Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THUC TIEN VE HOP TÁC GIÁO DỤC VIET NAM - HAN QUOC 1. Một số khái niệm cơ ban 1. Khái niệm hợp tác quốc té Hiện có nhiều quan điểm khác nhau về “hợp tác quốc tế”, theo như cuốn Tir điển Tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học xuất bản năm 2010, hợp tác là “cùng chung sức giúp đỡ lẫn nhau trong một công việc, một lĩnh vực nào đó, nhằm một mục đích chung” còn quốc tế là “các nước trên thế gidi trong quan hệ với nhau” [88, tr.
Theo như cách hiểu nay ở trong mối quan hệ quốc tế, hợp tác vừa một tính chất và trạng thái vừa là cách thức, vừa là mục đích mà nhân loại phan đấu dé dat được, nhưng ngược lại với tinh chất xung đột. Khi những vấn đề quan trọng nảy sinh thì quan hệ quốc tế nảy sinh, khi các quốc gia, dân tộc được hình thành thì hợp tác trở thành hợp tác quốc tế, đến nay, hợp tác quốc tế đã trở thành một dòng chảy lớn trong đời sống quốc tế, thu hút các quốc gia, dân tộc trên thế giới. Cách hiểu này được Lê Thị Thu Huyền (2019), đồng thuận nhưng đã khái lược đưới góc nhìn luật học, hợp tác quốc tế là “một hệ thống những mối quan hệ quốc gia vốn được hình thành, xác định và dựa trên cơ sở chính trị đối ngoại của từng quốc gia, nhưng lại mang trong mình những quy luật hoạt động và phát triển riêng có của chúng” [46, tr. Tuy nhiên Hoang Khắc Nam (2006), lại có cách hiểu khác, mở rộng va khái quát hơn, đó là “Hợp tác vừa là cách thức, vừa là mục đích mà nhân loại phan dau dé đạt được.
Hop tác là hình thức đã tồn tại ngay từ đầu lịch sử loài người, cùng với sự hình thành các cộng đồng sơ khai như bay đàn, công xã, thị tộc, bộ lạc, liên minh bộ lạc. Khi xuất hiện các chủ thé quan hệ quốc tế tức là khi quốc gia và dân tộc hình thành, hợp tác đã trở thành hợp tác quốc tế. Hop tác quốc tế là sự phối hop hòa bình giữa các chủ thể quan hệ quốc tế nhằm thực hiện các mục đích chung” [64, tr. Cách hiéu này đã được 11 Lương Văn Thắng (2020), đồng thuận và mở rộng, hợp tác quốc tế là phương thức mà các chủ thé (quốc gia/khu vực) tương tác với nhau nhằm đạt được mục tiêu của mình trong quan hệ quốc tế.
Hợp tác quốc tế chỉ xuất hiện khi hai hay nhiều quốc gia (khu vực) tham gia cùng cam kết đạt được mục tiêu chung. Khi đó, họ sẽ cùng nhau thực hiện những hoạt động chung và cùng chia sẻ nguồn lực. Kết quả của hợp tác quốc tế phụ thuộc chủ yếu vào mức độ cam kết của các thành viên. Mục tiêu của hợp tác có thê thay đổi theo thời gian, nhưng không thé chuyển sang hoặc tạo ra một kết quả hoan toàn trái ngược [78, tr.
Dưới góc nhìn của các học giả nước ngoài, hợp tác quốc tế là sự tương tác quốc tế giữa những người hoặc các nhóm người đại diện cho nhiều quốc gia, dân tộc trong việc theo đuôi một mục tiêu hoặc lợi ích chung; hoặc là một nhóm các hành động vả/hoặc nguồn lực được trao đổi giữa những người thực hiện từ nhiều quốc gia khác nhau, hoặc tự nguyện hoặc phục vụ cho mục tiêu và chiến lược của họ [78, tr. Như vậy, du tiếp cận đưới góc độ nao thì hợp tác quốc tế chính là mối quan hệ giữa các quốc gia về mặt chủ thể, nó bao gồm: chủ thê quốc gia, chủ thé phi quốc gia và chủ thé đưới quốc gia. Quốc gia là một thực thể pháp lý quốc tế và phải có các đặc tính gồm: Một dân cư thường xuyên, một lãnh thổ xác định và một chính phủ có khả năng duy trì sự kiểm soát hiệu quả trên lãnh thổ của nó và tiễn hành quan hệ quốc tế với quốc gia khác [113]. Chủ thé quốc gia là chủ thé cơ bản và có vai trò lớn nhất trong quan hệ hợp tác quốc tế.
Chủ thé phi quốc gia là những chủ thé không phải là quốc gia. Day là loại chủ thể có sự độc lập tương đối với quốc gia và có quy mô hoạt động vượt khỏi biên giới quốc gia như: các tổ chức phi chính phủ, công ty đa quốc gia, một số nhóm chính trị - xã hội. Chủ thể dưới quốc gia là chủ thể hoạt động phụ thuộc khá nhiều vào quốc gia nhưng cũng có sự độc lập tương đối và đóng vai trò nhất định, ví dụ như: chính quyền địa phương, cá nhân., chủ thể này hoạt động phụ thuộc khá nhiều vào quốc gia. Khái niệm hop tác quốc té trong lĩnh vực giáo duc Khái niệm về giáo dục: Trước khi đi đến tìm hiểu về khái niệm hợp tác quốc tế trong lĩnh vực giáo dục, cần phải hiểu thé nào là giáo dục đào tạo.
Giáo dục theo như Đại tir điển tiếng Việt của Nguyễn Như Y (1998): “Giáo dục là tác động có hệ thống đến sự phát triển tinh than, thé chất của con người, dé họ dần dần có được những phẩm chất và năng lực như yêu cầu đề ra [91, tr. Còn trong Tir điển Bách khoa đã định nghĩa: “quá trình đào tao con người một cách có mục đích, nhằm chuẩn bị cho con người tham gia đời sống xã hội, tham gia lao động sản xuất, được thực hiện bang cách tô chức việc truyền thụ và lĩnh hội những kinh nghiệm lịch sử - xã hội của loài người” [39, tr. Khái niệm về giáo duc dao tạo: Cuốn Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học (2004) đã Viết: “giao dục đào tạo là hoạt động tác động có hệ thống đến sự phát triển tinh than, thé chất của con người dé ho dan dần có được những phẩm chất và năng lực như yêu cầu đề ra” [88, tr. Hoạt động giáo dục đào tao bao gồm giáo duc mẫu giáo, giáo dục phổ thông, giáo dục đại học, trên đại học và dạy nghề.
Nhưng tác giả Lê Thị Thu Huyền (2019), lại có cách hiểu khác, theo đó, hợp tác quốc tế về giáo dục - đảo tạo là một loại hình hoạt động bao gồm các hình thức phối hợp, liên kết giữa các nước để cùng nhau tiến hành giảng dạy, đào tạo, nghiên cứu, trao đổi các kết quả nghiên cứu, thông tin khoa học dé có thé áp dụng vào thực tiễn hoạt động của nhà trường [46, tr. Tuy nhiên, Hội đồng về nghiên cứu giáo dục Úc (2008), lại có cách hiểu rộng hơn về hợp tác giáo dục quốc tế, hợp tác giáo dục theo nghĩa rộng là việc hai hay nhiều bên cùng tiến hành các hoạt động dé đạt mục đích giáo dục, trong hợp tác quốc tế về giáo dục các chủ thể này đến từ các quốc gia khác nhau [40, tr. Trong cách hiểu này, hợp tác quốc tế trong lĩnh vực giáo dục là hoạt động liên kết, phối hợp đảo tạo, giáo dục giữa các trường học, cơ sở giáo dục, đào tạo của nhiều nước hoặc vùng lãnh thổ trên thé giới dé thúc day sự phát triển về chat và lượng của giáo dục theo đúng 13 mục tiêu và định hướng của mỗi bên trong quan hệ hợp tác. Đây có thể hiểu coi là một trong những quan điểm rõ ràng, đầy đủ nhất về hợp tác quốc tế về giáo dục.
Họp tác giáo dục Việt Nam - Hàn Quốc: Trên cơ sở khái niệm hợp tác quốc tế trong lĩnh vực giáo dục đã nêu ở trên, có thể hiểu, hợp tác giáo dục Việt Nam - Hàn Quốc là việc hoạt động liên kết, hợp tác giữa các trường học, cơ sở giáo dục, đào tạo của Việt Nam và Hàn Quốc dé thúc đây sự phát triển về chất và lượng giáo dục theo đúng mục tiêu và định hướng của từng nước. Vai trò, ý nghĩa của hợp tác giáo dục Trong bối cảnh quốc tế hóa và toàn cầu hóa giáo dục như hiện nay hợp tác giáo dục có vai trò và ý nghĩa vô cùng to lớn đối phát triển giáo dục của moi quốc gia trên thé giới. Cụ thé: Thứ nhất, hoạt động hợp tác quốc tế góp phần quan trọng trong định hướng phát triển giáo dục theo cách tiếp cận nền giáo dục tiên tiến, hiện đại trên thế giới. Thứ hai, hợp tác giáo dục quốc tế mang lại cơ hội lớn cho người học trong nhiều lĩnh vực.
Thứ ba, hợp tác quốc tế về giáo dục không những nâng cao chất lượng nguồn nhân lực mà còn góp phan mở rộng quan hệ ngoại giao, khang định vi thế quốc gia, tăng khả năng cạnh tranh, góp phan ảnh hưởng tới các lĩnh vực kinh tế xã hội khác. Thứ tư, giúp cải thiện nguồn lực về tài chính, nguồn lực con người cũng như cơ chế quản trị. Các hình thức hợp tác giáo dục Việt Nam - Hàn Quốc Hợp tác quốc tế trong giảng dạy và nghiên cứu từ trước đến nay là cốt lõi của các hoạt động quốc tế hóa trong các cơ sở giáo dục. Các Chính phủ, quốc gia ở nhiều khu vực địa chính trị trên thế giới đã chấp nhận hợp tác như một cách đê nâng cao hiệu lực và hiệu quả của hệ thông giáo dục đât nước.
14 Trong điều kiện quá trình quốc tế hoá phát triển nhanh chóng như hiện nay, quy mô hợp tác quốc tế giữa các cơ sở giáo dục ngày càng phát triển với tốc độ nhanh nên hiện có nhiều cách phân loại về cách hình thức hợp tác giáo dục quốc tế. Về các hình thức hợp tác giáo dục giữa các quốc gia, Kiselova, Mariia M và các cộng sự (2020) đã chỉ ra rằng: hiện nay hợp tác giáo dục quốc tế giữa các quốc gia bao gồm cả giáo dục đại học có các hình thức chủ yếu sau: trao đổi quốc tế (sinh viên, học sinh), giáo viên hay giảng viên, nhà khoa học; tổ chức hội nghị, bàn tròn, hội nghị chuyên dé; trao đổi thông tin và dit liệu về nâng cao hiệu quả của quá trình giáo dục. Tuy nhiên ở Việt Nam, Luật Giáo dục năm 2019 quy định chung về các hình thức hợp tác, đầu tư của nước ngoài về giáo dục tại Việt Nam bao gồm: + Liên kết giáo dục, đảo tạo; + Thành lập văn phòng đại diện; + Thành lập phân hiệu; + Thành lập cơ sở giáo dục; + Các hình thức hợp tác, đầu tư khác [khoản 3, điều 108, Luật Giáo dục năm 2019]. Hiện nay, tại Việt Nam lĩnh vực và phạm hợp tác trong giáo dục quốc tế nhiều nhất là ở bậc đại học và sau đại học, Luật Giáo dục đại học của Việt Nam đã quy định về các hình thức hợp tác quốc tế trong giáo dục đại học, gồm: 1).
Liên kết đào tạo: 2).