Luận văn thạc sĩ nghiên cứu khả năng sản xuất của hai tổ hợp lợn lai giữa đực pidu x nái f 1 1 ly và đực du x nái f ly nuôi tại trại chăn nuôi lợn nái sinh sản sư đoàn 3 lạng giang bắc giang

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu khả năng sản xuất của hai tổ hợp lợn lai Pidu x F1 và Du x F1 tại trại chăn nuôi Sư đoàn 3, Lạng Giang, Bắc Giang.

Chuyên ngành

Chăn nuôi

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2016

84
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Giới thiệu về nghiên cứu

Nghiên cứu này tập trung vào khả năng sản xuất của hai tổ hợp lợn lai Pidu x F1Du x F1 tại trại chăn nuôi Lạng Giang, Bắc Giang. Mục tiêu chính là đánh giá phẩm chất tinh dịch của lợn đực, khả năng sinh sản của lợn nái F1(LY), và hiệu quả sản xuất của các tổ hợp lai. Nghiên cứu này có ý nghĩa quan trọng trong việc cải thiện chất lượng giống lợn và nâng cao năng suất chăn nuôi tại địa phương.

1.1. Bối cảnh và tính cấp thiết

Ngành chăn nuôi lợn tại Việt Nam đang phát triển mạnh, đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp thực phẩm. Tuy nhiên, việc lựa chọn giống lợn lai phù hợp để tối ưu hóa năng suấtchất lượng thịt vẫn là thách thức. Nghiên cứu này nhằm đáp ứng nhu cầu thực tiễn, cung cấp dữ liệu khoa học để hỗ trợ các trại chăn nuôi trong việc lựa chọn tổ hợp lai hiệu quả.

1.2. Mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu nhằm đánh giá phẩm chất tinh dịch của lợn đực PiduDu, khả năng sinh sản của lợn nái F1(LY), và hiệu quả sản xuất của các tổ hợp lai. Kết quả sẽ giúp xác định tổ hợp lai phù hợp, góp phần nâng cao năng suấtchất lượng thịt trong chăn nuôi lợn.

II. Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện tại trại chăn nuôi Lạng Giang, Bắc Giang, với hai tổ hợp lai Pidu x F1Du x F1. Các chỉ tiêu được đánh giá bao gồm phẩm chất tinh dịch, khả năng sinh sản, sinh trưởng, tiêu tốn thức ăn, và chất lượng thịt. Phương pháp nghiên cứu bao gồm thu thập số liệu, phân tích thống kê, và so sánh hiệu quả giữa các tổ hợp lai.

2.1. Đối tượng và địa điểm nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là lợn đực PiduDu, cùng lợn nái F1(LY). Nghiên cứu được thực hiện tại trại chăn nuôi Lạng Giang, Bắc Giang, nơi có điều kiện chăn nuôi ổn định và quy mô lớn.

2.2. Phương pháp đánh giá

Các chỉ tiêu được đánh giá bao gồm phẩm chất tinh dịch (thể tích, hoạt lực, nồng độ tinh trùng), khả năng sinh sản (số con/ổ, khối lượng cai sữa), sinh trưởng (tăng trọng tích lũy, tuyệt đối), tiêu tốn thức ăn, và chất lượng thịt (tỷ lệ nạc, mỡ).

III. Kết quả và thảo luận

Kết quả nghiên cứu cho thấy tổ hợp lai Pidu x F1khả năng sinh sảnsinh trưởng tốt hơn so với Du x F1. Tuy nhiên, tiêu tốn thức ănchất lượng thịt của hai tổ hợp lai không có sự khác biệt đáng kể. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng phẩm chất tinh dịch của lợn đực Pidu cao hơn so với Du, góp phần cải thiện năng suất sinh sản của lợn nái F1(LY).

3.1. Khả năng sinh sản

Tổ hợp lai Pidu x F1 có số con/ổ và khối lượng cai sữa cao hơn so với Du x F1, cho thấy ưu thế lai rõ rệt trong khả năng sinh sản.

3.2. Sinh trưởng và tiêu tốn thức ăn

Tổ hợp lai Pidu x F1 có tốc độ sinh trưởng nhanh hơn, nhưng tiêu tốn thức ăn không có sự khác biệt lớn so với Du x F1. Điều này cho thấy hiệu quả kinh tế của hai tổ hợp lai là tương đương.

3.3. Chất lượng thịt

Cả hai tổ hợp lai đều cho chất lượng thịt tốt, với tỷ lệ nạc cao và mỡ thấp, phù hợp với nhu cầu thị trường.

IV. Kết luận và đề xuất

Nghiên cứu khẳng định Pidu x F1 là tổ hợp lai có khả năng sản xuất tốt hơn so với Du x F1, đặc biệt trong khả năng sinh sảnsinh trưởng. Kết quả này có ý nghĩa thực tiễn trong việc lựa chọn giống lợn lai phù hợp để nâng cao năng suấthiệu quả kinh tế trong chăn nuôi lợn tại Bắc Giang.

4.1. Kết luận

Tổ hợp lai Pidu x F1ưu thế lai rõ rệt trong khả năng sinh sảnsinh trưởng, là lựa chọn phù hợp cho các trại chăn nuôi quy mô lớn.

4.2. Đề xuất

Cần tiếp tục nghiên cứu và nhân rộng mô hình sử dụng tổ hợp lai Pidu x F1 để tối ưu hóa năng suấtchất lượng thịt trong chăn nuôi lợn tại Bắc Giang và các khu vực lân cận.

01/03/2025
Luận văn thạc sĩ nghiên cứu khả năng sản xuất của hai tổ hợp lợn lai giữa đực pidu x nái f 1 1 ly và đực du x nái f ly nuôi tại trại chăn nuôi lợn nái sinh sản sư đoàn 3 lạng giang bắc giang

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở lý luận về lai giống và ưu thế lai 1. Lai giống Lai giống là cho giao phối giữa những động vật thuộc hai hay nhiều giống khác nhau. Lai khác dòng là cho giao phối giữa những động vật thuộc các dòng khác nhau trong cùng một giống.

Mặc dù lai khác giống xa nhau về huyết thống hơn lai khác dòng, song hiệu ứng di truyền của cả hai kiểu lai lại tương tự nhau (Lasley,1974)[25]. Trong quá trình chọn lọc tự nhiên cũng như nhân tạo ở lợn làm tăng tần số các cặp gen trội và dị hợp tử, đồng thời làm giảm tần số các cặp gen lặn, kể cả các cặp gen trội không có lợi cho cơ thể và năng suất của chúng. Lai giống làm cho tần số kiểu gen đồng hợp tử ở thế hệ sau giảm đi, tần số kiểu gen dị hợp tủ tăng lên, tạo ra nhiều cặp gen khác nhau về mặt di truyền, sự khác nhau này bổ sung và bổ trợ cho nhau. Đồng thời lai giống sẽ tạo ra sự tác động của gen đặc biệt, không cộng tính (khả năng tổ hợp đặc biệt) hay ưu thế lai (Đinh Văn Chỉnh và CS, 2001) [10].

Lai giống làm cho tần số kiểu gen đồng hợp tử ở thế hệ sau giảm đi, còn tần số kiểu gen dị hợp tử ở thế hệ sau tăng lên. Lai giống là phương pháp chủ yếu nhằm khai thác biến đổi di truyền của quần thể gia súc. Lai giống có những ưu việt vì con lai thường có ưu thế lai đối với một số tính trạng nhất định. Lai kinh tế hai giống lợn ngoại giữa Landrace, Yorkshire và ngược lại tạo ra con lai F1(LY), F1(YL) để nuôi thịt và gây nái sinh sản.

Nái lai có ưu thế lai cao về chỉ tiêu sinh sản , việc sử dụng nái lai trong chương trình lai giống đã trở thành một tiến bộ trong thực tiễn sản xuất (Rothschild và CS, 1998) [84]. Ưu thế lai Ưu thế lai là thuật ngữ biểu thị sức sống của con lai vượt trội hơn cha mẹ, khi cha mẹ là những cá thể không có quan hệ huyết thống. Ưu thế lai không chỉ thể hiện ở sức chịu đựng mà còn bao gồm cả ưu thế về sức sống, tốc độ sinh trưởng, khả năng cho sữa, khả năng sinh sản và tỷ lệ chết (Lasley, 1974) [25]; (Lebedev, 1972) [26]. 4 Ưu thế lai hay sức sống con lai hoàn toàn ngược với suy hóa cận huyết và sự suy giảm sức sống do cận huyết được khắc phục trở lại khi lai giống (Falconer, 1993) [54].

Ưu thế lai (heterosis) là năng suất tốt hơn của con lai so với bố mẹ chúng và được tính bằng công thức: KR - E Ưu thế lai: % = x 100 E Trong đó: KR là giá trị trung bình của con lai Ưu thế lai là sự hơn hẳn của đời con so với trung bình của đời bố mẹ. Có thể ưu thế lai là sức sống, sức miễn kháng đối với bệnh tật và tính trạng sản xuất của con lai được nâng cao, khả năng lợi dụng thức ăn tốt (Nguyễn Hải Quân và CS, 1995 [29]). Cơ sở khoa học của việc sử dụng nái lai và đực lai: Theo Falconer (1993) [54], ưu thế lai ở F1: HF1 = dy2, trong đó d là giá trị của kiểu gen dị hợp, y là sai khác về tần số gen giữa hai quần thể bố, mẹ. Ưu thế lai sinh ra bởi ảnh hưởng đồng thời của tất cả các giá trị riêng rẽ của từng locus: H F = ∑ dy 2.

Như vậy, 1 ưu thế lai ở F1 phụ thuộc vào giá trị của các kiểu gen dị hợp và sự khác biệt giữa hai quần thể. Cơ sở thống kê này cho phép tính toán được ưu thế lai ở các thế hệ lai khác nhau. Ưu thế lai ở F2: HF2 = 1/2dy2, Do đó HF2 = 1/2 HF1 Thay đổi trung bình từ F1 đến F2 cũng được coi là hiện tượng suy hoá cận huyết. Theo Falconer (1993) [54], ưu thế lai ở F1, F2 có thể phức tạp do ảnh hưởng của mẹ.

Chẳng hạn, tính trạng số con trong ổ của lợn. Ưu thế lai quan sát được ở F1 không có đóng góp của mẹ ở F2, mặc dù ưu thế lai mất đi một nửa nhưng lại có ảnh hưởng ưu thế lai của mẹ, do mẹ là con lai của F1. Ảnh hưởng của mẹ bao gồm tất cả những đóng góp, những ảnh hưởng tốt xấu do kiểu hình mẹ gây ra đối với kiểu hình của đời con. Ảnh hưởng của mẹ đối với kiểu hình của đời con có thể do sự khác nhau về di truyền, về ngoại cảnh hoặc sự phối hợp giữa di truyền và ngoại cảnh.

Ảnh hưởng của mẹ có thể được thực hiện trong quá trình thụ tinh, có chửa, tiết sữa và nuôi con. Các ảnh hưởng này chỉ có thể xuất hiện tức thời, song cũng có thể kéo dài suốt đời của con vật và được thể hiện ở nhiều cơ chế sinh học khác nhau (Đặng Vũ Bình, 2002) [ 4]. Theo Dickerson (1974) [52], khi lai giữa hai giống con lai chỉ có ưu thế lai 5 cá thể. Khi lai 3 giống, nếu dùng đực của giống thuần giao phối với nái lai, con lai có cả ưu thế lai cá thể và ưu thế lai của mẹ, do mẹ là con lai F1.

Nếu dùng đực lai giao phối với nái của giống thứ 3, con lai có ưu thế lai cá thể và ưu thế lai của bố, do bố là con lai F1. Trong lai 4 giống, con lai có cả ưu thế lai cá thể, cả ưu thế lai của mẹ và ưu thế lai của bố. Khi lai hai giống, số lợn con cai sữa/nái/năm tăng 5-10%, khi lai 3 giống hoặc lai trở ngược số lợn con cai sữa/nái/năm tăng tới 10-15%, số con cai sữa/ổ nhiều hơn 1,0-1,5 con và khối lượng cai sữa/con tăng được 1kg ở 28 ngày tuổi so với giống thuần (Colin, 1998) [50]. Sử dụng các phương pháp của Dickerson (1972) [51], phương trình dự tính năng suất ở con lai với các công thức lai như sau: - Lai 2 giống: 1 M ♂ A ♀ B = H AB I + 2 ( g B + g AM + g AP + g BP ) - Lai 3 giống: 1 1 I 1 M ♂ C ♀ AB = 2 ( I H CA + H CB I ) + H AB M + rAB 4 + ( g AB + gCM + g CP + g AB 2 P ) Trong đó, I: cá thể; H: ưu thế lai; M: mẹ; r: hiệu quả tái tổ hợp; P: bố; g: năng suất của các giống sử dụng để lai.

Để tính toán ưu thế lai đối với một số tính trạng nhất định từ các giá trị trung bình của đời con và giá trị trung bình của bố mẹ, Minkema (1974) [74] đã đưa ra công thức sau: 1 1 ( BA + AB) − ( AA + BB) H (%) = 2 2 1 ( BA + AB) 2 Trong đó, H: ưu thế lai; BA: F1(bố B, mẹ A); AB: F1(bố A, mẹ B); AA: bố A, mẹ A; BB: bố B, mẹ B. Các yếu tố ảnh hưởng đến ưu thế lai Công thức lai Ưu thế lai đặc trưng cho mỗi công thức lai. Theo Trần Đình Miên và CS (1994) [27], mức độ ưu thế lai đạt được có tính cách riêng biệt cho từng cặp lai cụ thể. Theo 6 Trần Kim Anh (2000) [2], ưu thế lai của mẹ có lợi cho đời con, ưu thế lai của lợn nái ảnh hưởng đến số con/ổ và tốc độ sinh trưởng của lợn con.

Ưu thế lai cá thể ảnh hưởng đến sinh trưởng và sức sống của lợn con, đặc biệt ở giai đoạn sau cai sữa. Ưu thế lai của bố thể hiện tính hăng của con đực, kết quả phối giống. Tính trạng số lượng: Những tính trạng không biểu hiện phân biệt nhau một cách rõ nét, các trạng thái của nó tạo thành dãy biến dị liên tục, được xác định thông qua các phép định lượng như cân, đong, đo, đếm… Được quy định bởi hai hay nhiều cặp gen, trong đó mỗi cặp gen chỉ tác động, đóng góp một hiệu ứng nhỏ nhất định. Tính trạng số lượng kém ổn định, bị tác động rất lớn bởi các yếu tố môi trường.

Sự sai khác giữa các cá thể là sự sai khác về mức độ hơn sự sai khác về chủng loại, đó là bản chất của tính trạng đa gen. Tính trạng số lượng có các đặc trưng sau: + Các tính trạng số lượng chịu ảnh hưởng bởi rất nhiều gen, mỗi gen chỉ có một tác động nhỏ. + Các tính trạng số lượng chịu ảnh hưởng rất lớn bởi điều kiện môi trường. + Có thể xác định các giá trị của tính trạng số lượng bằng các phép đo.

+ Các giá trị quan sát được của các tính trạng số lượng là các biến thiên liên tục. Tính trạng số lượng trong sản xuất nông nghiệp nói chung và trong chăn nuôi nói riêng được coi là tính trạng năng suất. Hầu hết các tính trạng có giá trị kinh tế của gia súc đều là tính trạng số lượng. Các yếu tố ảnh hưởng đến tính trạng số lượng: Theo Lasley (1974) [25], biểu hiện bề ngoài hoặc các đặc tính khác của một cá thể được gọi là kiểu hình của cá thể đó đối với tính trạng số lượng cũng như tính trạng chất lượng.

Kiểu hình này do kiểu gen và môi trường gây ra: P=G+E Trong đó: P : Giá trị kiểu hình; G: Giá trị kiểu gen; E: Sai lệch môi trường. Giá trị kiểu gen (G) 7 Giá trị kiểu gen của tính trạng số lượng do nhiều cặp gen quy định. Giá trị kiểu gen bao gồm các thành phần khác nhau: Giá trị cộng gộp A (Additive value) hoặc giá trị giống (Breeding value), sai lệch trội D (Dominance deviation) và sai lệch tương tác gen hoặc sai lệch át gen I (Interaction deviation hoặc Epistatic deviation). P = A + D + I + Eg + Es Trong đó: A : Giá trị cộng gộp (giá trị giống); D: Sai lệch trội; I: Sai lệch tương tác (sai lệch át gen); Eg: Sai lệch môi trường chung; Es: Sai lệch môi trường riêng.

Giá trị cộng gộp (A): Bố mẹ chỉ truyền cho con cái các gen của chúng chứ không phải truyền kiểu gen cho thế hệ sau. Để đo lường giá trị truyền đạt từ bố mẹ sang đời con phải có một giá trị đo lường có quan hệ với gen chứ không phải có liên quan với kiểu gen. Trong một tập hợp các gen quy định một tính trạng số lượng nào đó thì mỗi gen đều có một hiệu ứng nhất định đối với tính trạng số lượng đó. Tổng các hiệu ứng mà các gen nó mang được gọi là giá trị cộng gộp.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Nghiên cứu khả năng sản xuất của lợn lai Pidu x F1 và Du x F1 tại trại chăn nuôi Lạng Giang, Bắc Giang là một tài liệu chuyên sâu tập trung vào việc đánh giá hiệu quả sản xuất của hai giống lợn lai Pidu x F1 và Du x F1 trong điều kiện chăn nuôi thực tế tại Lạng Giang, Bắc Giang. Nghiên cứu này cung cấp những thông tin chi tiết về tốc độ tăng trưởng, khả năng sinh sản, và hiệu quả kinh tế của hai giống lợn này, giúp người đọc hiểu rõ hơn về tiềm năng của chúng trong ngành chăn nuôi. Đây là nguồn tài liệu hữu ích cho các nhà quản lý trang trại, nhà nghiên cứu, và những người quan tâm đến việc cải thiện năng suất chăn nuôi.

Để mở rộng kiến thức về các nghiên cứu liên quan đến nông nghiệp và chăn nuôi, bạn có thể tham khảo thêm Luận văn nghiên cứu ảnh hưởng của gốc ghép đến sinh trưởng phát triển của giống cam không hạt LD06 tại Lục Yên Yên Bái, Luận văn nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ đến sinh trưởng và năng suất của giống lúa Khẩu Pái tại Hàm Yên, Tuyên Quang, và Luận văn nghiên cứu ảnh hưởng của chế độ tưới nước và khoảng cách mật độ cấy đến sinh trưởng phát triển lúa Séng Cù tại Yên Bái. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất trong nông nghiệp và chăn nuôi.