CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THẺ THỨC NGHIÊN CỨU 1. Lịch sử vẫn đề nghiên cứu il Những nghiên cứu về trắc nghiệm tâm lp ở các nước phương Tây. Thuật ngữ trắc nghiệm tâm lý dau tiên được nha tâm lý học F.Galton (1822 — 1911) sử dụng vào năm 1884 dé gọi những thử nghiệm được thực hiện tại phòng đo người của ông ở Luân Đôn. Mỗi quan tâm của Francis Galton là sự khác biệt về trí thông minh giữa các cá nhân khác nhau.
Ong cho rằng trong các năng lực trí tuệ của con người, ton tại một giá trị trung bình. Ông cũng đã sử dụng thống kẻ để tìm ra được mỗi quan hệ và tương quan giữa các biến số thu được. Sau nảy, phương pháp thông kê của Galton được Karl Pearson phát triển va ứng dụng rộng rãi. Năm 1890 tại New York, cùng với sự ra đời của quyển sách “Các trắc nghiệm và đo lường trí tuệ” của nhà tâm lý học J.
Cattell, thuật ngữ trắc nghiệm tâm lý được sử dụng rộng rãi. Trong quyền sách nay, Cattell cũng đã đưa ra 50 mẫu trắc nghiệm. Tuy vậy, do chưa tiếp cận được những dẫu hiệu bản chất của vẫn để nên những cỗ gắng của Galton, Cattell và những người khác với mong muỗn xây dựng nên một trắc nghiệm trí tuệ tin cậy và có thê đo lường được day đủ các yếu tổ của trí tuệ đã không thành công. Đến năm 1905, từ yêu cầu của giới lãnh đạo nhả trường ở Paris, Alfred Binet (1857 — 1911) và Theophilé Simon đã tim ra một phương pháp hữu hiệu trong việc chan đoán được những trẻ em bị những tốn thương về mặt tinh than, không thẻ tiếp thu được những kiến thức ở trường học.
Day được xem là trắc nghiệm trí tuệ hiện đại đầu tiên đạt những thanh công nhất định. Hai lan cải biên vào những năm 1908 va 1911 đã giúp cho trắc nghiệm Binet - Simon thêm chính xác vả hoàn thiện. Trắc nghiệm này giúp nhận ra sự khác biệt về mức độ trí thông minh hay chậm phát triển của một đứa trẻ thông qua việc xem xét những khác biệt của trẻ so với khả năng trung bình ở một lửa tuổi. Đến năm 1916, Lewis Terman cùng các cộng sự ở trường đại hoc Stanford đã dich, va cải biên trắc nghiệm Binet — Simon để sử dụng ở Mỹ.
Các chuẩn mới cũng được xây dựng lại dựa trên các nhóm mẫu của trẻ em Mỹ. Trắc nghiệm nảy sau đó được gọi là trắc nghiệm Stanford — Binet. Với việc tạo được ảnh hưởng tốt, trắc nghiệm này nhanh chóng được phát triển tại Mỹ. Sau đó, nó cũng được trai qua các lần sửa chữa vào những năm 1937 và 1960.
[5] Trong thời gian thé chiến thứ 1, Hiệp hội Tâm ly học Mỹ cũng đã dùng các trắc nghiệm để phân biệt khả năng của các tân binh. Trên hai triệu tân binh đã được tiễn hành khảo sát với hai bộ trắc nghiệm ki hiệu là mẫu Alpha (dành cho người biết chữ) và mẫu Beta (dành cho người không biết chữ). Thể chiến cham dứt cũng là lúc những trắc nghiệm tri thông minh và trắc nghiệm tâm lý được phát triển nhanh và sử dụng rộng rãi. Đến năm 1904, Charles Spearman, một nhà tâm lý học người Anh đã phát minh ra một phương pháp thong kẻ dé phân tích những yêu tổ của một trắc nghiệm.
Sự ra đời của phương pháp nay và những phương pháp khác đã giúp cho việc soạn thảo và phân tích những nội dung trắc nghiệm trở nẻn chọn lọc hơn. Thời gian nảy cũng là lúc chứng kiến sự ra đời của những trắc nghiệm nhân cách (khoảng những thập ky 20, 30 của thé ky 20). [13] Năm 1939, nha tam ly học David Wechsler đã xây dựng một bộ trắc nghiệm công phu mang tính nhiều mặt vả tổng quát dùng để khảo sắt trí thông minh và năng lực nhận thức của trẻ. Do la thang Wechsler Bellevue (Wechsler Bellevue Scale).
Trắc nghiệm Wechsler được chia thành hai nhóm với nhiều tiêu nghiệm: nhóm trắc nghiệm ngôn ngữ (6 test) và nhóm phi ngôn ngữ (5 test). Mỗi tiểu nghiệm lại đo một năng lực khác nhau trong số những yeu to cau thành nên năng lực trí tuệ chung như ngôn từ, trí nhớ ngắn hạn, suy luận trừu tượng, tri giác. Trong những năm sau đó, Wechsler tiếp tục cải tiễn va đưa ra những bộ trắc nghiệm khác nhau dành cho các lửa tuôi khác nhau như WISC (The Wechsler Intelligence Scale for Children) dành cho trẻ em từ 5 đến 15 tuổi, WAIS (The Wechsler Adult Intelligence Scale} dành cho những người từ 16 tuổi trở lên, WPPSI (The Wechsler Pre — school and Primary Scale of Intelligence) dành cho trẻ em từ 4 đến 6 tuổi rưỡi. Những trắc nghiệm này được sử dụng khá rộng rãi trên thé giới.
Eysenck, một nha tâm lý học người Anh đã đưa vào lý thuyết nhân cách của mình các yếu tổ về tính thần kinh (dễ bị kích thích), tinh hướng ngoại — hướng nội, tính tâm than — tinh binh thường (6n định) va khang định những yếu tổ nhân cách có liên quan đến khả năng tri tuệ. Đến năm 1996, ông đưa ra một bộ trắc nghiệm gom 5 tiểu nghiệm: trắc nghiệm số, trắc nghiệm ngôn ngữ, trắc nghiệm suy luận trừu tượng, trắc nghiệm tri giác, trắc nghiệm tri giác không gian để đo lường trí tuệ cho lứa tuổi từ 10 đến 15 tuổi. [5] Nhìn nhận một cách tổng thé thi tir khi ra đời, các trắc nghiệm trí thông minh chỉ được áp dụng chủ yếu ở các quốc gia Tây Âu, Bắc Mỹ và các thuộc địa. Cho đến trước năm 1963, tại Liên Xô, việc sử dụng các trắc nghiệm dé do lường các yếu tổ tâm ly không may phát triển.
Các nha tâm lý học Xô Viết cho rằng việc dùng trắc nghiệm dé chan đoán các đặc điểm tâm lý cá nhân là không sang tạo, thiểu thông tin phản hoi và không có khả năng ứng dụng thực tế. Từ năm 1963 trở vẻ sau, việc sử dụng trắc nghiệm mới được khôi phục ở Liên Xỏ với mục đích kiểm tra kiến thức học sinh.23 Những nghiên cứu về trắc nghiệm tâm lý tại Việt Nam Trước năm 1975, tại miễn Bắc, vì lý do chiến tranh nên vẫn chưa có những nghiên cứu quy mô vẻ lĩnh vực trắc nghiệm tâm lý. Van dé nay cũng it được đẻ cập đến hoặc phần nhiều được nhắc đến dưới góc độ phê phán. Tuy vậy, cũng đã xuất hiện một số công trình nghiên cứu va ứng dụng trắc nghiệm vào một số lĩnh vực như việc ứng dụng các trắc nghiệm chân đoản tinh trạng trí lực của bệnh nhân tâm thân hay nghiên cứu ứng dụng trắc nghiệm vào việc danh gia kết quả học tập của sinh viên của trường Đại học Sư phạm Ha Nội.
Trắc nghiệm đầu tiên được cải biên và định chuẩn ở Việt Nam là trắc nghiệm Brunet - Lezin, dùng để do sự phát triển tâm vận động của trẻ em từ 0 đến 3 tuổi do bác sĩ Vũ Thị Chin và cộng sự thực hiện từ năm 1972 đến năm 1975, Sự xuất hiện của cuén “Khoa học chan đoán tâm lý” do phó giáo sư Tran Trọng Thủy sưu tập và biên soạn cũng đã giúp đưa ra một cái nhìn tổng quan về trắc nghiệm trong thời điểm bay giờ. [13] Tại miễn Nam, thời điểm nay, đã có sự xuất hiện của trung tâm trắc nghiệm Alexandre Rhode. Một số trường như Hồng Bảng, Lasan Taberd đã bắt đầu sử dụng một số trắc nghiệm trí thông minh trong việc tuyển chọn học sinh. Những giờ học về trắc nghiệm cũng đã được đưa vào chương trình giảng dạy của một số trường đại học như Đại học Sư phạm Sài Gỏn, Đại học Minh Đức.
Tuy vậy, những trắc nghiệm được sử dụng trong thời gian này vẫn là những trắc nghiệm chưa được cải biên cho phù hợp với người Việt Nam. Từ sau những năm 1975, việc nghiên cứu tric nghiệm ở Việt Nam bắt đầu được cải thiện theo hướng khoa học và quy mô hơn. Sự xuất hiện của các trung tâm nghiên cửu như trung tâm N - T (trung tâm nghiên cứu trẻ em) của bác sĩ Nguyễn Khắc Viện, hay phòng chan đoán tâm lý thuộc viện tâm lý học — sinh lý học lứa tuổi đã tạo điều kiện cho việc nghiên cứu và ứng dụng các trắc nghiệm vao thực tiễn. Một số trắc nghiệm đã được sử dụng sau khi cải biên vả định chuẩn như: trắc nghiệm trí tuệ đa dạng của Gille, trắc nghiệm tri tuệ của Wechsler.
[5] Tại miễn Nam, trong những năm gan đây, đã có nhiều công trình khoa học sử dụng trắc nghiệm để đo lường ngôn ngữ ở trẻ em với tư cách là một thành phan trí tuệ như: - Đề tài: “Dùng phương pháp trắc nghiệm đo lường một số biểu hiện sự phát triển nhận thức và ngôn ngữ của trẻ em mẫu giáo nhỡ và lớn tại một số trường Mam non ở Thanh pho H6 Chí minh” do Pho giáo su Tien sỹ Doan Van Diéu lam cha nhiém. - Luận văn Thạc sỹ của Nguyễn Thi Bich Phượng: “Tim hiểu mức độ phat trién ngôn ngữ của học sinh cudi bậc tiêu học thị xã Tây Ninh dưới góc độ Tâm ly học than kinh” năm 1988. - Đề tải nghiên cứu khoa học cấp cơ sở: “Cải biên và định chuẩn trac nghiệm ngỗn ngữ của Hans Eysenck dùng đo tri thông minh cho trẻ em từ 10 đến 15 tuổi tại thành phố Hồ Chi Minh” do Thạc sỹ Lê Thị Hân làm chủ nhiệm năm 2002. Cơ sở lý luận của vẫn đề nghiên cứu 2.1 Lý luận về trắc nghiệm 2.1 Khái niệm Trắc nghiệm, nguyên nghĩa vốn là để chỉ những phép thử, phép đo được sử dụng một cách rộng rãi trong sinh hoạt xã hội vả trong nhiều lĩnh vực khoa học.
Tuy nhiên, hiểu theo chiều ngược lại, không phải bất kì phép thử nào cũng có thé trở thành một phương pháp trắc nghiệm đáng tin cậy. Trong nghiên cứu tâm ly học, trac nghiệm được hiểu là những phép đo được xây dựng trên các hệ thong lý luận nên tảng, đã được chuẩn hóa, đáp ứng được các yêu câu về các thông số thống kê va đủ tin cậy để có thé trở thành công cụ giúp nhà nghiên cửu đo lường được các khia cạnh tâm ly của con người. Có thể xem trắc nghiệm là một biến dạng của thực nghiệm, mang tính chất đo lường và thử nghiệm, được xây dựng với mục đích xác định sự có hay không cỏ và mức độ của một năng lực tam ly. Có thé dẫn ra một số định nghĩa vẻ trắc nghiệm như sau: “Trắc nghiệm là một thử nghiệm tâm — sinh ly, đã được chuẩn hóa va thường được hạn chế về mặt thời gian, dùng để xác lập sự khác biệt giữa các cá nhẫn vẻ trí tuệ, nhân cách va những năng lực chuyên môn, theo mục đích thực tiễn của nha nghiên cứu”.