Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Phôi thai học và giải phẫu ứng dụng của vành tai 1. Phôi thai học 1. Sự phát triển bình thường của vành tai - Tai ngoài bao gồm có vành tai và ống tai ngoài, phát triển từ lớp trung mô của khe mang thứ nhất và khe mang thứ hai.
Vành tai được hình thành từ 6 gờ lồi (còn gọi là gờ His). Vào tuần lễ thứ 5 của thời kỳ bào thai, 3 gờ lồi phát sinh từ cung hàm dưới (gờ lồi 1,2,3) và 3 gờ lồi còn lại từ cung xương móng (gờ lồi 4,5,6) ở phần đối diện của khe mang thứ nhất [8-10]. - Những gờ lồi này có mối liên quan đặc hiệu với những cấu trúc đặc biệt của vành tai. Khoảng tuần lễ thứ 12 giai đoạn các gờ lồi này hòa với nhau tạo nên vành tai có cấu trúc xác định [11].
Ba gờ lồi thuộc cung hàm dưới góp phần tạo thành bình tai, gờ luân nhĩ và loa tai. Những gờ lồi thuộc cung xương móng thì góp phần hình thành hầu hết các phần của vành tai người lớn, tức là những bộ phận còn lại không xuất phát từ cung hàm dưới. Gờ lồi thứ nhất và thứ sáu thì giữ nguyên vị trí hằng định, đánh dấu vị trí hình thành lần lượt của bình tai và gờ đối bình. Gờ lồi thứ tư và thứ năm thì phát triển lan rộng và xoay ngang qua đầu sau của khe mang thứ nhất, từ đó phát sinh ra phần trước và trên của gờ luân nhĩ và phần kế cận của thân vành tai.
Những nghiên cứu ức chế phát triển đã chứng minh rằng phần vành tai xuất phát từ cung hàm dưới chỉ tạo thành bình tai và rễ trước của gờ luân nhĩ. Vành tai và ống tai ngoài thì khởi thủy nằm ở phía trước (phía bụng) của đầu, về sau mới di chuyển ra phía sau (phía lưng) và phía trên. Di chuyển xa hơn nữa thì ống tai ngoài và hòm nhĩ nguyên thủy sẽ tới gần mức mà vành tai di chuyển tới, và các phần tai ngoài, tai giữa, tai trong 4 sẽ gắn liền với nhau. Lúc đầu vành tai nằm ở phần thấp của cổ, sau đó vì xương hàm dưới phát triển ra trước và sau làm cho vành tai trở nên ở vị trí phía sau xương hàm dưới [12, 13].
Việc di chuyển này xảy ra ở tuần thứ 20 [11]. Các thành phần của gờ His cấu tạo nên vành tai [12] Cung mang Gờ His Thành phần vành tai 1 1 Bình tai (cung hàm dưới) 2 Gờ luân nhĩ 3 Hố trên xoăn tai 2 4 Hố dưới xoăn tai (cung xương móng) 5 Gờ đối luân 6 Gờ đối bình Vành tai đạt được hình dạng chính giống của người lớn vào khoảng tuần thứ 18. Đến 3 tuổi vành tai đạt 85% kích thước của người lớn và sụn vành tai hầu như hoàn thiện khi 5 tuổi, mặc dù nó vẫn tiếp tục phát triển cho đến khoảng 9 tuổi thì đạt kích thước như người lớn [8, 14]. Sự phát triển của tai ngoài [12] (A) : Giai đoạn thai được 6 tuần: gờ lồi 1, 2, 3 phát sinh từ cung hàm dưới, gờ lồi 4, 5, 6 phát sinh từ cung xương móng.
(B) : Vành tai trong quá trình phát triển. (C) : Vành tai ở trẻ sơ sinh: 1. Rễ luân nhĩ, 3, 4,5. Gờ luân nhĩ, 6.
Đối bình tai. 5 TSVT xảy ra khi có vấn đề bất thường trong quá trình phát triển của tai ở thời kì phôi thai. Vì vành tai và ống tai ngoài thuộc cùng một nguồn gốc phôi thai học nên bất thường vành tai thường đi kèm bất thường của ống tai ngoài với các mức độ khác nhau. Tai bất thường với nụ thịt thừa trước tai [12] Trong hình ảnh trên ta cũng nhận thấy có đường lõm nhẹ và 1 phần hơi lồi lên dọc theo xương hàm dưới.
Di tích này cho thấy đường di chuyển của tai trong thời kỳ bào thai từ vùng cổ lên vùng đầu theo sự phát triển của xương hàm dưới [12]. Giải phẫu ứng dụng vành tai 1. Hình thể ngoài: Vành tai gồm có 2 mặt trước và sau. Mặt sau vành tai: tương đối phẳng, gồm có hai bờ là bờ trước (dính vào thành bên của đầu tạo thành rãnh sau tai) và bờ sau là bờ tự do.
- Mặt trước vành tai: cấu tạo rất phức tạp gồm những chỗ lồi và những chỗ lõm. Ở mặt trước, da vành tai dính chặt vào khung sụn và không có tổ chức dưới da. Giữa da và màng sụn chỉ có đám rối mao mạch dưới da. Còn ở mặt sau da vành tai dính lỏng lẻo hơn vào màng sụn và giữa chúng có lớp mỡ dưới da, nên da mặt sau vành tai có thể di chuyển dễ dàng hơn mặt trước.
Mặt trước vành tai phải [15] 1 8 1. Nhánh trên của gờ đối luân; 2 2. Nhánh dưới của gờ đối luân; 3 9 3. Hố trên xoăn tai(concha cymba); 6 6.
Hố dưới xoăn tai (concha 7 11 cavum); 7. Hố tam giác; 9. Gờ đối bình. Những chỗ lồi: bao gồm có gờ luân nhĩ, gờ đối luân, bình tai và gờ đối bình [16].
Gờ luân nhĩ (helix): Là phần chính của rìa vành tai, nó xuất phát từ rễ luân ở sau trên của ống tai ngoài chạy 1 vòng kiểu xoắn ốc xuống dưới để liên tiếp với dái tai. Gờ luân chiếm khoảng 2/3 bờ tự do của vành tai. - Gờ luân có thể được chia thành 3 phần: Gờ luân lên (the ascending helix) là phần từ rễ gờ luân đi thẳng lên trên; Gờ luân trên (the superior helix) bắt đầu từ đỉnh của phần gờ luân lên đi sang ngang và cong ra phía sau tới chỗ củ Darwin; Gờ luân xuống (the descending helix) bắt đầu từ dưới củ Darwin đi xuống tới giới hạn trên của dái tai. Phần dưới của đoạn gờ luân xuống thường không có sụn.
- Rễ gờ luân: là phần tiếp theo của phần trước dưới gờ luân lên đi xuống phía sau dưới vào hố xoăn tai, ngay phía trên ống tai ngoài. Chiều dài trung bình rễ gờ luân thường khoảng 2/3 chiều rộng hố xoăn tai. Gờ đối luân (anti-helix): Hình chữ Y, đi từ gờ đối bình và ngăn cách hố xoăn tai, hố tam giác và hố thuyền. Gờ đối luân gồm 1 thân chữ Y (stem) và 2 nhánh chữ Y: nhánh trên (superior crus) và nhánh dưới (inferior crus).
- Nhánh trên: ngăn cách hố thuyền với hố tam giác, thường chạy lên trên và hơi ra trước, hình thái không rõ nét bằng nhánh dưới. - Nhánh dưới: ngăn cách hố xoăn tai và hố tam giác, thường chạy ra trước và hơi lên trên, hình thái thường mảnh, rõ nét, ít có đa dạng hình thái hơn nhánh trên. Bình tai (tragus): Chính là thành trước của ống tai ngoài, nó có hình tam giác với cấu tạo gồm 1 mảnh sụn được bao phủ bởi da và 1 ít tổ chức mỡ dưới da. Bờ sau dưới của bình tai tạo nên thành trước của khuyết gian bình.
Gờ đối bình (anti tragus): là một gờ nhỏ liên tiếp với gờ đối luân, đối diện với bình tai qua ống tai ngoài (nên còn gọi là gờ đối bình). Bờ trước trên của gờ đối bình tạo nên thành sau của khuyết gian bình. Những chỗ lõm: gồm có hố thuyền, hố tam giác, loa tai và hố xoăn tai hay loa tai. Hố thuyền (Scapha): hay còn gọi là rãnh luân, là 1 rãnh nhỏ nằm giữa gờ luân và gờ đối luân.
Hố tam giác (triangle fossa): là phần có hình tam giác nằm giữa rễ trước và rễ sau của gờ đối luân. Hố xoăn tai hay loa tai (concha): Là phần lõm sâu nhất nằm ngay phía sau của ống tai ngoài, bao xung quanh bởi: bình tai, khuyết gian bình, gờ đối bình, gờ đối luân, nhánh dưới gờ 8 đối luân và rễ gờ luân. Nó thường được rễ gờ luân chia làm 2 phần: hố trên xoăn tai (cymba) và hố dưới xoăn tai (cavum). Dái tai: Là phần dưới của vành tai, tiếp nối phía sau trên với phần gờ luân xuống, phía trước trên với gờ đối bình và phía trên với khuyết gian bình.
Phần này không có tổ chức sụn, có chiều cao bằng khoảng 1/5 chiều cao của vành tai, với hình dáng thay đổi ở từng cá thể. Nhân trắc học vành tai: rất quan trọng trong THVT Vành tai nằm ở 2 bên của đầu, có liên quan với khớp thái dương hàm và vùng tuyến mang tai ở phía trước, xương chũm ở phía sau và vùng thái dương ở phía trên. Vành tai giống như 2 chiếc lá với phần tự do mở ra phía sau, tạo với bề mặt xương chũm một góc khoảng 20 - 30o (góc vành tai xương chũm). Góc này khác nhau giữa nam và nữ (nam: từ 10 - 30o, nữ: từ 2 - 20o).
Ngoài ra còn có góc tạo bởi loa tai và bề mặt ngoài xương sọ (bình thường khoảng 90 o) và góc tạo bởi hố thuyền – loa tai (bình thường khoảng 90o - 120o). Trước khi phẫu thuật THVT, ngoài việc đánh giá kỹ lưỡng các cấu trúc bị biến dạng còn cần xem xét các góc nói trên. Nếu góc loa tai - bề mặt ngoài xương sọ lớn hơn 90o hoặc góc vành tai - xương chũm lớn hơn 40o sẽ làm cho kích thước của loa tai lớn. Nếu góc loa tai - hố thuyền lớn hơn 120o sẽ làm mất gờ đối luân.
Khi đó, khoảng cách giữa gờ luân và mặt xương chũm sẽ lớn hơn 25mm [18]. Các góc của vành tai [17] (A) : Góc giữa vành tai - xương chũm: 20 - 30o(tương ứng với khoảng cách giữa gờ luân và mặt ngoài xương chũm là 15- 20 mm) (1) Góc giữa loa tai - bề mặt ngoài xương sọ: 90o (2) Góc giữa loa tai - hố thuyền: 90 - 120o (3) (B) : Bất thường: (2), (3) đều tù và lớn hơn 120o, (1) lớn hơn 40o, tương ứng khoảng cách giữa gờ luân và mặt ngoài xương chũm lớn hơn 25 mm - Giới hạn của vành tai bình thường [18]: + Phía trên: không cao quá đường thẳng kẻ ngang qua lông mày. + Phía dưới: không thấp hơn đường thẳng kẻ ngang qua chân mũi. + Trục dọc của vành tai: là đường thẳng nối đỉnh cao nhất của vành tai với điểm thấp nhất của dái tai, đường này thường tạo với phương thẳng đứng 1 góc 15 - 20o và song song với trục của sống mũi.
+ Trục trước vành tai tương ứng với bờ sau của ngành lên xương hàm dưới (Hình 1. Vị trí, hướng và kích thước của vành tai [19] 1. Trục dọc của vành tai, 2. Giới hạn dưới: nằm trên đường thẳng kẻ ngang qua chân mũi, 3.
Giới hạn trên: nằm trên đường thẳng kẻ ngang qua cung mày, 4. Đường thẳng đứng dọc đi qua bờ ngoài ổ mắt và cách bờ trước của rễ luân nhĩ 65- 70 mm, 5.