Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài Trong chọn tạo giống, nhóm ngô lai được tạo ra bằng cách lai hai hoặc nhiều dòng bố mẹ khác nhau. Do được tạo ra từ các nguồn gen có đặc điểm di truyền khác biệt cho nên sau khi tạo ra các tổ hợp lai phải được khảo nghiệm đánh giá độ đồng đều, ổn định về các đặc điểm hình thái và năng suất trước khi phát triển ra sản xuất. Quá trình đánh giá tổ hợp lai là giai đoạn vô cùng quan trọng trong chọn tạo giống ngô.
Giai đoạn này phải được tiến hành lặp lại ở nhiều vùng sinh thái và nhiều mùa vụ khác nhau để có kết luận chính xác về khả năng sinh trưởng, phát triển của giống mới. Khả năng sinh trưởng, phát triển của giống được đánh giá thông qua quá trình hình thành và phát triển thân, lá, hoa, bắp. Để có các giống ngô lai tốt phục vụ cho sản xuất của tỉnh Thái Nguyên và có cơ sở lựa chọn giống phù hợp với vùng có điều kiện sinh thái tương đồng, chúng tôi đã thực hiện đề tài nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển của một số tổ hợp ngô lai trong vụ Xuân và Thu Đông 2016. Tình hình sản xuất, tiêu thụ ngô trên thế giới 1.
Tình hình sản xuất ngô trên thế giới Trên thế giới, sau khi Columbus phát hiện ra châu Mỹ, cây ngô bắt đầu phát triển rất nhanh đến các vùng sinh thái khác nhau ở tất cả các châu lục. Sự lan truyền đến các khắp các châu lục cho thấy cây ngô có khả năng thích ứng rất rộng. Hiện nay ngô được trồng trên hơn 90 vĩ tuyến từ dưới 400N (lục địa châu Úc, Nam châu Phi, Chi Lê,…) lên gần đến 550B (bờ biển Ban Tích, trung lưu sông Vônga,…), từ độ cao 1-2 mét đến gần 4.000m so với mặt nước biển (Nguyễn Đức Lương và cs, 2000)[8]. Do có khả năng thích ứng rộng nên cây ngô được trồng ở hầu hết các nước trên thế giới.
Mặc dù chỉ c 4 đứng thứ 3 về diện tích (sau lúa nước và lúa mì) nhưng ngô lại dẫn đầu về năng suất và sản lượng, là cây trồng có tốc độ tăng trưởng về năng suất cao nhất trong các cây lương thực chủ yếu. Diện tích, năng suất, sản lượng ngô trên thế giới năm 2008 - 2016 Chỉ tiêu Diện tích Năng suất Sản lượng Năm (triệu ha) (tạ/ha) (triệu tấn) 2008 158,7 50,0 800,1 2009 158,4 52,0 825,2 2010 163,8 51,9 849,8 2011 171,7 51,6 885,3 2012 177,0 49,4 875,1 2013 185,7 54,8 1017,5 2014 179,8 56,5 1016,0 2015 178,0 54,1 963,32 2016 182,3 57,8 1053,8 (Nguồn: FAO, 2017 [23]; USDA, 2017 [31]) Qua bảng số liệu trên cho thấy: Giai đoạn 2008-2016, sản xuất ngô trên thế giới có xu hướng tăng về diện tích, năng suất và sản lượng. Từ năm 2008 đến 2016 diện tích trồng ngô tăng từ 158,7 triệu ha lên đến 182,3 triệu ha, tăng 14,9%, năng suất tăng từ 50 tạ/ha lên tới 57,8 tạ/ha, tăng 15,6%, sản lượng tăng từ 800,1 triệu tấn lên đến 1053,76 triệu tấn, tăng 31,7%. Năm 2013, diện tích trồng ngô trên thế giới đạt cao nhất (185,7 triệu ha), nhưng năng suất và sản lượng ngô đạt cao nhất ở năm 2016.
Mặc dù được trồng khắp nơi trên thế giới nhưng do đặc trưng về điều kiện sinh thái, sự khác nhau về kỹ thuật canh tác nên năng suất ngô có sự khác biệt rất lớn giữa các vùng, các châu lục và quốc gia. Tình hình sản xuất ngô ở một số khu vực trên thế giới năm 2016 Diện tích Năng suất Sản lượng Khu vực (triệu ha) (tạ/ha) (triệu tấn) Đông Á 37,3 59,5 221,9 Bắc Mỹ 43,9 96,7 425,0 Nam Mỹ 24,3 58,1 141,2 Nam Phi 3,1 48,4 15,0 Đông Nam Á 9,4 69,5 93,5 Liên Minh Châu Âu 8,7 54,1 60,3 (Nguồn: USDA, 2017 [31]) Số liệu bảng 1.2 cho thấy: Diện tích trồng ngô tập trung chủ yếu ở Bắc Mỹ và Đông Á, chiếm 64% diện tích trồng ngô của toàn thế giới. Diện tích sản xuất ngô ở Bắc Mỹ đạt 43,9 triệu ha. Không chỉ có diện tích trồng ngô lớn nhất mà Bắc Mỹ còn có năng suất và sản lượng ngô cao nhất thế giới, năm 2016 năng suất đạt 96,7 tạ/ha, cao hơn 67,3% so với năng suất trung bình của thế giới, sản lượng đạt 425,0 triệu tấn, chiếm 40,3% sản lượng ngô toàn thế giới.
Đông Á và Nam Mỹ đều là những khu vực có diện tích trồng ngô khá lớn (chỉ đứng sau Bắc Mỹ), năng suất đạt trung bình 58,1-59,5 tạ/ha và sản lượng là 221,9 và 141,2 triệu tấn. Nam Phi là khu vực có diện tích trồng ngô thấp nhất thế giới với diện tích là 3,2 triệu ha, năng suất chỉ đạt 48,4 tạ/ha với sản lượng là 15,0 triệu tấn. Đây là chỉ số khá khiêm tốn so với các khu vực khác trên thế giới do điều kiện khí hậu bất thuận và trình độ canh tác còn hạn chế. Tình hình sản xuất ngô của một số nước trên thế giới năm 2016 Diện tích Năng suất Sản lượng Nước (triệu ha) (tạ/ha) (triệu tấn) Mỹ 35,1 109,0 384,8 Trung Quốc 36,8 59,0 291,6 Brazil 17,3 54,0 93,5 Ấn Độ 9,6 27,0 26,0 Mexico 7,5 36,0 27,0 (Nguồn: USDA, năm 2017 [31]) Năm 2016, Mỹ vẫn là cường quốc số một về sản xuất ngô trên thế giới, mặc dù diện tích trồng ngô ít hơn Trung Quốc (đạt 35,1 triệu ha), nhưng năng suất ngô của Mỹ rất cao, bình quân đạt 109 tạ/ha nên tổng sản lượng ngô đạt 384,8 triệu tấn, chiếm 36,5% sản lượng ngô toàn thế giới.
Kết quả trên cho thấy việc ứng dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến trong công tác chọn tạo giống và cải tiến kỹ thuật canh tác ngô của Mỹ đã rất thành công. Trung Quốc là nước có diện tích sản xuất ngô lớn nhất thế giới đạt 36,8 triệu ha, nhưng do năng suất ngô chỉ đạt 59 tạ/ha (bằng 54,1% năng suất ngô của Mỹ), nên sản lượng chỉ đạt 291,6 triệu tấn bằng 75,8% sản lượng ngô của Mỹ. Theo dự báo của Viện nghiên cứu chương trình lương thực thế giới năm 2020, nhu cầu ngô thế giới tăng 45% so với nhu cầu năm 1997. Vào năm 2020 tổng nhu cầu ngô thế giới là 852 triệu tấn, trong đó 15% dùng làm lương thực, 69% dùng làm thức ăn chăn nuôi, 16% dùng làm nguyên liệu cho công nghiệp.
Dự báo đến năm 2050, nhu cầu về ngô ở các nước đang phát triển sẽ tăng gấp đôi so với năm 2011, và đến năm 2025 ngô sẽ trở thành cây trồng có nhu cầu sản xuất lớn nhất trên toàn cầu, đặc biệt là ở các nước đang phát triển (CIMMYT, 2011) [22]. c 7 Từ năm 2008 đến nay sản lượng ngô tăng trung bình 4% /năm, dự báo sản lượng ngô thế giới sẽ đạt 1.016 triệu tấn vào năm 2018/2019. Tuy nhiên, nhu cầu ngô trên toàn cầu cũng tăng mạnh, tiêu thụ sẽ đa dạng hóa, khoảng 48% được sử dụng làm thức ăn chăn nuôi (IGC, 2013) [26]. Tình hình tiêu thụ ngô trên thế giới Ngô là cây lương thực quan trọng trên thế giới và là nguồn thức ăn chủ lực cho chăn nuôi.
Theo báo cáo của Ủy ban ngũ cốc Quốc tế, năm 2010 lượng ngô tiêu thụ trên thị trường thế giới là 86 triệu tấn, năm 2011 là 93 triệu tấn, tăng 8,1% so với năm 2010. Sự gia tăng này một phần xuất phát từ nhu cầu của các nhà sản xuất ethanol và si-rô ngô (Bloomberg, 2012) [21]. Lượng ngô tiêu thụ của một số nước trên thế giới Đơn vị tính: Triệu tấn Nước Năm 2015 Năm 2016 Mỹ 747,81 313,96 Trung Quốc 530,78 227,01 Brazil 146,35 58,50 Ấn Độ 53,05 23,44 Japan 36,48 15,10 (Nguồn: USDA, năm 2017 [31]) Trên thế giới, Mỹ là nước tiêu thụ ngô lớn nhất thế giới, lượng ngô tiêu thụ của Mỹ chiếm 30% tổng lượng ngô tiêu thụ trên thế giới. Ở Mỹ ngô được sử dụng vào nhiều mục đích khác nhau, bên cạnh phục vụ cho nhu cầu thức ăn cho con người và trong chăn nuôi, cây ngô còn được sử dụng trong sản xuất ethanol.
Trung quốc cũng là một nước sử dụng lượng ngô khá lớn, chiếm 22,1% tổng lượng tiêu ngụ ngô trên thế giới. Việc ứng dụng nhiên liệu sinh học vào cuộc sống ngày càng gia tăng ở các nước phát triển dần thay thế một phần cho việc sử dụng nhiên liệu hóa thạch. Urbanchuk, ABF Economics LLP sản lượng ethanol thế giới năm 2010 tăng 17% , tăng thêm 15% năm 2011 và năm 2015 sản xuất ethanol c 8 đã đóng góp 44 tỷ USD vào GDP, 24 tỷ USD thu nhập hộ gia đình và đạt 10 tỷ USD doanh thu thuế (Cục xúc tiến thương mại, 2017)[37]. Theo số liệu thống kê của Liên minh nhiên liệu tái tạo toàn cầu (GRFA), sản lượng ethanol thế giới năm 2010 tăng 17% và tăng thêm 15% năm 2011.
Cục Bảo vệ môi trường Mỹ (EPA) cho biết doanh số bán hàng của ethanol tại Mỹ năm 2010 là 13 tỷ gallon, năm 2011 tăng lên đạt 14 tỷ gallon (tương đương với 54,3 tỷ lít) và mục tiêu sử dụng nhiên liệu tái tạo tổng cộng ở mức 19,28 tỷ gallon cho năm 2017 (Báo mới, 2016)[36]. Do nhu cầu sử dụng ngô trên thế giới ngày càng tăng nên giá ngô trên thị trường thế giới trong thời gian qua đã có sự biến động đáng kể. Năm 2010 giá ngô trên thị trường thế giới là 237,9 USD/tấn; năm 2016 là 156,2 USD/tấn (USDA, 2017)[32]. Tình hình sản xuất và tiêu thụ ngô tại Việt Nam 1.
Tình hình sản xuất ngô ở Việt Nam Ngô là một trong những cây màu chính, thích ứng rộng, chịu thâm canh, đứng đầu về năng suất, vì vậy ngô được trồng nhiều vụ trong năm và được trồng hầu hết các vùng trong cả nước. Giai đoạn 2005 - 2015, sản xuất ngô trong nước tương đối ổn định cả về diện tích, năng suất, sản lượng. Tình hình sản xuất ngô ở Việt Nam năm 2009 - 2016 Diện tích Năng suất Sản lượng Năm (nghìn ha) (tạ/ha) (nghìn tấn) 2009 1089 40,1 4372 2010 1126 41,1 4626 2011 1121 43,1 4836 2012 1157 43,0 4974 2013 1170 44,4 5191 2014 1179 44,1 5202 2015 1179 44,8 5281 2016 1300 46,0 5980 (Nguồn: Tổng Cục thống kê , 2017 [40]) c 9 Số liệu bảng 1.5 cho thấy: năm 2009, diện tích trồng ngô của nước ta là 1089 nghìn ha, đến năm 2015 tăng lên đạt 1179 nghìn ha. Sản lượng ngô đã tăng từ 4372 nghìn tấn (2009) lên 5281 nghìn tấn (2015).
Năm 2015, sản lượng ngô của Việt Nam đạt 62% so với mục tiêu đặt ra và gần 50% so với mục tiêu của năm 2020, nghĩa là sản xuất không đủ nhu cầu (Viện nghiên cứu ngô, 2009)[18]. Năm 2016 diện tích ngô tăng lên 1300 nghìn ha, năng suất ngô đạt 46,0 tạ/ha tăng hơn so với năm 2015, tuy nhiên nhu cầu cung cấp cho thị trường Việt Nam chưa đáp ứng được.