Chương 1: Cơ sở lý luận về hoạt động huy động vốn tại N gân hàng thương mại. Chương 2: Phân tích thực trạng huy động vốn tại N gân hàng thương mại Cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt N am – Chi nhánh Huế. Chương 3: Giải pháp phát triển hoạt động huy động vốn tại N gân hàng thương mại Cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt N am – Chi nhánh Huế. 5 PHẦ 2: ỘI DU G VÀ KẾT QUẢ GHIÊ CỨU CHƯƠ G 1: CƠ SỞ LÝ LUẬ VỀ HOẠT ĐỘ G HUY ĐỘ G VỐ TẠI GÂ HÀ G THƯƠ G MẠI 1.
Tổng quan về gân hàng thương mại 1. Khái niệm $gân hàng thương mại N gân hàng thương mại (N HTM) là loại ngân hàng giao dịch-trực tiếp với các loại hình doanh nghiệp,-tổ chức đoàn thể xã hội và cá nhân, bằng việc-huy động vốn dưới hình thức nhận tiền gửi hoạt kỳ,-tiền gửi định kỳ, tiền phát hành kỳ phiếu, trái phiếu, đồng-thời sử dụng vốn huy động được để cho vay,-chiết khấu, cung cấp các phương tiện thanh toán và-cung ứng dịch vụ ngân hàng cho các đối tượng-nói trên. (N guyễn Đăng Dờn, 2011) N gân hàng thương mại là loại ngân hàng có số lượngvlớn và rất phổ biến trong nền kinh tế.vSự có mặt của ngân hàng thương mại trong hầuvhết các hoạt động của nền kinh tế xã hội đã chứngvminh rằng: ở đâu có một hệ thống ngân hàngvthương mại phát triển, thì ở đó sẽ có sự phátvtriển với tốc độ cao của nền kinh tế - xã hội. (N guyễn Đăng Dờn, 2011) N gân hàng là loại hình tổ chức tín dụng đượcnthực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và cácnhoạt động kinh doanh khác có liên quan.
(Luật số 02/1997/QH10 , 1997) Trong đó hoạt động ngân hàng là hoạt động kinhndoanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng,cbao gồm: huy động vốn dưới mọi hình thức, chocvay ngắn hạn, trung và dài hạn, chiết khấu chứngctừ có giá, bao thanh toán, cho thuê tàicchính, thấu chi, cho vay trả góp,ccho vay tiêu dùng và cung cấp mọi dịch vụcngân hàng khác. (N guyễn Đăng Dờn, 2011) Luật ngân hàng thương mại của các nước khác trêngthế giới đều khẳng định: ngân hàng thương mạiglà định chế tài chính trung gian quan trọng nhất tronggnền kinh tế thị trường, với nhiệm vụ nhận tiềnggửi của công chúng dưới hình thức ký thác,gvà sử dụng nguồn lực đó cho các nghiệp vụ vềkchiết khấu, tín dụng và tài chính và các hoạtkđộng dịch vụ khác với mục đích tìm kiếm lợi nhuận. Chức năng của $gân hàng thương mại 1.1 Chức năng trung gian tín dụng: Trong chức năng trung gian tín dụng thì N HTM là cầu nối giữa người thừa vốn và người thiếu vốn.Vừa giúp cho những người thừa vốn tăng khả năng sinh lợi, đảm bảo an toàn vốn lại vừa kịp thời thỏa mãn được những người thiếu vốn có nhu cầu vốn tạm thời bị thiếu hụt nhưng vẫn tiết kiệm chi phí, tiết kiệm thời gian tìm kiếm nguồn vốn tiện lợi, an toàn và hợp pháp. Với N gân hàng thương mại, là tiền đề cho sự tồn tại và phát triển, tạo nên nguồn vốn để kinh doanh và tăng thu lợi nhuận.
Đồng thời, điều hòa được nguồn vốn tiền tệ giữa chỗ tạm thời thừa vốn đến chỗ tạm thời thiếu vốn làm hạn chế tối đa lượng vốn nhàn rỗi trong xã hội. Chức năng này vừa giải quyết được vấn đề vừa góp phần đN y nhanh quá trình lưu thông của vốn tiền tệ trong xã hội và tăng thu giá trị thặng dư cho các chủ thể kinh tế. N hư vậy, thực hiện chức năng trung gian tín dụng không những có lợi cho N HTM mà còn có lợi cho các khách hàng có nhu cầu và cho cả nền kinh tế.2 Chức năng trung gian thanh toán: Chức năng trung gian thanh toán là việc ngân hàng trung gian thực hiện dịch vụ thanh toán trả tiền cho khách hàng theo yêu cầu của chủ tài khoản và nhập vào tài khoản những khoản tiền theo yêu cầu của họ. Thực chất của chức năng này là ngân hàng đóng vai trò như là người “kế toán và thủ quỹ - là vừa làm thủ quỹ lại vừa thực hiện các dịch vụ ủy nhiệm của khách hàng” bởi ngân hàng là người giữ tiền và chi trả theo lệch của khách hàng.
Chức năng trung gian thanh toán đã mang lại nhiều tiện ích to lớn đối với khách hàng, N HTM và nền kinh tế đã tạo điều kiện thuận lợi trong thanh toán với các phương thức đa dạng nhiều tiện ích, an toàn, thuận lợi, nhanh chóng, dễ dàng không những tiết kiệm chi phí và thời gian mà còn hỗ trợ tích cực quá trình lưu thông hàng hóa, tăng nhanh tốc độ thanh toán, tiết kiệm nguồn lực tài chính. Việc phát triển chức năng trung gian thanh toán qua ngân hàng sẽ làm thay đổi phương thức thanh toán bằng tiền mặt góp phần tiết kiệm tiền mặt lưu thông dẫn đến tiết kiệm các khoản chi phí in ấn tiền, bảo quản tiền, kiểm đếm. Mặt khác chức năng trung gian thanh toán sẽ làm tăng uy tín, tính minh bạch của ngân hàng, hỗ trợ các nhà quản lý tra soát các hoạt động kinh doanh phòng ngừa các hoạt động rửa tiền của bất kì cá nhân hay doanh nghiệp nào.3 Chức năng tạo tiền: Tạo tiền là chức năng quan trọng phản ánh rõ ràng bản chất của ngân hàng thương mại. Hướng tới lợi nhuận là mục tiêu hàng đầu để tồn tại và phát triển, trong hoạt động kinh doanh cụ thể, các ngân hàng thương mại vô hình trung thực hiện chức năng tạo ra tiền cho nền kinh tế.
Chức năng tạo tiền được thực hiện trên cơ sở hai chức năng còn lại của ngân hàng thương mại: chức năng tín dụng và chức năng thanh toán. Thông qua chức năng trung gian tín dụng, ngân hàng sử dụng nguồn vốn huy động để cho vay, khách hàng sử dụng số tiền vay để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ, số dư trên tài khoản tiền mặt vẫn được coi là một phần của nguồn vốn giao dịch và được sử dụng bởi chính ngân hàng. hệ thống ngân hàng thương mại thông qua các chức năng này mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ. Thông qua chức năng này, hệ thống ngân hàng thương mại làm tăng tổng số và tính kinh tế của các phương thức thanh toán trong hệ thống ngân hàng, đáp ứng nhu cầu thanh toán của xã hội.
Các ngân hàng thương mại tạo ra tiền theo tỷ lệ dự trữ tiền gửi do ngân hàng trung ương quy định đối với các ngân hàng thương mại. Vì vậy, khi lượng cung tiền vào nền kinh tế lớn hơn, ngân hàng trung ương có thể tăng mức lãi suất này. Các nghiệp vụ chủ yếu của $gân hàng thương mại N ghiệp vụ tài sản nợ Tài sản nợ bao gồm những khoản nợ mà N HTM nợ thị trường và vốn của N HTM. Các khoản nợ được thể hiện trên thị trường thông qua vốn của người dân gửi vào ngân hàng thương mại hoặc vốn do ngân hàng thương mại vay từ các tổ chức kinh tế như cá nhân, hộ gia đình, doanh nghiệp trong và ngoài nước, các tổ chức trung gian tài chính khác, N HN N ,.
- Vốn tiền gửi Đây là nghiệp vụ phản ánh hoạt động huy động vốn của N HTM dưới dạng nhận các khoản tiền gửi của cá nhân và doanh nghiệp vào ngân hàng để thanh toán nhằm mục đích an toàn hoặc hưởng lãi. Bao gồm: + Tiền gửi thanh toán: là số tiền tạm thời nhàn rỗi của tổ chức kinh tế, cá nhân gửi vào ngân hàng thương mại để chủ động chi trả hoặc thu lợi nhuận trong quá trình hoạt động kinh doanh. Tùy theo tính chất nhàn rỗi của nguồn vốn, tổ chức, cá nhân có 8 thể gửi tiền gửi không kỳ hạn hoặc tiền gửi có kỳ hạn tại ngân hàng. N gân hàng có thể sử nguồn vốn này vào nghiệp vụ cho vay các thành phần kinh tế.
+ Tiền gửi tiết kiệm: Đây là hình thức huy động vốn truyền thống của các ngân hàng thương mại. Tiền gửi tiết kiệm là tiền gửi mà người dân gửi tiền tiết kiệm hoặc số tiền tạm thời nhàn rỗi vào ngân hàng để kiếm lãi thường xuyên hoặc tiết kiệm cho các chi phí trong tương lai. Đây là nguồn vốn quan trọng, có tính ổn định cao và quy mô lớn trong tổng vốn lưu động của các ngân hàng thương mại. Khách hàng có thể gửi tiết kiệm không giới hạn hoặc có kỳ hạn cố định tùy theo nhu cầu.
- Phát hành giấy tờ có giá Hoạt động này mang tính thời vụ, các ngân hàng thương mại cần vốn để thực hiện hoạt động kinh doanh, nhằm thu hút vốn trung và dài hạn để đầu tư vào nền kinh tế, các nguồn vốn này được huy động trong một thời gian nhất định, nguồn vốn giúp tăng cường sự ổn định vốn của ngân hàng thương mại, hoạt động kinh doanh. Bao gồm: séc ngân hàng, trái phiếu ngân hàng và chứng chỉ tiền gửi. - Vốn đi vay Tuy nguồn vốn từ tiền gửi là nguồn tiền quan trọng nhất của N HTM nhưng sau khi đã sử dụng hết vốn và tiền gửi mà N HTM vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu vay vốn của khách hàng hoặc các khoản phải chi trả của khách hàng,… N HTM có thể đi vay ở N HN N , ở các N HTM khác trên thị trường tiền tệ, vay ở các tổ chức nước ngoài,…Vốn đi vay chỉ chiếm một tỷ trọng nhỏ trong kết cấu nguồn vốn của N HTM nhưng nó rất cần thiết và có vị trí quan trọng để đảm bảo cho ngân hàng hoạt động được bình thường. N HN N có thể cho các N HTM vay thông qua các hình thức như: cho vay chiết khấu, cho vay cứu cánh và cho vay theo thời vụ.
+ Cho vay chiết khấu: các thương phiếu đã được các N HTM chiết khấu và trở thành tài sản của họ, khi cần thiết N HTM sẽ mang những thương phiếu này đến xin chiết khấu tại N HN N. Thông thường N HN N chỉ tái chiết khấu cho những thương phiếu có chất lượng và phù hợp với mục tiêu của N HN N trong từng thời kỳ và N HN N chủ yếu chỉ cho vay ngắn hạn để giải quyết một số nhu cầu cấp bách của N HTM. + Cho vay cứu cánh: N HN N sẽ cho vay cứu cánh trong trường hợp N HTM bị khủng hoảng trầm trọng và có nguy cơ phá sản gây ảnh hưởng tới toàn hệ thống và đang bị đặt trong tình trạng “kiểm soát đặc biệt” theo quyết định của thống đốc N HN N .