Tổng quan nghiên cứu
Ngành chăn nuôi lợn tại Việt Nam đóng vai trò then chốt trong việc bảo đảm an ninh thực phẩm và cung cấp nguồn đạm động vật chủ lực cho xã hội. Theo Chiến lược phát triển chăn nuôi đến năm 2020 của Thủ tướng Chính phủ, tỷ trọng chăn nuôi trong nông nghiệp được định hướng đạt trên 40%, chuyển dịch mạnh mẽ từ phương thức nhỏ lẻ sang mô hình trang trại công nghiệp tập trung. Để đáp ứng thị hiếu tiêu dùng về thịt nạc chất lượng cao và hạ giá thành sản xuất, việc ứng dụng các công thức lai kinh tế ba giống và bốn giống ngoại đang là xu thế tất yếu.
Vấn đề nghiên cứu trọng tâm là xác định tổ hợp lai tối ưu giữa dòng đực ngoại Duroc thuần, đực lai Pietrain x Duroc (PiDu) khi phối với đàn nái lai F1(Landrace x Yorkshire) nhằm nâng cao năng suất sinh sản, tốc độ sinh trưởng và phẩm chất thân thịt. Mục tiêu cụ thể của đề tài gồm hai phần chính: thứ nhất, đánh giá các chỉ tiêu phẩm chất tinh dịch của lợn đực giống Duroc và PiDu, đồng thời kiểm tra khả năng sinh sản của nái F1(LY) qua các lứa đẻ 4 và 5; thứ hai, khảo sát khả năng sinh trưởng, hiệu quả chuyển hóa thức ăn, năng suất thịt và chất lượng thịt xẻ của hai tổ hợp con lai nuôi thương phẩm.
Nghiên cứu được triển khai từ tháng 9 năm 2015 đến tháng 9 năm 2016 tại Trại chăn nuôi lợn nái sinh sản thuộc Sư đoàn 3, Quân khu 1, đóng trên địa bàn huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang. Với quy mô thử nghiệm trên mô hình điểm 80 lợn nái và 400 lợn thịt, kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở dữ liệu thực chứng với các chỉ số mục tiêu rõ ràng: tỷ lệ nuôi sống đến cai sữa đạt trên 96%, khối lượng cai sữa toàn ổ ở 21 ngày tuổi đạt trên 70 kg, và giảm thiểu tiêu tốn thức ăn cho mỗi kg lợn con cai sữa xuống dưới 5,8 kg.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Nghiên cứu được xây dựng dựa trên lý thuyết di truyền số lượng và nguyên lý ưu thế lai (Heterosis) của Falconer và Dickerson. Theo quy luật di truyền, lai kinh tế giữa các dòng thuần hoặc con lai khác giống sẽ làm tăng tần số các cặp gen dị hợp tử, tạo ra sự tương tác gen không cộng tính (sai lệch trội và sai lệch át gen), giúp con lai đời sau biểu hiện sức sống, tốc độ tăng trọng và khả năng kháng bệnh vượt trội so với trung bình của bố mẹ. Đối với lợn nái lai F1(LY), ưu thế lai của mẹ thể hiện rõ ở số con sơ sinh sống, sản lượng tiết sữa và bản năng nuôi con. Khi phối nái F1(LY) với đực Duroc tạo ra con lai 3 giống, hoặc với đực PiDu tạo ra con lai 4 giống, con lai tiếp tục thừa hưởng cả ưu thế lai cá thể lẫn ưu thế lai từ dòng bố mẹ chuyên nạc.
Khung lý thuyết vận dụng mô hình phân tích kiểu hình cơ bản: P = G + E (trong đó P là giá trị kiểu hình, G là giá trị kiểu gen bao gồm giá trị cộng gộp giống A, sai lệch trội D, sai lệch tương tác I, và E là sai lệch môi trường chung và riêng). Các khái niệm chuyên môn cốt lõi được chuẩn hóa bao gồm:
- Phẩm chất tinh dịch: Đánh giá qua thể tích (V), hoạt lực (A), nồng độ (C), tổng số tinh trùng tiến thẳng trong một lần xuất tinh (chỉ số VAC), sức kháng (R) và tỷ lệ kỳ hình (K%).
- Năng suất sinh sản: Số con đẻ ra/ổ, số con sơ sinh sống, khối lượng sơ sinh toàn ổ, khối lượng cai sữa lúc 21 ngày và thời gian động dục trở lại.
- Năng suất và chất lượng thân thịt: Đo lường sinh trưởng tích lũy, hệ số chuyển hóa thức ăn (FCR), tỷ lệ móc hàm, tỷ lệ thịt xẻ, tỷ lệ nạc, diện tích cơ thăn tại vị trí xương sườn 13-14 và các chỉ số hóa sinh của cơ thịt.
Phương pháp nghiên cứu
Nguồn dữ liệu và bố trí thí nghiệm:
Nghiên cứu tiến hành trên đàn gia súc gồm 50 lợn nái F1(LY) ở lứa đẻ 4 và 5 có khối lượng đồng đều từ 235 kg đến 250 kg; 1 cá thể lợn đực Duroc thuần (2 năm 3 tháng tuổi, thể trọng 245 kg); 1 cá thể lợn đực lai PiDu (2 năm 5 tháng tuổi, thể trọng 260 kg); và 180 lợn thịt thương phẩm thuộc hai tổ hợp lai F2(DLY) và F2(PDLY). Lợn thịt bắt đầu theo dõi từ 60 ngày tuổi (thể trọng ban đầu đạt 20,68 kg đến 20,94 kg) đến 165 ngày tuổi, tổng thời gian nuôi vỗ béo là 105 ngày.
Phương pháp chọn mẫu:
Phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên có kiểm soát được áp dụng nhằm triệt tiêu các sai lệch ngoại cảnh. Đàn nái được phân đều vào 2 lô thí nghiệm (25 nái/lô) tương đồng tuyệt đối về lứa đẻ, thể trạng và quy trình nuôi dưỡng. Đàn lợn thịt được chia thành các lô với 3 lần lặp lại, cân bằng tỷ lệ đực/cái theo tỷ lệ 1:1. Toàn bộ đàn lợn sử dụng thức ăn công nghiệp tiêu chuẩn của Cargill với mức năng lượng trao đổi từ 3.000 đến 3.250 kcal ME và protein thô từ 16,5% đến 22,5% tùy theo giai đoạn sinh trưởng. Đàn vật nuôi được tiêm phòng đầy đủ các loại vắc-xin dịch tả, tai xanh và tẩy nội ngoại ký sinh trùng định kỳ.
Phương pháp thu thập và phân tích dữ liệu:
- Phẩm chất tinh dịch được khai thác với tần suất 3 ngày/lần, kiểm tra hoạt lực trên kính hiển vi quang học PZ0 độ phóng đại 100-300 lần, đo nồng độ tinh trùng bằng máy quang phổ kế SDM5 của hãng Minitube (Đức), đo pH bằng máy Mettler Toledo MP 220 và xác định tỷ lệ kỳ hình qua nhuộm xanh metylen 5%.
- Năng suất mổ khảo sát và phẩm chất thịt: Sau khi kết thúc giai đoạn nuôi thịt, chọn ngẫu nhiên các cá thể đại diện để mổ khảo sát thân thịt theo quy chuẩn. Mẫu cơ thăn tại vị trí xương sườn 13-14 được gửi phân tích tại Khoa Chăn nuôi thuộc Học viện Nông nghiệp Việt Nam để đo pH sau 45 phút và 24 giờ, đo màu sắc thịt bằng máy đo quang phổ (hệ màu L*, a*, b*), phân tích hàm lượng protein thô trên hệ thống Kjeldahl tự động theo TCVN 4328-1:2007, hàm lượng lipid theo TCVN 4331:2001 và khoáng tổng số theo TCVN 4327-1:2007.
- Xử lý số liệu: Toàn bộ số liệu thu thập được phân tích phương sai một nhân tố (ANOVA 1-way) và so sánh cặp giá trị trung bình theo phương pháp kiểm định Tukey trên phần mềm thống kê Minitab 16. Lý do lựa chọn phương pháp này nhằm đảm bảo tính chuẩn xác sinh học, loại bỏ các biến thiên ngẫu nhiên và kiểm soát mức ý nghĩa thống kê ở ngưỡng tin cậy P < 0,05.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Phát hiện thứ nhất về phẩm chất tinh dịch lợn đực giống:
Kết quả theo dõi qua 32 lần khai thác tinh cho thấy lợn đực Duroc thuần thể hiện ưu thế vượt trội về nồng độ và tổng số tinh trùng hữu hiệu so với đực lai PiDu. Cụ thể, nồng độ tinh trùng (C) của đực Duroc đạt 264,69 triệu/ml, cao hơn có ý nghĩa thống kê (P < 0,05) so với đực PiDu đạt 250,81 triệu/ml. Chỉ số tổng tinh trùng tiến thẳng một lần xuất tinh (VAC) của đực Duroc đạt 44,24 tỷ tinh trùng/lần, cao hơn 6,99% so với đực PiDu đạt 41,35 tỷ tinh trùng/lần (P < 0,05). Tuy nhiên, thể tích tinh dịch của lợn PiDu đạt 228,97 ml/lần, nhỉnh hơn lợn Duroc đạt 222,84 ml/lần (P > 0,05). Sức kháng tinh trùng của đực PiDu đạt mức 4.807,20, cao hơn so với đực Duroc đạt 4.682,70. Cả hai giống đực đều có tỷ lệ tinh trùng kỳ hình rất thấp (7,07% ở Duroc và 7,11% ở PiDu), độ pH duy trì ở mức kiềm yếu từ 7,24 đến 7,25, hoàn toàn thỏa mãn Tiêu chuẩn Quốc gia TCVN 3897-1984 đối với tinh dịch gia súc đực giống nhân tạo.
Phát hiện thứ hai về năng suất sinh sản của lợn nái F1(LY) ở lứa đẻ 4:
Tại lứa đẻ thứ 4, cả hai tổ hợp phối giống đều mang lại năng suất sinh sản rất cao và không có sự sai khác mang ý nghĩa thống kê giữa hai công thức lai (P > 0,05). Tổ hợp Duroc x F1(LY) đạt số con đẻ ra/ổ là 12,08 con, số con sơ sinh sống là 11,76 con, tỷ lệ nuôi sống đến khi cai sữa đạt 96,75%, khối lượng sơ sinh toàn ổ đạt 17,64 kg (bình quân 1,50 kg/con). Khối lượng toàn ổ khi cai sữa ở 21,44 ngày đạt 70,75 kg (bình quân 6,60 kg/con). Đối với tổ hợp lai PiDu x F1(LY), các chỉ số lần lượt là: số con đẻ ra/ổ đạt 11,92 con, số con sơ sinh sống đạt 11,52 con, khối lượng sơ sinh toàn ổ đạt 17,85 kg (1,55 kg/con), khối lượng toàn ổ khi cai sữa đạt 73,76 kg (6,78 kg/con) và tỷ lệ nuôi sống đến cai sữa đạt 96,42%. Tiêu tốn thức ăn cho mỗi kg lợn con cai sữa ở tổ hợp phối với đực PiDu đạt 5,77 kg, thấp hơn so với mức 6,01 kg của tổ hợp phối với đực Duroc.
Phát hiện thứ ba về năng suất sinh sản vượt trội ở lứa đẻ 5:
Bước sang lứa đẻ thứ 5, sự phân hóa về tiềm năng sinh sản giữa hai tổ hợp lai thể hiện rõ rệt. Nái F1(LY) khi phối với đực PiDu cho số con đẻ ra/ổ đạt 12,80 con và số con sơ sinh sống/ổ đạt 12,44 con, cao hơn đáng kể (P < 0,05) so với khi phối với đực Duroc đạt 11,52 con đẻ ra/ổ và 11,40 con sơ sinh sống/ổ (mức tăng trưởng số con sống đạt tới 9,12%). Khối lượng toàn ổ sơ sinh của tổ hợp PiDu x F1(LY) đạt 19,03 kg, vượt mức 18,24 kg của tổ hợp Duroc x F1(LY). Tỷ lệ nuôi sống đến khi cai sữa duy trì ở mức tối ưu từ 97,85% đến 98,56%. Khối lượng cai sữa toàn ổ lúc 21 ngày tuổi của hai tổ hợp lần lượt đạt 75,87 kg và 75,35 kg, thời gian động dục trở lại của đàn nái sau cai sữa rất ngắn, dao động từ 4,56 đến 4,84 ngày.
Thảo luận kết quả
Sự khác biệt về phẩm chất tinh dịch giữa đực thuần Duroc và đực lai PiDu phản ánh đặc tính di truyền của từng giống. Duroc thuần chủng vốn nổi tiếng với khả năng sinh tinh ổn định và mật độ tế bào tinh trùng đậm đặc, điều này giải thích vì sao chỉ số VAC của đực Duroc đạt tới 44,24 tỷ/lần khai thác. Trong khi đó, đực lai PiDu mang 50% máu giống Pietrain siêu nạc giúp cải thiện thể tích dịch thẩm thấu và sức kháng tế bào màng lipoprotein (R đạt 4.807,20), tạo điều kiện thuận lợi cho việc pha chế môi trường bảo tồn tinh dịch lỏng trong thụ tinh nhân tạo.
Về phương diện sinh sản, sự gia tăng số con sơ sinh sống ở lứa đẻ 5 của tổ hợp PiDu x F1(LY) (12,44 con/ổ) đã khẳng định hiệu ứng ưu thế lai tái tổ hợp 4 giống. Khi con đực lai F1(Pietrain x Duroc) phối với nái lai F1(Landrace x Yorkshire), hợp tử đời con tiếp nhận nguồn gen dị hợp tử tối đa từ 4 giống ngoại ưu việt, thúc đẩy tỷ lệ thụ tinh thành công và nâng cao sức sống của phôi thai trong tử cung lợn mẹ. So sánh với các nghiên cứu trước đây trong nước, thành tích sinh sản ghi nhận trong luận văn cao hơn rõ rệt: nghiên cứu của Nguyễn Văn Thắng và Vũ Đình Tôn (2010) ghi nhận số con sơ sinh sống/ổ của nái F1(LY) phối với đực Duroc và PiDu lần lượt là 10,70 con và 10,88 con; nghiên cứu của Phan Xuân Hảo (2006) chỉ đạt 10,41 con/ổ. Thành quả này chứng minh rằng việc áp dụng khẩu phần thức ăn công nghiệp cân đối (protein thô 16,5% cho nái chửa và 22,5% cho lợn con tập ăn) kết hợp quy trình quản lý chuồng trại khép kín tại Bắc Giang đã phát huy tối đa tiềm năng di truyền của đàn nái ngoại.
Dữ liệu thực nghiệm của nghiên cứu có thể được trực quan hóa hiệu quả thông qua biểu đồ cột so sánh chỉ số VAC giữa hai nguồn đực giống, cùng với bảng ma trận biểu diễn tương quan giữa lứa đẻ (lứa 4 và lứa 5) với khối lượng cai sữa toàn ổ. Điều này giúp các nhà quản lý trang trại dễ dàng nhận diện xu hướng tăng trưởng và lập kế hoạch sản xuất chuẩn xác.
Đề xuất và khuyến nghị
Dựa trên các bằng chứng khoa học và thực nghiệm thu được, tác giả đưa ra 4 nhóm giải pháp mang tính hành động cao:
Thứ nhất, ưu tiên đưa tổ hợp lai bốn giống PiDu x F1(LY) vào cơ cấu sản xuất giống thương phẩm chủ lực tại các trang trại quy mô vừa và lớn. Mục tiêu là nâng cao số lợn con cai sữa/nái/năm đạt mức trên 24 con, khối lượng cai sữa toàn ổ ở 21 ngày tuổi đạt trên 75 kg. Lộ trình triển khai áp dụng đồng bộ trong giai đoạn 6 đến 12 tháng tới cho các cơ sở chăn nuôi tại Bắc Giang và các tỉnh trung du miền núi phía Bắc. Chủ thể thực hiện là các giám đốc hợp tác xã, chủ trang trại và cán bộ kỹ thuật phụ trách chọn giống.
Thứ hai, chuẩn hóa quy trình khai thác và chế biến tinh dịch lợn đực giống Duroc và PiDu. Cần duy trì nghiêm ngặt chế độ khai thác 3 ngày/lần, đảm bảo khẩu phần ăn hàng ngày từ 2,4 kg đến 2,8 kg thức ăn giàu năng lượng (3.000 kcal ME và 16,8% protein thô). Áp dụng máy đo quang học kiểm soát nồng độ tinh trùng trước khi pha loãng liều phối, đảm bảo chỉ số VAC hữu hiệu đạt tối thiểu 41 đến 44 tỷ tinh trùng/lần xuất tinh. Chủ thể chịu trách nhiệm là kỹ thuật viên phòng pha chế tinh nhân tạo tại các trung tâm giống.
Thứ ba, áp dụng công nghệ cai sữa sớm ở 21 ngày tuổi kết hợp tập ăn sớm từ tuần tuổi thứ 2 cho lợn con. Kỹ thuật này giúp rút ngắn chu kỳ sinh sản của nái, duy trì thời gian động dục trở lại sau cai sữa dưới 5 ngày, qua đó nâng cao hệ số quay vòng đàn nái lên 2,3 đến 2,4 lứa/năm. Đơn vị thực hiện là công nhân trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng tại chuồng nái đẻ.
Thứ tư, thiết lập hệ thống kiểm soát an toàn sinh học và tiểu khí hậu chuồng nuôi nghiêm ngặt. Nhiệt độ chuồng đực giống cần duy trì ổn định ở mức 18 đến 22 độ C để ngăn ngừa hiện tượng sốc nhiệt làm suy giảm chất lượng tinh trùng; đồng thời thực hiện đầy đủ lịch tiêm phòng 2 mũi dịch tả, 1 mũi tai xanh và vệ sinh tiêu độc khử trùng chuồng trại định kỳ nhằm hạ tỷ lệ hao hụt đàn lợn con xuống dưới 3,5%. Chủ thể thực hiện là đội ngũ thú y cơ sở và cơ quan khuyến nông địa phương.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Luận văn là nguồn tài liệu tham khảo có giá trị ứng dụng thực tiễn cao đối với 4 nhóm đối tượng chính:
Nhóm 1: Chủ trang trại và các doanh nghiệp chăn nuôi lợn thương phẩm quy mô công nghiệp. Luận văn cung cấp căn cứ thực chứng để lựa chọn đúng đắn tổ hợp lai kinh tế giữa Duroc và PiDu trên nền nái F1(LY), giúp tối ưu hóa chi phí sản xuất, hạ hệ số tiêu tốn thức ăn xuống dưới 5,8 kg/kg lợn cai sữa và gia tăng tỷ lệ nạc thương phẩm xuất bán.
Nhóm 2: Kỹ thuật viên thụ tinh nhân tạo và cán bộ quản lý trạm truyền giống gia súc. Nhóm này có thể ứng dụng trực tiếp các thông số kỹ thuật về quy chuẩn tinh dịch lợn đực (thể tích 222-228 ml, nồng độ trên 250 triệu/ml, tỷ lệ kỳ hình dưới 7,2%) để thiết lập quy trình kiểm định chất lượng tinh lỏng đạt chuẩn quốc gia.
Nhóm 3: Giảng viên, nhà nghiên cứu và học viên sau đại học chuyên ngành Chăn nuôi - Thú y. Luận văn đóng vai trò là tài liệu tham khảo khoa học giá trị về phương pháp bố trí thí nghiệm lai kinh tế, kỹ thuật mổ khảo sát thân thịt theo tiêu chuẩn TCVN và quy trình xử lý dữ liệu sinh học bằng mô hình phân tích phương sai ANOVA trên Minitab 16.
Nhóm 4: Cán bộ khuyến nông và nhà hoạch định chính sách phát triển nông nghiệp tại các địa phương. Cung cấp luận cứ khoa học tin cậy để xây dựng các chương trình cải tạo đàn giống gia súc, hỗ trợ chuyển giao công nghệ lai 3-4 giống ngoại nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế nông nghiệp nông thôn.
Câu hỏi thường gặp
Tổ hợp lai PiDu x F1(LY) mang lại ưu thế nổi bật nào về năng suất sinh sản so với Duroc x F1(LY)?
Tổ hợp lai PiDu x F1(LY) thể hiện ưu thế vượt trội ở lứa đẻ thứ 5 khi đạt số con đẻ ra/ổ là 12,80 con và số con sơ sinh sống là 12,44 con/ổ, cao hơn có ý nghĩa thống kê (P < 0,05) so với tổ hợp Duroc x F1(LY) chỉ đạt 11,40 con sống/ổ. Ngoài ra, khối lượng sơ sinh toàn ổ đạt tới 19,03 kg, phản ánh sức sống phôi thai mạnh mẽ nhờ tổ hợp gen 4 giống ngoại.
Chỉ số phẩm chất tinh dịch giữa đực thuần Duroc và đực lai PiDu khác nhau như thế nào?
Lợn đực Duroc thuần có nồng độ tinh trùng đạt 264,69 triệu/ml và tổng số tinh trùng tiến thẳng VAC đạt 44,24 tỷ/lần xuất tinh, cao hơn có ý nghĩa thống kê (P < 0,05) so với đực lai PiDu (đạt 250,81 triệu/ml và 41,35 tỷ/lần). Tuy nhiên, đực lai PiDu có thể tích xuất tinh lớn hơn (228,97 ml) và sức kháng tinh trùng cao hơn (4.807,20 so với 4.682,70).
Khối lượng cai sữa của lợn con ở 21 ngày tuổi đạt bao nhiêu và tiêu tốn thức ăn như thế nào?
Ở 21,44 ngày tuổi, khối lượng cai sữa bình quân của lợn con đạt từ 6,60 kg (ở tổ hợp Duroc) đến 6,78 kg (ở tổ hợp PiDu), khối lượng toàn ổ cai sữa đạt từ 70,75 kg đến 73,76 kg ở lứa 4 và vượt 75 kg ở lứa 5. Tiêu tốn thức ăn cho 1 kg lợn con cai sữa dao động tối ưu từ 5,61 kg đến 6,01 kg thức ăn.
Thời gian động dục trở lại của đàn nái F1(LY) sau khi cai sữa lợn con là bao lâu?
Đàn nái F1(LY) nuôi dưỡng theo quy trình chuẩn phục hồi thể trạng rất nhanh sau cai sữa, thời gian động dục trở lại dao động trung bình từ 4,56 đến 5,28 ngày. Chỉ số này rất lý tưởng, giúp duy trì khoảng cách giữa hai lứa đẻ ngắn và nâng cao năng suất khai thác nái sinh sản trong năm.
Độ tin cậy của phương pháp phân tích số liệu trong luận văn được bảo đảm bằng cách nào?
Toàn bộ số liệu thực nghiệm được thu thập theo phương pháp lặp lại 3 đợt, xử lý thống kê trên phần mềm chuyên dụng Minitab 16 bằng mô hình phân tích phương sai một nhân tố (ANOVA 1-way) và kiểm định so sánh cặp Tukey ở mức ý nghĩa P < 0,05, giúp loại trừ các sai số ngẫu nhiên và bảo đảm tính khách quan học thuật tuyệt đối.
Kết luận
- Lợn đực Duroc thuần sở hữu phẩm chất tinh dịch vượt trội về mật độ và chỉ số VAC (44,24 tỷ tinh trùng/lần) so với đực lai PiDu (41,35 tỷ tinh trùng/lần), trong khi đực PiDu có ưu thế về thể tích xuất tinh (228,97 ml) và sức đề kháng tinh trùng cao.
- Nái lai F1(LY) phối với đực PiDu ở lứa đẻ 5 đạt thành tích sinh sản xuất sắc với 12,44 con sơ sinh sống/ổ và khối lượng toàn ổ sơ sinh 19,03 kg, khẳng định ưu thế lai vượt trội của công thức lai 4 giống.
- Khối lượng cai sữa toàn ổ ở 21 ngày tuổi đạt mức cao ấn tượng từ 70,75 kg đến 75,87 kg, đi kèm tỷ lệ nuôi sống đàn con đạt trên 96,4% đến 98,5%.
- Hệ số tiêu tốn thức ăn cho 1 kg lợn con cai sữa được kiểm soát tối ưu ở mức 5,61 kg đến 6,01 kg, thời gian nái động dục trở lại duy trì ở mức dưới 5 ngày.
- Đề tài đóng góp nguồn dữ liệu thực chứng và cơ sở lý luận vững chắc cho công tác cải tạo giống gia súc chất lượng cao tại Việt Nam.
Trong giai đoạn 12 đến 24 tháng tới, các cơ sở chăn nuôi tập trung nên nhanh chóng nhân rộng mô hình tổ hợp lai PiDu x F1(LY) để tối đa hóa lợi nhuận. Hãy liên hệ ngay với các trung tâm khuyến nông và cơ sở nghiên cứu giống uy tín để tiếp nhận chuyển giao quy trình kỹ thuật phối giống và chăm sóc tiên tiến này.