CHƯƠNG 1: NHỮNG VAN DE CHUNG VE HOP DONG TREN WEBSITE THUONG MAI DIEN TU O VIET NAM Hợp đồng trên website thương mại điện tử (TMĐT) là một dạng hợp đồng được giao kết thông qua các phương tiện điện tử. Bên cạnh những đặc trưng của một hợp đồng, hợp đồng trên website thương mại điện tử có một số đặc điểm riêng. Do vậy, Chương | của luận văn sẽ được dành dé trình bày về khái niệm, đặc điểm của hợp đồng được giao kết trên website thương mại điện tử cũng như nguồn luật điều chỉnh loại hợp đồng này. Khái quát về hợp đồng trên website thương mại điện tử Phan đầu của Chương | tập trung phân tích khái niệm và đặc điểm của hợp đồng trên website thương mại điện tử.
Trong nội dung này luận văn có sự so sánh giữa pháp luật Việt Nam với pháp luật quốc tế kết hợp với sự so sánh pháp luật về hợp đồng trên website thương mại điện tử với pháp luật hợp đồng nói chung được quy định trong Bộ luật Dân sự. Khái niệm hop đồng trên website thương mại điện tử Dé các chủ thé thực hiện được quyền và nghĩa vụ của mình khi tham gia hoạt động thương mại điện tử, họ cần giao kết hợp đồng giống như việc giao kết hợp đồng thông thường. Hợp đồng điện tử (tiếng anh là e-contracts) là một loại hình cơ bản của giao dịch điện tử. Luật Mẫu của UNCITRAL về thương mại điện tử đã không đưa ra định nghĩ thế nao là hợp đồng điện tử mà chỉ quy định rang: “7rong khuôn khổ hình thành hợp dong, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác, một chào hàng và chấp nhận một chào hàng được phép thể hiện bằng phương tiện các thông điệp dữ liệu.
Khi một thông điệp dữ liệu được su dụng trong việc hình thành một hop đồng thì giả trị và hiệu lực thi hành của hợp đồng đó không thể bị phủ nhận với lý do rằng một thông điệp dữ liệu đã được dùng vào mục đích ấy” (Điều 11) [22]. Hầu hết pháp luật các nước cũng không đưa ra định nghĩa về hợp đồng điện tử mà thường chỉ đưa ra quy định thừa nhận giá trị pháp lý của hợp đồng điện tử. Ví dụ, Luật Giao dịch điện tử năm 1998 của Singapore tại Điều 11 đã quy định: “trường hop một bản ghi điện tử được sử dụng trong việc hình thành hợp đồng, thì hợp dong đó không bị phủ nhận giá trị pháp ly hoặc hiệu lực thực thi chỉ vi lý do duy nhất một ban ghỉ điện tử da được sử dung cho mục dich đó”[20]. Như vậy, hop đồng điện tử được hiểu tương đối thống nhất trong quy định của pháp luật các nước cũng như trong thực tiễn ký kết và thực hiện hợp đồng điện tử.
Theo đó, sự thong nhat nay thé hiện ở chỗ phần lớn ý kiến đều cho răng hợp đồng điện tử là hợp đồng được ký kết thông qua việc sử dụng những phương tiện truyền các thông điệp dir liệu [10, tr. Ở Việt Nam, hợp đồng điện tử là một thuật ngữ pháp lý mới, chính thức xuất hiện vào năm 2005, sau khi quốc hội thông qua Luật Giao dịch điện tử 2005. Mặc dù được xây dựng trên cơ sở tham khảo luật mẫu UNCITRAL nhưng khác với luật mẫu và pháp luật nhiều nước trên thế giới, Luật giao dịch điện tử 2005 đã đưa ra định nghĩa chính thức về hợp đồng điện tử tại Điều 33: “Hop dong điện tử là hợp dong được thiết lập dưới dạng thông điệp dit liệu theo quy định của Luật này”. Trong đó, thông điệp dir liệu là “thdng tin được tạo ra, được gửi di, được nhận và được lưu trữ bằng phương tiện điện tử” theo quy định tại khoản 12 Điều 4 Luật Giao dịch điện tử 2005.
Nó được thể hiện dưới hình thức: trao đôi di liệu điện tử, chứng từ điện tử, thư điện tử, điện tín, điện báo, fax, và các hình thức tương tự khác theo quy định tại Điều 10 Luật giao dịch điện tử 2005. Phương tiện điện tử là một trong những cơ sở dé phân biệt hợp đồng thương mại điện tử với hợp đồng thông thường. Nếu như phương tiện thực hiện trong giao dịch thương mại truyền thống chủ yếu được thực hiện thông qua lời nói, hành vi hay văn bản giấy tờ thì phương tiện thực hiện trong thương mại điện tử là những phương tiện hoạt động dựa trên công nghệ điện, điện tử, kỹ thuật số, từ tính, truyền dẫn không dây, quang học, điện từ hoặc công nghệ tương tự (khoản 10 Điều 4 Luật giao dịch điện tử 2005). Xét theo nghĩa rộng thì hợp đồng điện tử đã được ứng dụng từ lâu thông qua các phương tiện điện tử như điện thoại, fax.
nhưng khái niệm hợp đồng điện tử chỉ thực sự được nói tới khi các giao dịch, đặc biệt là các giao dịch thương mai qua mang internet được thực hiện phố biến; hay nói cách khác hợp đồng điện tử là những hợp đồng được giao kết thông qua các phương tiện điện tử, mà trong đó internet hay ít nhất là các kỹ thuật và giao thức được su dụng trên internet đóng một vai trò cơ bản và công nghệ thông tin được coi là điều kiện tiên quyết [9, tr. Mạng internet đưa ra bốn công cụ chính mà 10 các bên có thê sử dụng khi tham gia giao kết hợp đồng là: thư điện tử (email), công cụ tán gau (chat), trang thông tin điện tử (website) và trao đổi dir liệu điện tử (electronic data interchange - EDI). Trong khuôn khổ luận văn, tác giả chỉ đề cập đến hợp đồng trên website thương mại điện tử. Website là một tập hợp các trang web liên hệ với nhau một cách logic và có hệ thống, bao gồm văn bản, hình ảnh, video., thường chỉ nằm trên một tên miền hoặc tên miền phụ trên World Wide Web của Internet.
Website cho phép người dùng thực hiện nhiều hoạt động như nhu cầu trao đổi thông tin, giao tiếp với chủ website hoặc những người truy cập khác, tìm kiếm, mua bán. Đối với doanh nghiệp, website là một cửa hàng ảo với hàng hóa và dịch vụ có thé được giới thiệu và rao bán trên thị trường toàn cầu. Cửa hàng này mở cửa 24 gid 1 ngày, 7 ngày 1 tuần, quanh năm, cho phép khách hàng tìm kiếm thông tin, xem, mua hàng hóa và dịch vụ bất cứ lúc nào họ muốn. Bên cạnh đó, website còn đóng vai trò tạo dựng hình ảnh và quảng cáo không chỉ cho sản pham mà còn cho doanh nghiệp.
Theo Khoản 8 Điều 3 Nghị định số 52/2013/NĐ-CP về thương mại điện tử thì website thương mại điện tử là trang thông tin điện tử được thiết lập để phục vụ một phân hoặc toàn bộ quy trình cua hoạt động mua ban hàng hóa hay cung ứng dịch vu, từ trưng bày giới thiệu hàng hóa, dịch vụ cho đến giao kết hợp đồng, cung ứng dịch vụ, thanh toán và dich vụ sau bán hàng. Với cách hướng dẫn về khái niệm website thương mại điện tử như vậy, ta có thé thay doanh nghiệp khi đưa thông tin hang hóa dịch vụ lên website thì có thê cung cấp nhiều cách khác nhau cho phép khách hàng lựa chọn phương thức mua sắm mình mong muốn như đặt hàng trực tuyến, gọi điện thoại cho tổng đài hay đến mua trực tiếp tại cơ sở của doanh nghiệp. Trong khuôn khổ luận văn, tác giả chỉ đi sâu phân tích việc giao kết và thực hiện hợp đồng trên website thương mại điện tử, nghĩa là chỉ đề cập đến hình thức đặt hàng trực tuyến trên website thương mại điện tử. Cũng tại Nghị định 52/2013/NĐ-CP, tại khoản 12 Điều 3, chức năng đặt hàng trực tuyến đã được định nghĩa là: “là một chức năng được cài đặt trên website thương mại điện tử hoặc trên thiết bị dau cuối của khách hàng và kết nối với website thương mại điện tử dé cho phép khách lãi hàng khởi dau quá trình giao kết hop dong theo những điều khoản được công bố trên website đó, bao gom cả việc giao kết hợp đồng với hệ thong thông tin tự động”.
Nghị định tại Điều 25 cũng đã quy định về hình thức tô chức hoạt động thương mại điện tử trên website thương mại điện tử gồm có: 1. Website thương mại điện tứ ban hàng là website thương mại điện tử do các thương nhân, tô chức, cá nhân tự thiết lập dé phục vu hoạt động xúc tiến thương mại, bán hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ của mình. Website cung cấp dịch vụ thương mại điện tử là website thương mại điện tử do thương nhân, tổ chức thiết lập để cung cấp môi trường cho các thương nhân, tổ chức, cá nhân khác tiễn hành hoạt động thương mại. Website cung cấp dịch vụ thương mại điện tử bao gồm các loại sau: a) Sàn giao dịch thương mại điện tử; b) Website đấu giá trực tuyến; c) Website khuyến mại trực tuyến; d) Các loại website khác do Bộ Công Thương quy định.
Theo Báo cáo Thương mại điện tử 2014, sự tham gia các hình thức mua sắm trực tuyến của người dân theo thứ tự là website bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ (71%), diễn đàn mạng xã hội (53%), website mua hàng theo nhóm (35%), san giao dịch điện tử (25%), ứng dung mobile (13%) và hình thức khác (4%) [13, tr. Một website TMĐT có một số đặc điểm ưu việt có thé ké đến như sự tương tác, sự linh hoạt, mạng lưới liên kết rộng và đặc biệt là sự nhanh chóng đến mức ngay khi xảy ra sự kiện thì thông tin đã có thé được đưa lên website và cập nhật liên tục. Cac tờ rơi, poster quảng cáo về sản phẩm và địa điểm bán hàng chỉ có thể cung cấp cho khách hàng thông điệp về doanh nghiệp theo một chiều nhưng trong môi trường trực tuyến, sử dụng website là cách doanh nghiệp cam kết với khách hàng, lắng nghe và học hỏi từ phía khách hàng. Sự linh hoạt của website thê hiện ở chỗ người dùng có thê tiếp cận trang mạng ở bắt cứ đâu, vào bat cứ thời gian nào mà không bị hạn chế như việc trao đổi buôn bán thông thường.
12 Với những đặc điểm đó, website thương mại điện tử có rất nhiều lợi thế khi nó là sự kết hợp của truyền thông đa phương tiện và khả năng giao tiếp giữa các chủ thể với nhau. Giao kết hợp đồng trên website TMĐT giúp doanh nghiệp vừa mở rộng thị trường vừa giảm chi phi giao dịch cũng như tiết kiệm thời gian ký kết hợp đồng. Với ưu thé là sự kết nối internet toàn cầu, một doanh nghiệp khi đưa hàng hóa dịch vụ của mình lên website thì mọi người truy cập đều có thé tiếp cận được, không chỉ trong địa phương, quốc gia mà còn mở rộng trên toàn thé giới.