao, quy mô lớn nhằm phục vụ nhu cầu thị trường cần phải có những biện pháp hữu hiệu như đưa ra các giống ngô mới có nhiều ưu thế vào sản xuất thay thế các giống ngô cũ năng suất thấp.
Vì vậy cần phải đánh giá một cách khách quan, kịp thời có cơ sở khoa học về những giống mới ở các vùng khác nhau nhằm đánh giá tính khác biệt, tính đồng nhất, tính ổn định, khả năng thích ứng, khả năng chống chịu sâu bệnh và điều kiện ngoại cảnh bất thuận cũng như chất lượng và hiệu quả kinh tế của giống ngô mới. Tình hình sản xuất ngô trên thế giới và ở Việt Nam 1. Tình hình sản xuất ngô trên thế giới Ngô là cây ngũ cốc lâu đời và phổ biến nhất trên thế giới mà không cây trồng nào sánh kịp về tiềm năng năng suất hạt, về quy mô và hiệu quả ưu thế lai. Cùng với những thành tựu mới trong chọn tạo giống ngô lai nhờ kết hợp phương pháp truyền thống với công nghệ sinh học thì việc ứng dụng công nghệ cao trong canh tác cây ngô đã góp phần đưa sản lượng ngô thế giới vượt lên trên lúa mì và lúa nước.
Diện tích, năng suất và sản lượng của một số cây có hạt trên thế giới giai đoạn 2005 – 2014 Diện tích Năng suất Sản lượng (triệu ha) (tạ/ha) (triệu tấn) 2005 2010 2014 2005 2010 2014 2005 2010 2014 Năm Ngô 148,2 163,8 183,3 48,2 51,9 56,6 713,6 849,7 1038,3 Lúa nước 155,1 161,7 163,2 40,9 43,4 45,4 634,4 701,0 740,9 Lúa mỳ 219,6 217,1 221,6 28,5 30,0 32,9 626,7 651,9 728,9 Nguồn: FAOSTAT, 2016 [38] Từ năm 2005 - 2014, diện tích trồng ngô đã liên tục tăng, từ 148,2 lên 183,3 triệu ha. Năm 2005, diện tích ngô còn thấp hơn so với lúa mỳ và lúa nước, nhưng đến năm 2014 đã vượt so với lúa nước là 20,1 triệu ha. Năng suất bình quân của ngô luôn vượt trên lúa nước và cao hơn nhiều so với lúa mỳ. Năm 2014, năng suất ngô đạt 56,6 tạ/ha, lúa nước là 45,4 tạ/ha và lúa mỳ là 32,9 tạ/ha.
Sản lượng ngô năm 2005 đạt hơn 700 triệu tấn, đến năm 2014 n 5 đã vượt ngưỡng 1 tỷ tấn. So sánh với mức tăng của ngô thì lúa nước năm 2005 sản lượng đạt hơn 600 triệu tấn, đến năm 2014 tăng thêm hơn 1 triệu tấn. Có thể nói cây ngô đã và đang chiếm vị thế quan trọng so với các cây có hạt trên thế giới nhờ vào những ưu thế vượt trội của nó. Cây ngô được trồng rộng rãi trên toàn thế giới, nhưng có sự phân bố không đồng đều giữa các châu lục.
Do trình độ khoa học kỹ thuật và khả năng đầu tư kinh tế vào sản xuất ngô của mỗi châu lục là khác nhau nên diện tích, năng suất, sản lượng ngô giữa các châu lục trên thế giới có sự chênh lệch rất lớn.2: Sản xuất ngô của một số vùng trên thế giới năm 2014 Diện tích Năng suất Sản lượng Vùng (triệu ha) (tạ/ha) (triệu tấn) Châu Mỹ 68,39 76,97 526,4 Châu Á 59,09 51,46 304,1 Châu Âu 18,75 69,02 129,4 Châu Phi 37,0 20,97 77,61 Châu Úc 7,85 82,0 6,44 Nguồn: FAOSTAT, 2016 [38] Châu Mỹ tiếp tục dẫn đầu về diện tích (68,39 triệu ha), năng suất (76,97 tạ/ha) và sản lượng ngô (526,4 triệu tấn). Nhờ quá trình cơ giới hóa sản xuất và áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong khâu chọn, tạo giống, đặc biệt là ngô chuyển gen. Tiếp đến là Châu Á, tuy nhiên năng suất chỉ đứng thứ 4 (hơn Châu Phi). Châu Úc có diện tích ngô thấp nhất (7,85 triệu ha) nhưng năng suất (82,0 tạ/ha) cao nhất.
Diện tích trồng ngô của châu Phi khá lớn, đạt 37,0 triệu ha nhưng trình độ canh tác còn lạc hậu nên năng suất ngô chỉ đạt 20,97 tạ/ha, chỉ bằng 27,6% năng suất so với Châu Mỹ. n 6 Theo số liệu của tổ chức Nông nghiệp và Lương thực Liên Hợp Quốc (FAO), việc sản xuất và tiêu thụ ngô trên thế giới đang có sự mất cân đối giữa cung và cầu dẫn đến tình trạng các nước nhập khẩu ngô tăng dần, các nước xuất khẩu ngô giảm dần từ nay đến những năm đầu thế kỷ XXI. Xuất khẩu ngô đã đem lại nguồn lợi lớn cho các nước lớn sản xuất ngô như Mỹ, Trung Quốc, Brazil (Ngô Hữu Tình, 2003) [30]. Sản xuất ngô của một số nước trên thế giới năm 2014 Diện tích Năng suất Sản lượng Nước (triệu ha) (tạ/ha) (nghìn tấn) Mỹ 33,64 107,32 361,091 Trung Quốc 35,98 59,97 215,812 Braxin 15,43 51,76 79,877 Mexicô 7,06 32,96 23,273 Ấn Độ 8,6 27,52 23,670 Đức 0,429 119,62 5,142 Hy Lạp 0,19 119,6 21,69 Ixaren 0,005 340,97 163,60 Nguồn: FAOSTAT, 2016[38] Hàng năm Mỹ là nước dẫn đầu xuất khẩu ngô chiếm khoảng 60 - 73% tổng lượng ngô thương mại thế giới (USDA, 2008) [43].
Brazil xuất khẩu được 5 triệu tấn/năm và sẽ giữ vững ở mức này vì đảm bảo nhu cầu trong nước. Trong khi đó nhiều nước trong khối EU, Đông Á, Đông Nam Á, vùng Tây và Nam Phi vẫn là những nước nhập khẩu ngô chính. n 7 Trung Quốc được xem là cường quốc đứng thứ hai trên thế giới, sau Mỹ, và đứng thứ nhất trong khu vực châu Á trong lĩnh vực sản xuất ngô lai với tốc độ tăng trưởng ngày càng tăng. Hiện nay, Mỹ và Trung Quốc là hai quốc gia có diện tích trồng ngô lớn nhất và cao gấp nhiều lần so với các quốc gia khác trên thế giới.
Các nước khác như Đức, Hy Lạp, Ix-ra-en,. mặc dù năng suất ngô cao nhưng sản lượng vẫn còn thấp do diện tích trồng ngô chưa được mở rộng. Những quốc gia dẫn đầu về năng suất ngô như: Israel 340,97 tạ/ha, Kuwait 307,5 tạ/ha, Netherlands 123,4 tạ/ha, Qatar 128 tạ/ha, Tajikistan 121,9 tạ/ha. Những nước có diện tích trồng ngô lớn là: Mỹ 33,64 triệu ha, Trung Quốc 35,98 triệu ha, Brazil 15,43 triệu ha… (FAOSTAT, 2016) [38].
Các nước này đã đóng góp rất lớn đối với sản lượng ngô của thế giới, trong đó Mỹ là nước có đóng góp lớn nhất và luôn là nước dẫn đầu về sản xuất ngô. Theo số liệu của trường Đại học Tổng hợp Nebraska (2005), năng suất ngô ở Mỹ tăng lên trong 50 năm qua là 50% do cải tạo nền di truyền của các giống lai, 50% do cải thiện chế độ canh tác. Ngoài ra một trong những lý do năng suất ngô ở Mỹ tăng cao là nhờ việc áp dụng ngô chuyển gen vào sản xuất. Trên thị trường quốc tế ngô đứng đầu trong danh sách những mặt hàng có giá trị khối lượng hàng hóa giao dịch ngày càng tăng, tỷ trọng lưu thông lớn, thị trường tiêu thụ rộng và nhu cầu ngày càng cao.
Sở dĩ nhu cầu ngô tăng mạnh là do dân số thế giới tăng nên nhu cầu về thịt, cá, trứng, sữa tăng mạnh dẫn đến đòi hỏi lượng ngô dùng trong chăn nuôi tăng. Hơn nữa trong những năm gần đây khi nguồn dầu mỏ đang cạn kiệt thì ngô được coi là nguồn nguyên liệu chính để chế biến ethanol, một loại nhiên liệu sạch dùng để thay thế một phần nguyên liệu xăng dầu. Trong những năm gần đây, khi nguồn dầu mỏ đang cạn kiệt thì ngô được coi là nguồn nguyên liệu chính để sản xuất ethanol, một loại nhiên liệu sạch dùng để thay thế một phần nguyên liệu xăng dầu. Trong bối cảnh giá xăng dầu đang liên tiếp lập những kỷ lục mới, nhiên liệu sinh học đang trở nên hấp dẫn hơn bao giờ hết.
Tại Mỹ, nước sản xuất ethanol lớn nhất thế giới, n 8 1/4 sản lượng ngô được dùng để sản xuất ethanol, như vậy chỉ riêng lượng ngô dùng cho chương trình ethanol của Mỹ đã tương đương hơn một nửa nhu cầu ngũ cốc của thế giới. Tình hình sản xuất ngô ở Việt Nam Cây ngô được đưa vào Việt Nam khoảng 300 năm và đã trở thành một trong những cây trồng quan trọng trong hệ thống cây lương thực quốc gia (Ngô Hữu Tình và cs, 1997) [24]. Cây ngô đã khẳng định vị trí trong sản xuất nông nghiệp và trở thành cây lương thực quan trọng đứng thứ hai sau cây lúa đồng thời là cây màu số một. Với điều kiện tự nhiên phong phú, cây ngô sinh trưởng phát triển và phổ biến khắp các vùng trên cả nước.
Cùng với sự tiến bộ của toàn thế giới trong phát triển sản xuất ngô trong thế kỷ 20 thì vài thập kỷ cuối sản xuất ngô ở Việt Nam đã thu được những kết quả quan trọng. Đạt được thành tựu lớn trong sản xuất ngô ở nước ta trong những năm gần đây là nhờ có những chính sách khuyến khích của Đảng và Nhà nước trong việc áp dụng thành công những tiến bộ khoa học kỹ thuật về giống, kỹ thuật canh tác vào sản xuất nên cây ngô đã có những bước tiến mạnh về diện tích, năng suất và sản lượng. Tình hình sản xuất ngô ở nước ta qua các giai đoạn lịch sử phát triển có nhiều biến động, năng suất ngô Việt Nam những năm 1960 chỉ đạt trên 10 tạ/ha, với diện tích hơn 200 nghìn ha.