Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Định nghĩa các bệnh lây truyền qua đường tình dục 1. Sùi mào gà Sùi mào gà sinh dục là một bệnh lây truyền qua đường tình dục hay gặp, do Human papilloma virus (HPV) gây nên. Hầu hết người nhiễm HPV không có biểu hiện lâm sàng, tỷ lệ có triệu chứng chỉ khoảng 1 - 2%.
HPV thuộc nhóm có DNA, nhân lên trong tế bào thượng bì. Có ít nhất 35 týp HPV gây bệnh ở sinh dục, týp 6 và 11 chiếm tới 90%. Các týp 16, 18, 31, 33 và 35 có thể gây loạn sản tế bào và gây ung thư. Các yếu tố thuận lợi cho nhiễm HPV là các đối tượng có nhiều bạn tình mắc các STD khác.
Virus xâm nhập vào niêm mạc sinh dục qua các thương tổn nhỏ ở thượng bì và nằm ở lớp tế bào đáy. HPV có thể lây truyền cho trẻ sơ sinh qua đường sinh dục của mẹ, gây u nhú ở thanh quản [2], [37]. Herpes sinh dục Herpes sinh dục là một bệnh phổ biến qua đường tình dục ảnh hưởng đến cả nam giới và phụ nữ. Các triệu chứng của herpes sinh dục bao gồm nổi mụn nước li ti, ngứa và lở loét ở vùng sinh dục.
Nguyên nhân của herpes sinh dục là một loại Herpes simplex virus (HSV), đi vào cơ thể thông qua chia nhỏ trong da hoặc màng nhầy. Quan hệ tình dục là cách thức chính mà các virus lây lan. Bệnh này hay tái phát, có thể gây bối rối và đau khổ về tình cảm. Mặc dù có herpes sinh dục là không có lý do để tránh quan hệ tình dục hoặc từ bỏ mối quan hệ.
Nếu hoặc đối tác bị nhiễm, có thể quản lý sự lây lan của HSV bằng cách tiến hành các bước để bảo vệ mình và đối tác [30]. Giang mai Giang mai là một bệnh nhiễm khuẩn, lây truyền chủ yếu qua đường tình dục nhưng có thể lây qua đường máu, đường mẹ sang con và đường tiếp xúc trực tiếp với các thương tổn giang mai có loét. Bệnh diễn biến nhiều năm (10, 20, 30 năm có khi cả đời), có lúc rầm rộ, có những thời kỳ ngấm ngầm không có triệu chứng gì làm cho người bệnh lầm tưởng là đã khỏi và có thể lây truyền cho thế hệ sau. Nếu không được điều trị bệnh có thể xâm nhập vào tới cả các phủ tạng đặc biệt là da, tim mạch, thần kinh trung ương gây nhiều biến chứng rất nặng, có nhiều hình thái lâm sàng khác nhau nên chẩn đoán cũng rất khó khăn.
Bệnh ảnh hưởng tới sức khoẻ bệnh nhân thậm chí gây tử vong hoặc tàn phế suốt đời nếu không được điều trị kịp thời. Nó ảnh hưởng trầm trọng đến sức khoẻ và sự phát triển nòi giống của dân tộc [2], [31]. Bệnh lậu Là một bệnh nhiễm khuẩn lây truyền qua đường tình dục, tương đối phổ biến (chiếm 3-15% trong tổng số các bệnh lây truyền qua đường tình dục), căn nguyên do vi khuẩn Neisseria gonorhoeae, triệu chứng lậu cấp điển hình là đái buốt, đái ra mủ, nhưng phần lớn bệnh nhân đến khám là lậu mạn tính với các triệu chứng không điển hình, bệnh có thể để lại nhiều biến chứng cho người bệnh [4]. Viêm âm đạo do nấm Candida Nấm Candida là loại nấm men tồn tại và phát triển trong những môi trường ấm ướt, có thể tồn tại ở ngay trên những vùng da đang khỏe mạnh.
Bởi thế, bộ phận sinh dục của phụ nữ rất dễ bị nhiễm nấm này nếu như để nó trong tình trạng quá ẩm ướt ở thời gian lâu. Thực tế thì trong âm đạo vẫn luôn tồn tại một lượng nhỏ nấm men này và bị kiềm chế bởi vi khuẩn có lợi. Khi 5 loại nấm men này phát triển quá mức mới gây ra những điều phiền toái cho phụ nữ [4], [52]. Viêm âm đạo do trùng roi Viêm âm đạo do Trichomonas là bệnh lây truyền trực tiếp khi quan hệ tình dục qua đường âm đạo.
Ngoài ra, trùng roi có thể sống ở da trong nhiều giờ, trong băng vệ sinh, sẽ lây truyền khi có sự tiếp xúc, hoặc lây truyền gián tiếp qua nước rửa, nước bể tắm, bể bơi. Trichomonas rất nhạy cảm với môi trường khô hanh [36]. Nhiễm Chlamydia Chlamydia là một bệnh do vi khuẩn của đường sinh dục mà lây lan dễ dàng qua đường tình dục. Có thể không biết có Chlamydia bởi vì các dấu hiệu và triệu chứng của đau và chảy chất dịch không hiển thị ngay lập tức.
Nhiều người không có dấu hiệu và triệu chứng [5], [25]. Bệnh HIV/AIDS HIV là tên gọi tắt của một loại Human immuno deficiency virus gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở con người (Acquired immuno deficiency syndrome-AIDS). Như vậy, nhiễm HIV là tiền đề để dẫn đến AIDS, nhưng từ khi nhiễm HIV cho đến khi phát triển AIDS cần một thời gian nhất định không giống nhau ở mỗi người, từ vài tháng cho đến 15 năm. Các bác sĩ thường dùng cụm từ AIDS để chỉ những trường hợp HIV đã phát triển và gây ra hiện tượng suy yếu miễn dịch cho bệnh nhân [11], [12].
Lịch sử các bệnh lây truyền qua đường tình dục Ở Châu Âu người ta cho rằng bệnh lan truyền do Christopho Colombo cùng 44 thuỷ thủ mang bệnh từ Haiti về Tây Ban Nha và sau do bệnh lan thành dịch ở Châu Âu vào đầu thế kỷ XVI. 6 Ở Việt Nam bệnh xuất hiện thời kỳ nào cũng chưa xác định rõ. Có thuyết cho rằng bệnh có từ lúc binh lính của Gia Long viễn chinh sang Xiêm La (Thái Lan) mang bệnh về (thế kỷ XVIII) vì vậy mới có tên là bệnh tiêm la. Sự thực bệnh giang mai có từ đời thượng cổ vì trong tài liệu của Trung Quốc, Ấn Độ, Hy Lạp người ta đã mô tả những thương tổn ở xương người giống hệt căn bệnh giang mai [4].
HIV được phát hiện lần đầu tiên vào năm 1981, cho đến cuối thập niên 1980 đã có khoảng 100.000 người đã được chẩn đoán là mắc bệnh AIDS, và khoảng một nửa trong số đó đã tử vong. Đến năm 2003, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) cho biết đã có khoảng 40 triệu người trên toàn thế giới hiện đang sống trong tình trạng nhiễm HIV hoặc đã tiến triển thành bệnh AIDS, trong số đó có khoảng 2,5 triệu trẻ em dưới 15 tuổi. Tổ chức này cũng ước tính là từ năm 1981 cho đến cuối năm 2002 có khoảng 20 triệu người đã chết vì bệnh AIDS, trong đó có khoảng 4,5 triệu trẻ em dưới 15 tuổi. Chỉ riêng trong năm 2003 đã có đến 3 triệu người chết vì bệnh AIDS và thêm 5 triệu người nhiễm HIV.
HIV/AIDS đã thực sự trở thành một thảm họa khủng khiếp cho toàn nhân loại [57]. Dịch tễ học Ở Việt Nam trước năm 1945 và trong thời kỳ Pháp tạm chiếm cho đến năm 1954, bệnh giang mai đứng hàng thứ 2 sau lậu. Phần nhiều bệnh nhân tự chữa hoặc đến thầy thuốc tư nhân nên số liệu không chính xác [34], [45] Từ 1956-1964 ở Miền Bắc giải phóng, đời sống ổn định, ở các nhóm có nguy cơ cao được kiểm tra. Đã phát hiện trong những năm đầu là 1000-1500 trường hợp mỗi năm.
Số lượng giảm dần, cho đến 1963 - 1964 mỗi năm chỉ phát hiện khoảng 20 ca (tỷ lệ so với dân số lúc đó là 0,01/1000). Bệnh giang mai cũng như các bệnh lây truyền qua đường tình dục khác đã giảm 10 lần so với năm 1954. 7 Từ 1965-1975 là thời kỳ chiến tranh, trật tự và nếp sống bị đảo lộn, tâm lý sinh hoạt không bình thường, y tế khó khăn, các bệnh hoa liễu tăng lên ở miền Bắc và đặc biệt đến năm 1975 khi đất nước được thống nhất, số người bị mắc bệnh giang mai đã lên tới 160.000 ca, tỷ lệ là 5/1000 (so với tổng số dân lúc đó là 45 triệu). Số gái mãi dâm tăng, ở thành phố Hồ Chí Minh khoảng 30.
Tỷ lệ giang mai bẩm sinh: 1,25%. Tỷ lệ sản phụ bị giang mai: 4,5%. Từ 1975 đến 1990, mỗi năm ngành Da liễu điều trị cho khoảng 10.000 bệnh nhân giang mai. Số liệu này còn có thể nhiều hơn vì bệnh nhân tự chữa hoặc không đến các cơ sở y tế của nhà nước để có số liệu thống kê chính xác [33].
* Bệnh lậu Tuổi của bệnh nhân: gặp ở mọi lứa tuổi từ sơ sinh đến người cao tuổi, nhưng thông thường lứa tuổi trẻ hoạt động tình dục mạnh, nam và nữ đều có thể bị bệnh, ở nữ giới tỷ lệ bệnh lậu không có triệu chứng nhiều hơn nam. Người bệnh là nguồn duy nhất của bệnh lậu (lây truyền qua hoạt động tình dục đồng giới hoặc khác giới, lây từ mẹ sang con trong giai đoạn chuyển dạ và đẻ). Vi khuẩn lậu bắt màu Gram (-), nằm trong tế bào bạch cầu đa nhân, đứng từng đôi một, khi lậu cấp tính thường có hình ảnh rõ, khi lậu mạn thường phải nuôi cấy để chẩn đoán xác định (nuôi cấy trong môi trường thạch máu có CO2), dùng hình ảnh đại thể và phân lập trên môi trường đường để xác định vi khuẩn lậu [23]. * Chlamydia Chlamydia là một trong những bệnh phổ biến nhất các bệnh qua đường tình dục tại Hoa Kỳ.
Mỗi năm, ước tính khoảng 4.000 người tại Hoa Kỳ bị nhiễm Chlamydia. Căn bệnh này ảnh hưởng đến cả nam và nữ và xảy ra ở 8 mọi nhóm tuổi, mặc dù Chlamydia là phổ biến nhất trong số các thanh thiếu niên Mỹ [25]. Sùi mào gà Lâm sàng thường thấy có những nốt u ở da, niêm mạc ở âm hộ, môi lớn, môi bé, âm đạo, cổ tử cung, ở hậu môn, có 1 chân nhiều nụ sùi, khối u sùi này to nhanh theo thời gian. Ban đầu có thể chỉ có 1 u sùi, nhưng về lâu dài sẽ có nhiều khối u sùi.
Các đối tượng có quan hệ tình dục đường miệng thì niêm mạc môi, má cũng có thể hay gặp. Cận lâm sàng: - Test HPV: khẳng định bạn bị nhiễm virus HPV, định týp HPV nguy hiểm, có khả năng gây ung thư hóa cao (týp 16, 18). - Các xét nghiệm khác: phục vụ cho quá trình điều trị. - Giải phẫu bệnh: khi có chỉ định cắt u nhú triệt căn, lấy khối u đó làm giải phẫu bệnh.
Cần chẩn đoán phân biệt với nhưng biểu hiện lành tính sau: - Tuyến bã lạc chỗ. - Tiền đình u nhú Papillomatis ở nữ giới. - U Condylom do xoắn khuẩn giang mai gây ra [3], [4]. Herpes sinh dục Bác sĩ thường có thể chẩn đoán Herpes sinh dục dựa trên khám lâm sàng và kết quả xét nghiệm nhất định: Kiểm tra virus, bao gồm việc lấy mẫu mô hoặc cào của các vết loét để kiểm tra trong phòng thí nghiệm.
Kiểm tra này phân tích một mẫu máu cho sự hiện diện của kháng thể HSV để phát hiện bệnh Herpes.