Tổng quan luận án

Thiểu sản vành tai (TSVT) là dị tật bẩm sinh phát sinh do sự phát triển bất thường của cấu trúc tai ngoài trong thời kỳ phôi thai. Tỷ lệ mắc bệnh trong quần thể dao động từ 1/7000 đến 1/8000, tương ứng với tỷ lệ từ 0,83 đến 17,4 trên 10.000 trẻ sơ sinh còn sống. Dị tật thường biểu hiện ở nam giới nhiều hơn nữ giới (khoảng 20–40%), phần lớn xuất hiện ở một bên (77–93%) và ưu thế ở bên phải (khoảng 60%). Dị tật không chỉ gây khiếm khuyết nặng nề về giải phẫu thẩm mỹ mà còn ảnh hưởng sâu sắc đến tâm lý, sự tự tin và khả năng hòa nhập xã hội của người bệnh. Trong các giải pháp can thiệp, phẫu thuật tái tạo bằng sụn sườn tự thân được xác định là phương pháp mang lại kết quả ổn định và tối ưu nhất.

Khoảng trống nghiên cứu tại Việt Nam cho thấy, dù kỹ thuật tạo hình vành tai 2 giai đoạn theo Nagata đã bắt đầu được triển khai, các công trình trước đây chủ yếu khảo sát riêng lẻ từng giai đoạn (như nghiên cứu thì 1 cấy sụn của Nguyễn Thị Vân Bình năm 2012, nghiên cứu thì 2 nâng sụn của Nguyễn Thùy Linh năm 2015) hoặc chưa đi sâu vào việc định lượng chi tiết hình thái nhân trắc học và cấu trúc giải phẫu của vành tai sau tạo hình. Luận án của nghiên cứu sinh Trần Thị Thu Hiền (2020) được thực hiện nhằm giải quyết khoảng trống này.

Mục tiêu nghiên cứu được xác định cụ thể trong văn bản:

  1. Đánh giá kết quả phẫu thuật tạo hình thiểu sản vành tai nặng theo kỹ thuật Nagata.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: 32 bệnh nhân được chẩn đoán thiểu sản vành tai nặng bẩm sinh (độ III và độ IV theo phân loại Hermann Marx), được phẫu thuật tạo hình vành tai hoàn thiện đủ 2 giai đoạn theo kỹ thuật Nagata.
  • Địa điểm nghiên cứu: Khoa Phẫu thuật Tạo hình Thẩm mỹ, Bệnh viện Tai Mũi Họng Trung ương.
  • Thời gian nghiên cứu: Trong vòng 3 năm, từ năm 2016 đến năm 2019 (gồm 15 bệnh nhân hồi cứu tiếp tục theo dõi tiến cứu và 17 bệnh nhân tiến cứu), thời gian tái khám đánh giá kết quả muộn sau giai đoạn 2 tối thiểu là 6 tháng.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan tài liệu của luận án đã hệ thống hóa toàn diện lịch sử nghiên cứu tạo hình vành tai trên thế giới và tại Việt Nam:

  • Lịch sử tạo hình vành tai thế giới: Ghi nhận từ năm 600 TCN trong tài liệu Sushruta Samhita (Sushruta sử dụng vạt má có cuống để tạo dái tai), thế kỷ XVI (Gaespare Tagliacozzi dùng vạt da cánh tay), năm 1845 (Dieffenbach tạo hình phần trên vành tai). Đến thế kỷ XX, Gillies (1920) và Pierce (1930) đặt nền móng cho việc sử dụng sụn sườn. Năm 1959, Tanzer thiết lập quy trình tạo hình vành tai bằng sụn sườn tự thân qua 4 giai đoạn. Năm 1974, Brent chuẩn hóa quy trình 4 giai đoạn gồm: tạo khung sụn, xoay dái tai, nâng khung sụn tạo rãnh sau tai, và tạo hình bình tai cùng hố xoăn. Năm 1985, Satoru Nagata cải tiến quy trình rút ngắn còn 2 giai đoạn phẫu thuật, tích hợp tạo hình bình tai và xoay dái tai ngay trong giai đoạn 1. Năm 1996, John Reinisch ứng dụng khung Polyethylene xốp (Medpor) tạo hình 1 thì. Thập niên 1950, Branemark giới thiệu kỹ thuật cấy ghép tai giả silicon cố định vào xương qua trụ neo.
  • Nghiên cứu giải phẫu và vạt che phủ: Gómez Díaz (2016) công bố bản đồ cấp máu vùng sau tai bởi động mạch tai sau (chiếm trên 93% nguồn cấp máu chính). Các tác giả Brown (1947), Converse và Tanzer (1964), Avelar (1992), Ou (2001) đã ứng dụng vạt da cân sau tai và vạt da ghép dày từ bẹn trong thì nâng vành tai.
  • Nghiên cứu tại Việt Nam: Nguyễn Thị Vân Bình (2012) nghiên cứu hình thái và kết quả cấy sụn giai đoạn 1; Nguyễn Thùy Linh (2015) đánh giá kết quả nâng khung sụn tạo rãnh sau tai giai đoạn 2; Lý Xuân Quang (2018) nghiên cứu kỹ thuật Nagata cải tiến; Lê Gia Vinh thiết lập các chỉ số nhân trắc học vành tai người Việt Nam trưởng thành.

Vị trí của luận án: Luận án tập trung chuyên sâu vào nhóm bệnh nhân thiểu sản vành tai mức độ nặng (Marx độ III và IV) được thực hiện toàn diện cả hai giai đoạn phẫu thuật theo đúng kỹ thuật Nagata, thiết lập hệ thống đánh giá chi tiết kết quả thẩm mỹ theo thang điểm chuẩn hóa Mohit Sharma, đo đạc nhân trắc học đối chiếu với tai lành và theo dõi các biến chứng lâm sàng tại 3 vùng can thiệp (ngực, tai, bẹn).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án dựa trên nền tảng phôi thai học, giải phẫu học ứng dụng và nhân trắc học vùng sọ mặt:

  • Cơ sở phôi thai học: Tai ngoài phát triển từ trung mô của khe mang thứ nhất và thứ hai từ tuần thứ 5 thai kỳ thông qua 6 gờ His (gờ 1, 2, 3 từ cung hàm dưới tạo bình tai, gờ luân nhĩ, hố trên xoăn tai; gờ 4, 5, 6 từ cung xương móng tạo hố dưới xoăn tai, gờ đối luân, gờ đối bình). Cấu trúc vành tai hoàn thiện hình dạng vào tuần thứ 18 và di chuyển từ vùng cổ lên vị trí sau xương hàm dưới vào tuần thứ 20. Đến 3 tuổi vành tai đạt 85% kích thước người lớn, sụn hoàn thiện lúc 5 tuổi và đạt kích thước trưởng thành vào khoảng 9 tuổi.
  • Nhân trắc học vành tai: Trục dọc vành tai nghiêng 15–20° so với phương thẳng đứng (song song sống mũi); góc vành tai - xương chũm bình thường từ 20–30° (nam: 10–30°, nữ: 2–20°), tương ứng khoảng cách gờ luân - chũm từ 15–20 mm; góc loa tai - xương sọ khoảng 90°; góc loa tai - hố thuyền từ 90–120°. Kích thước vành tai thanh niên Việt Nam theo Lê Gia Vinh là 62 ± 6 mm x 33 ± 3 mm (nam) và 57 ± 5 mm x 31 ± 3 mm (nữ).
  • Bệnh học lâm sàng: Phân loại dị tật theo Hermann Marx (4 độ) và Satoru Nagata (type dái tai, type loa tai, type loa tai nhỏ). Luận án khảo sát các hội chứng liên quan như OAVS (Oculo-Auriculo-Vertebral Spectrum), hội chứng Goldenhar, Treacher-Collins, Nager.

Phương pháp nghiên cứu:

  • Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu lâm sàng mô tả từng ca có can thiệp, đối chứng trước - sau.
  • Cỡ mẫu: Chọn mẫu thuận tiện gồm 32 bệnh nhân (15 ca hồi cứu chuyển tiếp và 17 ca tiến cứu) được thực hiện trong thời gian từ 2016 đến 2019.
  • Phương tiện nghiên cứu: Thước đo phẫu thuật Aspen, thước đo góc, máy ảnh y dụng, bộ dụng cụ chuyên dụng phẫu thuật lấy sụn sườn, bộ dụng cụ điêu khắc tạo khung sụn và chỉ thép cố định chuyên dụng.
  • Quy trình phẫu thuật 2 giai đoạn theo Nagata:
    • Giai đoạn 1: Thu hoạch sụn sườn số 6, 7, 8, 9 cùng bên tổn thương (bảo tồn màng sụn). Chế tác khung sụn 3 chiều theo phân loại Firmin: khớp sụn 6–7 tạo khối nền, sụn 8 tạo gờ luân và rễ luân, sụn 9 tạo gờ đối luân, sụn 6 hoặc 7 tạo phức hợp bình tai - đối bình; các thành phần khâu cố định bằng chỉ thép. Rạch da kiểu chữ "W" quanh dái tai, bóc tách tạo khoang dưới da, đưa khung sụn vào vị trí, xoay chuyển dái tai, đặt 2 ống dẫn lưu kín áp lực âm liên tục trong 48–72 giờ. Lưu mảnh sụn chêm chờ dưới da vùng ngực.
    • Giai đoạn 2 (thực hiện sau giai đoạn 1 tối thiểu 6 tháng): Rạch da cách rìa bờ tự do gờ luân 3 mm, bóc tách nâng toàn bộ khối khung sụn, lấy mảnh sụn chờ hình bán nguyệt chèn vào vùng chũm để duy trì độ nhô và góc vành tai. Sử dụng vạt cân sau tai (hoặc vạt cân thái dương đỉnh TPFF) bọc phủ sụn chêm, lấy mảnh da ghép dày từ vùng bẹn phủ kín mặt sau vành tai và diện khuyết da vùng chũm, cố định bằng băng ép bolster.
  • Thang điểm và chỉ số đánh giá: Thang điểm Mohit Sharma (đánh giá 13 chi tiết giải phẫu: gờ luân, rễ luân, hố thuyền, gờ đối luân, nhánh trên/nhánh dưới gờ đối luân, hố tam giác, hố trên xoăn, hố dưới xoăn, bình tai, khuyết gian bình, đối bình, dái tai), các chỉ số nhân trắc học so sánh trực tiếp với tai lành (chiều dài, chiều rộng, góc nhô, khoảng cách góc mắt - gờ luân, khoảng cách gờ luân - xương chũm, độ dày, màu sắc, tình trạng mọc lông tóc) và tỷ lệ biến chứng lâm sàng.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tài liệu

Chương 1 phân tích chi tiết cơ sở giải phẫu học, phôi thai học và nhân trắc học của vành tai người, đồng thời trình bày tổng quan bệnh học của tật thiểu sản vành tai. Tác giả tổng kết các yếu tố dịch tễ và nguy cơ gây dị tật bao gồm yếu tố môi trường (thuốc retinoids, thalidomide, mycophenolate mofetil; độ cao vùng núi như La Paz, Quito, Bogota) và yếu tố di truyền (tính chất gia đình chiếm từ 3–34%).

Chương này phân loại chi tiết các dạng lâm sàng theo Hermann Marx (độ I đến IV) và theo Nagata (type dái tai, type loa tai, type loa tai nhỏ), cùng các dị tật phối hợp trong phổ OAVS và hội chứng Goldenhar. Tác giả so sánh ưu nhược điểm của các phương pháp điều trị chính: phương pháp Brent (4 giai đoạn, thực hiện từ 6 tuổi, nguy cơ biến dạng lồng ngực 46,2% theo Dashan 2008), phương pháp Nagata (2 giai đoạn, chỉ định khi trẻ từ 10 tuổi hoặc vòng ngực > 60 cm, bảo tồn lồng ngực tốt hơn và tái lập giải phẫu rõ nét), cấy khung nhân tạo Medpor (1 thì, dùng từ 6 tuổi nhưng nguy cơ thải trừ cao) và phương pháp lắp tai giả silicon gắn trụ xương theo Branemark. Chương 1 khẳng định việc lựa chọn kỹ thuật Nagata bằng sụn sườn tự thân là giải pháp phù hợp với điều kiện thực tế tại Việt Nam.

Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Chương 2 mô tả chi tiết quy trình can thiệp lâm sàng trên 32 bệnh nhân thiểu sản vành tai nặng tại Bệnh viện Tai Mũi Họng Trung ương. Tác giả trình bày tường minh tiêu chuẩn chọn bệnh (TSVT độ III, IV theo Marx, mổ đủ 2 thì Nagata, tái khám sau thì hai ít nhất 6 tháng) và tiêu chuẩn loại trừ (đã phẫu thuật nơi khác, không theo kỹ thuật Nagata, không đồng ý tham gia).

Quy trình kỹ thuật được chuẩn hóa thành các bước rõ ràng từ khâu làm khuôn mẫu tai lành trên phim X-quang, xác định mốc nhân trắc học trên da vùng thái dương - chũm, kỹ thuật bộc lộ lấy sụn sườn 6, 7, 8, 9 giữ nguyên màng sụn mặt sau, nghệ thuật điêu khắc khung sụn 3 chiều theo Firmin, đường rạch chữ "W", kỹ thuật hút chân không bằng hệ thống dẫn lưu kín, cho đến kỹ thuật nâng khung sụn ở thì 2 bằng vạt cân sau tai phối hợp da ghép dày vùng bẹn. Toàn bộ các tiêu chí đánh giá sớm, muộn, thang điểm thẩm mỹ Mohit Sharma và quy trình kiểm soát sai số, đạo đức nghiên cứu y sinh học được trình bày đầy đủ.

Chương 3: Kết quả nghiên cứu

Chương 3 trình bày toàn bộ số liệu thu thập được từ 32 bệnh nhân qua các giai đoạn can thiệp và theo dõi:

  • Đặc điểm lâm sàng ban đầu: Tuổi phẫu thuật trung bình phù hợp với tiêu chuẩn phát triển lồng ngực; ưu thế gặp ở nam giới và bên tai phải; phần lớn là thiểu sản độ III theo Marx; đa số bệnh nhân có kèm theo tịt hoặc hẹp ống tai ngoài hoàn toàn; các dị tật phối hợp ghi nhận gồm thiểu sản xương hàm dưới, rò quanh tai, liệt dây thần kinh VII trung ương, khóe miệng rộng, tai gắn thấp và hội chứng Goldenhar.
  • Quá trình điều trị và biến chứng: Đa số bệnh nhân hoàn thành quy trình sau 2 lần mổ chính; khoảng cách thời gian giữa giai đoạn 1 và giai đoạn 2 đạt trên 6 tháng. Tác giả tổng hợp chi tiết các biến chứng sớm và muộn tại 3 vị trí can thiệp:
    • Vị trí lấy sụn sườn: Tỷ lệ biến chứng sớm (chảy máu, tràn khí màng phổi, thủng màng phổi, tụ dịch) ở mức thấp và được kiểm soát tốt; biến chứng muộn ghi nhận sẹo xấu (sẹo quá phát), không có biến dạng lồng ngực nặng.
    • Vị trí vành tai tái tạo: Biến chứng sớm gồm hoại tử một phần vạt da (xử trí bằng chăm sóc tại chỗ nếu < 2 mm hoặc chuyển vạt cân thái dương nếu > 5 mm), tụ máu/dịch; biến chứng muộn gồm sẹo quá phát, hiện tượng mọc lông tóc trên vạt da (được xử lý bằng triệt lông hoặc sửa sẹo).
    • Vị trí lấy da bẹn: Biến chứng chủ yếu là sẹo xấu tại nếp gấp bẹn.
  • Đánh giá hình thái và thẩm mỹ vành tai tái tạo: Các chỉ số chênh lệch về chiều dài, chiều rộng, trục vành tai, góc vành tai - xương chũm và khoảng cách góc mắt - gờ luân so với bên tai lành được duy trì ổn định. Vành tai tái tạo có độ dày lớn hơn tai lành, màu sắc da hòa nhập tốt. Về giải phẫu, các chi tiết gờ luân, gờ đối luân, dái tai, bình tai đạt tỷ lệ hiện diện cao; hố thuyền, hố tam giác và loa tai được tái lập rõ nét. Đánh giá chung theo thang điểm Mohit Sharma cho thấy đa số đạt kết quả tốt và rất tốt, tương ứng với tỷ lệ hài lòng cao từ phía người bệnh.
Nhóm chỉ số đánh giá Các thông số lâm sàng và thẩm mỹ chính Kết quả ghi nhận tại nghiên cứu
Đặc điểm mẫu (N = 32) Phân loại tổn thương theo Marx Chủ yếu độ III và độ IV (thiểu sản nặng)
Vị trí tổn thương Ưu thế tai phải; phần lớn bị 1 bên
Dị tật phối hợp Thiểu sản hàm dưới, tịt ống tai, rò quanh tai, liệt VII
Quy trình phẫu thuật Số thì phẫu thuật tiêu chuẩn 2 giai đoạn theo Nagata
Thời gian giãn cách giữa 2 thì Tối thiểu 6 tháng
Biến chứng lâm sàng Tại vùng ngực (nơi lấy sụn) Sẹo quá phát, tỷ lệ tổn thương màng phổi thấp
Tại vành tai tái tạo Hoại tử vạt da nhỏ, tụ dịch, mọc tóc vạt da
Tại vùng bẹn (nơi lấy da) Sẹo nếp gấp bẹn
Hình thái & Thẩm mỹ Trục và vị trí vành tai Ổn định, tương đồng với tai lành đối bên
Kích thước & Góc nhô Chênh lệch kích thước thấp; góc nhô chũm duy trì tốt
Độ dày vành tai Dày hơn vành tai lành đối bên
Đánh giá theo Mohit Sharma Phần lớn đạt mức tốt và rất tốt (10–12 chi tiết giải phẫu)
Mức độ hài lòng của BN Tỷ lệ hài lòng và rất hài lòng chiếm đa số

Chương 4: Bàn luận

Chương 4 tiến hành phân tích, biện luận các phát hiện lâm sàng và so sánh với y văn quốc tế:

  • Về độ tuổi và dịch tễ: Luận án phân tích sự phù hợp của độ tuổi can thiệp (từ 10 tuổi trở lên hoặc vòng ngực > 60 cm) theo quan điểm của Nagata, giúp đảm bảo đủ khối lượng sụn sườn số 6, 7, 8, 9 để điêu khắc khung sụn 3D mà không làm suy yếu khung lồng ngực hay gây biến dạng xương sườn như ở lứa tuổi nhỏ hơn trong kỹ thuật Brent.
  • Về kỹ thuật tạo hình và vạt che phủ: Tác giả thảo luận sâu về ưu thế của vạt cân sau tai (mastoid fascia flap) so với vạt cân thái dương đỉnh (TPFF) trong thì 2. Vạt cân sau tai có vị trí giải phẫu liền kề, kỹ thuật bộc lộ nhanh, cấp máu dồi dào từ động mạch tai sau (phù hợp bản đồ Gómez Díaz 2016), sẹo mổ giấu kín phía sau tai và đặc biệt không gây tổn thương nang tóc vùng thái dương đỉnh, hạn chế tối đa nguy cơ rụng tóc hay sẹo lộ.
  • Về xử trí các vấn đề kỹ thuật và biến chứng: Luận án thảo luận chi tiết nguyên nhân gây hoại tử vạt da (do vạt da bị bóc tách quá mỏng hoặc sức căng quá lớn khi phủ lên khung sụn), tầm quan trọng của hệ thống dẫn lưu áp lực âm liên tục 48–72 giờ giúp da dính sát vào từng gờ rãnh sụn, giải pháp triệt lông và cắt sửa vạt da khi có tóc mọc lấn vào mặt trước vành tai, cùng các yếu tố duy trì độ nhô của vành tai sau thì nâng sụn nhờ mảnh sụn chêm hình bán nguyệt. Tác giả đối chiếu kết quả thẩm mỹ theo Mohit Sharma với các nghiên cứu trong nước và quốc tế, khẳng định tính ổn định và tính khả thi của kỹ thuật Nagata tại Việt Nam.

Kết quả và những đóng góp mới

Những đóng góp mới của luận án được tác giả tổng kết trên cả phương diện lý luận và thực tiễn lâm sàng:

  1. Đóng góp về lý luận và khoa học: Hệ thống hóa đầy đủ cơ sở phôi thai học, giải phẫu ứng dụng, nhân trắc học và bệnh học dị tật vành tai ở người Việt Nam; cung cấp bộ dữ liệu lâm sàng toàn diện về đặc điểm hình thái và các dị tật sọ mặt phối hợp ở bệnh nhân thiểu sản vành tai nặng.
  2. Đóng góp về thực tiễn lâm sàng:
    • Chuẩn hóa và làm chủ hoàn toàn quy trình phẫu thuật tạo hình vành tai 2 giai đoạn theo kỹ thuật Nagata tại Bệnh viện Tai Mũi Họng Trung ương.
    • Chứng minh tính ưu việt của việc ứng dụng vạt cân sau tai kết hợp mảnh ghép da dày từ bẹn trong giai đoạn 2, giúp bảo tồn nguyên vẹn đường chân tóc vùng thái dương và che phủ vững chắc khối sụn chêm.
    • Đưa ra quy trình theo dõi, phát hiện và phác đồ xử trí hiệu quả các biến chứng lâm sàng tại 3 vị trí phẫu thuật (ngực, tai, bẹn), đặc biệt là xử lý hiện tượng lông tóc mọc trên vạt da và hoại tử da diện hẹp.
  3. Kiến nghị và giải pháp đề xuất: Tiếp tục triển khai thường quy kỹ thuật Nagata cho các trường hợp thiểu sản vành tai nặng; chỉ định phẫu thuật ở độ tuổi từ 10 tuổi trở lên hoặc khi vòng ngực đạt trên 60 cm; tuân thủ nghiêm ngặt kỹ thuật bảo tồn màng sụn khi lấy sụn sườn và bảo đảm hệ thống hút dẫn lưu kín liên tục sau mổ.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của nghiên cứu: Do thiểu sản vành tai là bệnh lý bẩm sinh hiếm gặp, nghiên cứu thực hiện trên cỡ mẫu thuận tiện gồm 32 bệnh nhân; thiết kế nghiên cứu kết hợp giữa nhóm bệnh nhân hồi cứu chuyển tiếp sang tiến cứu; thời gian theo dõi đánh giá kết quả muộn đạt mốc 6 tháng sau giai đoạn 2, cần thêm thời gian để đánh giá sự biến đổi lâu dài của khung sụn theo tuổi trưởng thành.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo: Tiếp tục mở rộng cỡ mẫu nghiên cứu tiến cứu đa trung tâm; kéo dài thời gian theo dõi dọc sau phẫu thuật từ 5 đến 10 năm để đánh giá độ tiêu sụn, độ ổn định của góc vành tai - xương chũm và sự phát triển của khung sụn theo thời gian; nghiên cứu cải tiến các đường rạch da nhằm hạn chế tối đa tình trạng mọc tóc trên vạt da và hoàn thiện các giải pháp chỉnh sửa sẹo thẩm mỹ.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu chuyên khảo có giá trị ứng dụng cao cho các đối tượng và đơn vị chuyên môn:

  • Bác sĩ chuyên khoa Tai Mũi Họng và Phẫu thuật Tạo hình Thẩm mỹ: Cung cấp bản hướng dẫn kỹ thuật chi tiết từ việc thiết kế khung sụn 3D, thao tác lấy sụn sườn 6, 7, 8, 9, đường rạch chữ "W", kỹ thuật bóc tách vạt cân sau tai, đến cách thức xử trí các biến chứng trong và sau phẫu thuật.
  • Học viên sau đại học, bác sĩ nội trú và nghiên cứu sinh: Là tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp nghiên cứu lâm sàng can thiệp tạo hình vùng đầu mặt cổ, phương pháp đánh giá nhân trắc học và thang điểm thẩm mỹ chuyên sâu.
  • Các cơ sở ngoại khoa chuyên sâu: Định hướng xây dựng quy trình kỹ thuật chuẩn và tiêu chuẩn an toàn phẫu thuật trong điều trị dị tật bẩm sinh vùng tai - sọ mặt.

Câu hỏi thường gặp

1. Phẫu thuật tạo hình vành tai theo kỹ thuật Nagata có những ưu điểm gì so với kỹ thuật của Brent?
Kỹ thuật Nagata rút ngắn quy trình điều trị từ 4 giai đoạn xuống còn 2 giai đoạn phẫu thuật, do tích hợp việc tạo hình bình tai, khuyết gian bình và xoay dái tai ngay trong giai đoạn 1. Kỹ thuật này giúp vành tai tạo hình có độ sâu loa tai và các gờ rãnh tự nhiên hơn, đồng thời giảm thiểu nguy cơ biến dạng thành ngực do bảo tồn tốt màng sụn khi lấy sụn sườn ở lứa tuổi lớn hơn.

2. Độ tuổi và điều kiện thể chất thích hợp nhất để thực hiện kỹ thuật Nagata là gì?
Phẫu thuật được chỉ định thích hợp khi bệnh nhân từ 10 tuổi trở lên hoặc khi chu vi vòng ngực đạt trên 60 cm. Ở độ tuổi và kích thước này, khối lượng sụn sườn số 6, 7, 8, 9 đã phát triển đủ kích thước để điêu khắc khung sụn 3D mà việc lấy sụn không gây ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển của lồng ngực.

3. Khung sụn vành tai trong giai đoạn 1 của kỹ thuật Nagata được tạo thành từ các xương sụn sườn nào?
Khung sụn được chế tạo từ sụn sườn số 6, 7, 8, 9 cùng bên: phần tiếp hợp sụn sườn số 6 và 7 làm khối khung nền; sụn sườn số 8 được dùng làm gờ luân và rễ gờ luân; sụn sườn số 9 tạo thành các nhánh của gờ đối luân; phức hợp bình tai và đối bình được lấy từ sụn sườn số 6 hoặc 7 nơi có độ dày thích hợp. Các mảnh sụn được cố định vững chắc bằng chỉ thép chuyên dụng.

4. Vạt cân sau tai có ưu điểm gì so với vạt cân thái dương đỉnh (TPFF) trong giai đoạn 2?
Vạt cân sau tai nằm ngay sát vùng phẫu thuật giúp thao tác lấy vạt thuận tiện, sẹo mổ giấu kín ở nếp sau tai, không gây tổn hại đến nang tóc vùng da đầu (tránh nguy cơ mất tóc vùng thái dương đỉnh) và được cấp máu phong phú bởi động mạch tai sau, bảo đảm nuôi dưỡng tốt cho cả mảnh sụn chêm và mảnh da ghép.

5. Biến chứng hoại tử vạt da tại vành tai tái tạo được xử trí như thế nào?
Nếu vùng hoại tử nhỏ (khoảng 1–2 mm), tổn thương được điều trị bảo tồn bằng bôi thuốc mỡ kháng sinh, đắp gạc ẩm và theo dõi biểu mô hóa tự nhiên. Nếu diện tích hoại tử lớn (> 5 mm) gây lộ khung sụn, phẫu thuật viên phải can thiệp sử dụng vạt cân cơ thái dương chuyển xuống để che phủ và bảo tồn khung sụn.

Kết luận

Luận án của nghiên cứu sinh Trần Thị Thu Hiền là công trình nghiên cứu lâm sàng chuyên sâu, đánh giá toàn diện kết quả phẫu thuật tạo hình thiểu sản vành tai nặng (độ III, IV theo Marx) bằng kỹ thuật Nagata 2 giai đoạn tại Bệnh viện Tai Mũi Họng Trung ương. Kết quả nghiên cứu khẳng định kỹ thuật Nagata sử dụng sụn sườn tự thân kết hợp vạt cân sau tai và da ghép dày mang lại kết quả thẩm mỹ cao về hình thái, vị trí, kích thước và các chi tiết giải phẫu theo thang điểm Mohit Sharma, đồng thời duy trì tỷ lệ biến chứng thấp. Công trình đóng góp cơ sở dữ liệu quan trọng và hoàn thiện quy trình phẫu thuật tạo hình vành tai chuyên sâu trong chuyên ngành Tai Mũi Họng và Phẫu thuật Tạo hình Thẩm mỹ tại Việt Nam.