Chương 1 LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ KẾT HÔN CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI 1. Khái niệm, phân loại kết hôn có yếu tố nước ngoài 1. Kết hôn có yếu tố nước ngoài Kết hôn có yếu tố nước ngoài là việc nam, nữ xác lập quan hệ vợ chồng theo quy định của pháp luật về các điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài. Theo quy định tại Điều 663 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định như sau: Quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài là quan hệ dân sự có ít nhất một trong các bên tham gia là cá nhân, pháp nhân nước ngoài; người Việt Nam định cư ở nước ngoài hoặc là quan hệ dân sự giữa các bên tham gia đều là công dân Việt Nam, pháp nhân Việt Nam nhưng việc xác lập, thay đổi, thực hiện hoặc chấm dứt quan hệ đó xảy ra tại nước ngoài; hoặc quan hệ giữa các bên tham gia đều là công dân Việt Nam, pháp nhân Việt Nam nhưng đối tượng của quan hệ dân sự đó ở nước ngoài.
Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài tại khoản 25 Điều 3 như sau: “Quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài là quan hệ hôn nhân và gia đình mà ít nhất một bên tham gia là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài; quan hệ hôn nhân và gia đình giữa các bên tham gia là công dân Việt Nam nhưng căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài”. Như vậy, kết hôn có yếu tố nước ngoài gồm có những trường hợp sau: Quan hệ hôn nhân giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài hoặc giữa người nước ngoài với nhau cư trú tại Việt Nam. Trường hợp thứ nhất một bên là công dân Việt Nam, một bên là người nước ngoài. Công dân Việt 7 luan an Nam khi tham gia quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài phải có đủ năng lực hành vi theo pháp luật Việt Nam, còn người nước ngoài phải có đầy đủ năng lực hành vi theo quy định của nước mà người đó là công dân hoặc nước người đó đang thường trú, đồng thời họ phải đảm bảo đầy đủ năng lực pháp luật theo quy định của pháp luật Việt Nam.
Căn cứ vào khoản 5 điều 3 Luật Quốc tịch năm 2008, được sửa đổi bổ sung năm 2014 quy định: “Người nước ngoài là công dân nước ngoài và người không quốc tịch”. Người nước ngoài tại Việt Nam có năng lực pháp luật dân sự như công dân Việt Nam, trừ trường hợp pháp luật Việt Nam có quy định khác ( Điều 673). Năng lực hành vi dân sự của cá nhân là người nước ngoài được xác định theo pháp luật của nước mà người đó có quốc tịch trừ trường hợp pháp luật có quy định khác (Điều 674). Quan hệ kết hôn giữa công dân Việt Nam với nhau xác lập ở nước ngoài cũng là quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài nhưng không thuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài.
Các chủ thể tham gia quan hệ kết hôn, họ đều mong muốn việc kết hôn của mình được pháp luật công nhận, muốn việc kết hôn là hợp pháp thì phải thỏa mãn các điều kiện về kết hôn và nghi thức kết hôn, tức là việc kết hôn đó phải được cơ quan nhà nước có thầm quyền đăng ký và cấp Giấy chứng nhận kết hôn, đồng thời hai bên nam, nữ cùng ký vào Giấy chứng nhận kết hôn và Sổ đăng ký kết hôn hoặc nếu việc kết hôn được tiến hành theo pháp luật nước ngoài, việc kết hôn đó muốn được công nhận tại Việt Nam thì phải ghi chú vào Sổ đăng ký kết hôn nếu thỏa mãn điều kiện của pháp luật Việt Nam. Tại điều 34 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định về điều kiện ghi vào Sổ hộ tịch việc kết hôn của công dân Việt 8 luan an Nam đã được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài ở nước ngoài như sau: Việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với nhau hoặc với người nước ngoài đã được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài ở nước ngoài được ghi vào Sổ hộ tịch nếu tại thời điểm kết hôn, các bên đáp ứng điều kiện kết hôn và không vi phạm điều cấm theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam. Nếu vào thời điểm đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền nước ngoài, việc kết hôn không đáp ứng điều kiện kết hôn, không vi phạm điều cấm quy định của Luật hôn nhân và gia đình , nhưng vào thời điểm yêu cầu ghi vào Sổ hộ tịch việc kết hôn, hậu quả đã được khắc phục hoặc việc ghi chú kết hôn là nhằm bảo vệ quyền lợi của công dân Việt Nam và trẻ em thì việc kết hôn cũng được ghi vào Sổ hộ tịch. Như vậy, đối với trường hợp này các chủ thể tham gia quan hệ kết hôn đều là công dân Việt Nam, tuy nhiên căn cứ làm phát sinh quan hệ này là việc đăng ký kết hôn tiến hành ở nước ngoài, theo pháp luật nước ngoài được coi là quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài.
Việc hai công dân Việt Nam đăng ký kết hôn với nhau tại Đại sứ quán hoặc Lãnh sự quán của Việt Nam ở nước ngoài (cơ quan đại diện của Việt Nam ở nước ngoài) thì có được coi là đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài hay không? Trường hợp này, không được coi là quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài, đối với việc đăng ký kết hôn trong trường hợp này, Luật áp dụng là Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Luật hộ tịch năm 2014, Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015. Như trường hợp sau được coi là kết hôn có yếu tố nước ngoài: Trường hợp công dân Việt Nam cùng nhau định cư ở Anh, chưa nhập quốc tịch Anh, tuy nhiên làm thủ tục đăng ký kết hôn với nhau tại cơ quan có thẩm quyền của Anh và theo pháp luật nước Anh, trong những trường hợp này có sự xung đột pháp luật , việc kết hôn này muốn được công nhận tại Việt Nam thì phải được ghi chú vào Sổ đăng ký kết hôn và thỏa mãn điều kiện về pháp luật Việt Nam. 9 luan an Quan hệ kết hôn, cả hai bên nam, nữ là công dân Việt Nam nhưng có ít nhất một bên đang định cư ở nước ngoài tại thời điểm đăng ký kết hôn. Theo quy định tại khoản 3 điều 3 Luật Quốc tịch năm 2008 được sửa đổi bổ sung năm 2014: “Người Việt Nam định cư ở nước ngoài là công dân Việt Nam và người gốc Việt Nam cư trú, sinh sống lâu dài ở nước ngoài”.
Ví dụ: Trường hợp anh A là công dân Việt Nam đang định cư tại Hàn Quốc, quen biết và yêu chị B là công dân Việt Nam đang du học tại Hàn Quốc, sau đó cả hai trở về Việt Nam, trong trường hợp này thì quan hệ kết hôn giữa anh A và chị B được coi là quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài. Phân loại kết hôn có yếu tố nước ngoài a. Kết hôn có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam Căn cứ để xác định quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài là quốc tịch của ít nhất một bên là nước ngoài hoặc cả hai bên có quốc tịch Việt Nam nhưng có một bên định cư ở nước ngoài. Theo đó, có một số trường hợp cụ thể sau: Một là, công dân Việt Nam kết hôn với người nước ngoài ở Việt Nam.
Việc kết hôn trong trường hợp này có thể là một bên nam là công dân Việt Nam kết hôn với một bên nữ là người nước ngoài hoặc một bên nữ là công dân Việt Nam kết hôn với một bên nam là công dân nước ngoài nhưng việc kết hôn đó phải được tiến hành tại Việt Nam. Ví dụ : Trong thời gian làm việc ở một công ty nước ngoài tại Việt Nam, anh N (công dân Việt Nam) đã quen, yêu một cô đồng nghiệp tên là Marian (quốc tịch Mehico). Vừa rồi, anh N và cô Marian đã lập kế hoạch kết hôn với nhau và họ quyết định đăng ký kết hôn tại Việt Nam. Hai là, công dân Việt Nam ở trong nước kết hôn với người Việt Nam định cư ở nước ngoài tại Việt Nam.
Theo quy định của Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008, được sửa đổi bổ sung năm 2014 thì người Việt Nam định cư ở nước ngoài là công dân Việt 10 luan an Nam và người gốc Việt Nam cư trú, sinh sống lâu dài ở nước ngoài. Trong đó, người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài là người Việt Nam đã có quốc tịch Việt Nam đang cư trú, sinh sống lâu dài ở nước ngoài. Như vậy, trường hợp này có thể là công dân Việt Nam ở trong nước kết hôn với công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài hoặc công dân Việt Nam ở trong nước kết hôn với người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài. Ba là, người nước ngoài kết hôn với người nước ngoài tại Việt Nam Người nước ngoài theo quy định của Luật Quốc tịch Việt Nam là công dân nước ngoài hoặc người không quốc tịch.
Trong đó công dân nước ngoài là người có quốc tịch của một nước khác không phải là quốc tịch Việt Nam; còn người không quốc tịch là người không có quốc tịch Việt Nam và cũng không có quốc tịch nước ngoài. Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2014 quy định giữa hai người nước ngoài kết hôn với nhau mà cả hai người này đều thường trú tại Việt Nam thì mới được coi là việc kết hôn có yếu tố nước ngoài. Tuy nhiên, theo Luật Cư trú năm 2006 thì cư trú là việc công dân sinh sống tại một địa điểm xã, phường, thị trấn dưới hình thức thường trú hoặc tạm trú. Vì vậy, để bảo đảm bình đẳng về quyền tự do cư trú cũng như quyền kết hôn của công dân nước ngoài học tập, lao động, nghiên cứu, sinh sống tại Việt Nam, Điều 1 Nghị định số 24/2013/NĐ-CP đã mở rộng nội hàm “người nước ngoài thường trú tại Việt Nam”.
Theo đó, không riêng gì người nước ngoài “thường trú” mà cả trường hợp “tạm trú” kết hôn với nhau cũng được coi là kết hôn có yếu tố nước ngoài (điều kiện ở đây chỉ là người nước ngoài cư trú tại Việt Nam có yêu cầu đăng ký kết hôn tại Việt Nam).