CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực KH&CN 1. Nghiên cứu ngoài nước Archibugi D. trong bài viết “The Policy imlications of the globalization of innovation” (Gợi suy về chính sách toàn cầu hóa đổi mới sáng tạo) trên Tài liệu nghiên cứu của Trường đại học Cambridge đã nghiên cứu về hợp tác quốc tế và toàn cầu hóa trong lĩnh vực KH&CN và đổi mới sáng tạo (innovation) từ đó đưa ra khuyến nghị chính sách.
Họ cho rằng cách thức để các công ty đưa kết quả sáng tạo của mình ra thị trường quốc tế là xuất khẩu sản phẩm một cách trực tiếp hoặc gián tiếp (FDI là một kênh quan trọng). Còn đối với quốc gia tiếp nhận đầu tư, sự ổn định về kinh tế và thể chế, năng lực công nghệ là yếu tố quan trọng để thúc đẩy hợp tác. Hợp tác quốc tế về KH&CN cần lưu ý rằng trong thế giới hàn lâm, hoạt động chuyển giao tri thức giữa các học giả có thể không yêu cầu chi phí. Tuy nhiên, điều này có thể khác so với hợp tác giữa các doanh nghiệp.
Toàn cầu hóa KH&CN và đổi mới sáng tạo đều mang lại cơ hội và thách thức. Các nước phát triển có lợi thế vì họ nắm nhiều cơ hội mang lại từ việc năng lực công nghệ quốc gia rất tiên tiến, tạo ra được những công nghệ chuyên biệt và đặc biệt (niche and specification technology). Tiến trình toàn cầu hóa trong lĩnh vực KH&CN và đổi mới sáng tạo đã tạo nên sức ép cho QLNN vì đều có tác động đối với đời sống kinh tế - xã hội. Trong bối cảnh đó, các chính phủ phải giải quyết các vấn đề như tài chính công, thu hút đầu tư nhà nước, phát triển giáo dục, bảo vệ công nghệ bản địa, bảo vệ các doanh nghiệp trong nước, thậm chí bảo vệ các phòng thí nghiệm NCPT.
Chọn đối tượng là tập đoàn đa quốc gia, trong công trình công bố của mình, tiêu biểu như bài viết “Globalization of R&D: recent changes in the 15 management of innovation in transnational corporations” (Toàn cầu hóa NCTK: những thay đổi mới nhất trong quản lý đổi mới sáng tạo ở các tập đoàn xuyên quốc gia) trên Tạp chí Elsevier, Gerybadze, Alexander và Reger, Guido đã chỉ ra sự mạnh mẽ và tất yếu của toàn cầu hóa về NCPT, thông qua đó khẳng định hợp tác quốc tế về KH&CN là cần thiết với nhiều quốc gia, phát triển cũng như đang phát triển. Kết quả của nghiên cứu này cho thấy các tập đoàn công nghệ đa quốc gia có xu hướng thành lập các đơn vị NCPT ở ngoài lãnh thổ mặc dù ban đầu chỉ giới hạn ở việc thích hợp sản phẩm và công nghệ xử lý ở quốc gia sở tại, sau đó mở rộng hơn trên phạm vi toàn cầu. Động cơ chính là: tìm kiếm thị trường mới, kiểm tra và thử nghiệm các ý tưởng sản phẩm mới, tham gia ngay từ đầu ở những quốc gia có khe hở về quy định (regulatory niche), tiếp cận tới nguồn lực độc đáo, kết quả nghiên cứu mới và nguồn nhân lực chất lượng cao ở các trung tâm nghiên cứu xuất sắc. Điều này đã thúc đẩy nhu cầu phải hợp tác giữa các quốc gia về KH&CN.
Các tác giả cũng chỉ ra một số hình thức có thể hợp tác trong KH&CN như: tiếp cận các hoạt động NCPT tiên tiến được đặt tại các quốc gia phát triển có năng lực NCPT mạnh; hoặc dựa vào các nghiên cứu được thực hiện ở những quốc gia nhỏ, thậm chí có năng lực NCPT thấp hơn. Nghiên cứu đã đưa ra một số gợi ý cho chính sách công về KH&CN, trong đó cho rằng cần tập trung chính sách vào các quy trình NCPT và đổi mới công nghệ ở những công đoạn gần với thị trường, cần chú trọng xác lập vị trí dẫn đầu một cách bền vững trong một số lĩnh vực dựa trên năng lực NCPT, các doanh nghiệp sở hữu công nghệ và thị trường. Một số nghiên cứu khác như của Cees van Beers và đồng nghiệp trong bài “R&D internationalization, R&D collaboration and public knowledge institution in small economies: evidence from Finland and the Netherlands” (quốc tế hóa NCTK, hợp tác về NTK và thể chế tri thức công ở các nền kinh 16 tế nhỏ: bằng chứng từ Phần Lan và Hà Lan) trên Research Policy, Von Zedtwitz và Gassmann với “Market versus technology drive in R&D internationalization: four different patterns of managing research and development” (Động lực thị trường và công nghệ trong quốc tế hóa về NKTK: bốn mô hình quản lý NCTK khác nhau) trên Research Policy cùng một số học giả khác đã đề cập sâu hơn về vai trò của các tập đoàn đa quốc gia trong việc thúc đẩy hợp tác quốc tế về KH&CN qua các giai đoạn, đồng thời đề cập đến cách thức một quốc gia cần lưu ý để tận dụng hợp tác quốc tế nhằm tăng năng lực công nghệ bản địa. Các công bố đã hệ thống rằng cho đến giữa thập kỷ 80, tri thức và hoạt động NCPT quan trọng được thực hiện chủ yếu tại chính quốc, hoạt động liên quan đến công nghệ ở nước ngoài chỉ là thích hợp và vì vậy vẫn phụ thuộc vào trụ sở chính.
Từ giữa thập niên 80 trở về sau, xu thế này thay đổi theo hướng đầu tư thêm cho các cơ sở NCPT ở nước ngoài được tăng cường để tìm kiếm công nghệ, tranh thủ nguồn nhân lực tài năng, khai thác hệ thống đổi mới sáng tạo của nước sở tại. Điều này thúc đẩy sự hợp tác ngày càng tăng giữa doanh nghiệp nước ngoài với các trường đại học/viện nghiên cứu trong nước. Do đó, năng lực NCPT quốc gia trở thành điểm then chốt để thu hút FDI có chất lượng. Với góc nhìn biện chứng, Hsu Chia-Wen, Lien Yung-Chih và Chen Homin trong bài viết “R&D internationalization and innovation performance” (quốc tế hóa về NCTK và năng lực đổi mới sáng tạo) trên International Business Review đã tiến hành nghiên cứu tác động của hợp tác và hội nhập quốc tế về KH&CN đến năng lực đổi mới sáng tạo.
Một mặt, các tác giả thừa nhận cạnh tranh toàn cầu khốc liệt đã thúc đẩy doanh nghiệp tìm kiếm tri thức ở nước ngoài. Vì vậy, hợp tác quốc tế về KH&CN, mà trọng tâm là NCPT được đẩy mạnh hơn. Mặt khác, Hsu và đồng nghiệp tái khẳng định không chỉ các nước phát triển, mà cả các nước đang phát triển cũng thúc đẩy hợp tác quốc tế về KH&CN bởi vì thông qua đó, họ có thể sở hữu được nguồn 17 lực quan trọng, bù đắp cho những thiếu hụt của người đi sau và tận dụng được việc sở hữu những lợi thế cạnh tranh chiến lược trên thị trường toàn cầu. Hợp tác quốc tế về NCPT có tác động hình chữ U (U-shape) đối với năng lực đổi mới sáng tạo, hợp tác quốc tế giúp đảm bảo tăng tính sáng tạo cho doanh nghiệp và giúp họ bù đắp được những yếu điểm trong cạnh tranh quốc tế.
trong các nghiên cứu của mình về toàn cầu hóa và hợp tác quốc tế về KH&CN, ví dụ như trong bài viết “Market versus technology drive in R&D internationalization: four different patterns of managing research and development” trên Research Policy đã chấp nhận góc nhìn khác của De Meyer và Mizushima về vấn đề này. Đó là: toàn cầu hóa về KH&CN được nhìn nhận là sự chịu đựng hơn là sự hài lòng. Họ cho rằng thiết lập mạng lưới KH&CN quốc tế cũng như quản lý các dự án hợp tác quốc tế về KH&CN không hề đơn giản và luôn tiềm ẩn rủi ro. Tuy nhiên, hai học giả khẳng định lợi ích tiềm năng mang lại từ hoạt động hợp tác quốc tế về KH&CN là quá lớn để có thể bỏ qua, đồng thời chỉ ra 4 xu hướng chính của hoạt động này, bao gồm: (i) hợp tác nghiên cứu khoa học (thành lập các đơn vị nghiên cứu ở nước ngoài); (ii) hợp tác phát triển công nghệ (thành lập đơn vị phát triển công nghệ ở nước sở tại); (iii) phát triển công nghệ dựa vào các kết quả nghiên cứu (thành lập nhiều tổ chức phát triển công nghệ đặt cạnh các cơ quan nghiên cứu xuất sắc ở nước ngoài); (iv) nghiên cứu phục vụ nhu cầu phát triển công nghệ (hợp tác với các tổ chức khoa học đủ mạnh để hỗ trợ phát triển và bảo hành công nghệ).
Tác giả chỉ ra sự khác biệt giữa hợp tác về nghiên cứu khoa học với hợp tác phát triển công nghệ, từ đó cho rằng quản lý và xây dựng chính sách cần khác nhau giữa hai loại hình hợp tác này. Carlsson Bo dành nhiều nghiên cứu về Hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia (NIS) và nhu cầu hợp tác quốc tế của NIS. Trong công bố “Internationalization of innovation system: a survey of the literature” (quốc tế hóa hệ thống đổi mới sáng tạo: khảo sát các bài viết) trên Research Policy, 18 Carlson Bo chỉ ra rằng các quốc gia nhỏ thường chịu tác động lớn từ dòng chảy mạnh mẽ của tri thức KH&CN và những công nghệ được chuyển giao từ nước ngoài. Trong khi đó, các quốc gia lớn hơn có tính tự chủ về công nghệ cao hơn nên ít chịu ảnh hưởng.
Tuy nhiên, hợp tác quốc tế về KH&CN vẫn là tất yếu, do bản thân hệ thống NIS càng ngày càng có ít tính quốc gia hơn. Hình thức hợp tác quốc tế cũng khác nhau về mật độ. Hợp tác về khoa học nhiều hơn so với hợp tác về công nghệ. Điều này cũng phản ánh bản chất của tri thức thuần túy và sự hỗ trợ của chính phủ cho hợp tác quốc tế chủ yếu dành cho các đơn vị công lập hoặc bán công lập.
Carlson Bo đã chỉ ra những rào cản đối với hợp tác quốc tế về KH&CN như thể chế (bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, giáo dục đại học), năng lực những ngành công nghiệp có hàm lượng R&D cao (như công nghệ sinh học, phần mềm và máy tính). Các công trình trong nước Cho đến nay, các nghiên cứu trong nước về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực KH&CN chủ yếu nêu bật các kết quả của loại hình hoạt động này, hoặc đánh giá về vai trò đối với sự phát triển của KH&CN, đào tạo nhân lực và phát triển kinh tế - xã hội. Nghiên cứu về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực KH&CN thường được đề cập bổ sung trong các công trình nghiên cứu về KH&CN nói chung, thay vì có những nghiên cứu tổng thể dành riêng cho đối tượng này. Xin tóm tắt một số nghiên cứu chính như sau: “Tổng luận các mô hình hợp tác quốc tế về KH&CN và vai trò của chính sách quốc gia trong việc thu hút R&D nước ngoài” do Đặng Bảo Hà biên soạn năm 2007 đến nay vẫn được xem là một công bố trong nước đề cập khá tổng thể về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực KH&CN.