CHƯƠNG 1 MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VE HOP DONG DỊCH VỤ KIEM TOÁN 1. Khai quát về hợp đồng dịch vụ kiểm toán 1. Khái niệm về thương mại dịch vụ Dich vụ ra đời là sản phẩm của quá trình lao động sản xuất của con người nhăm phục vụ các nhu cầu của con người. Khác với các tài sản thông thường, dịch vụ là các “sản phẩm vô hình” nhưng cũng mang các thuộc tính về giá tri và giá tri sử dụng.
Dịch vụ là đối tượng hướng tới của nhiều nhóm quan hệ dân sự, kinh tế thương mại với nhiều chủ thê tham gia, mà nhà nước thông qua pháp luật cần điều chỉnh trong trật tự xã hội chung [6, tr. Thương mại dịch vụ là những hoạt động đầu tư tạo lập, phân phối, cung ứng, trao đổi dich vụ nhăm mục đích lợi nhuận. Về phương diện pháp lý, căn cứ cơ bản nhất để phân biệt giữa thương mại hàng hóa và thương mại dịch vụ chính là đối tượng của các giao dịch thương mại này. Nếu như đối tượng của giao dịch thương mại dịch vụ là các sản phẩm vô hình (dịch vụ), thì trong giao dịch thương mại hàng hóa, đối tượng của giao dich là hàng hóa — các sản phâm hữu hình.
Quá trình sản xuất và tiêu dùng hang hóa thường được tách biệt với nhau, trong khi quá trình tạo ra dịch vụ và tiêu dùng dịch vụ luôn diễn ra đồng thời. Tuy vậy, xét về bản chất của giao dịch, cung ứng dịch vụ cũng có tính chất của giao dịch mua bán (mua bán dịch vụ). Về phương diện lý luận, có thé hiểu pháp luật thương mai dich vụ là tông hợp các quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận dé xác định địa vị pháp ly của thương nhân và điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình đầu tư, sản xuất, cung ứng và tiêu dùng dich vu [6, tr. Khái niệm hợp đồng thương mại dịch vụ Cùng với thương mại dịch vụ, hợp đồng dịch vụ ra đời như một hình thức ghi nhận sự thỏa thuận của các bên khi tham gia vào hoạt động thương mại dịch vụ.
Luật thương mại 2005 chỉ có các quy định chung cho áp dụng cho hợp đồng dịch vụ chứ không đưa ra định nghĩa cụ thê về hợp đồng dịch vụ. Luật chỉ đưa ra khái niệm về cung ứng dịch vụ theo Khoản 9 Điều 3 như sau: “Cung ứng dịch vu là hoạt động thương mai, theo đó một bên (sau đây gọi là bên cung ứng dich vụ) có nghĩa vụ thực hiện dich vụ cho một bên khác và nhận thanh toán; bên sử dụng dịch vụ (sau đây gọi là khách hàng) có nghĩa vụ thanh toán cho bên cung ứng dịch vụ và sử dụng dịch vụ theo thỏa thuận ”. Còn Điều 518 Bộ luật dân sự 2005 (BLDS 2005) đưa ra quy định về hợp đồng dịch vụ nói chung như sau: “ Hop dong dich vụ là sự thỏa thuận giữa các bên, theo do bên cung ứng dịch vụ thực hiện công việc cho bên thuê dịch vụ, còn bên thuê địch vụ phải trả tiên dịch vụ cho bên cung ứng dịch vụ” Như vậy, từ phương diện khoa học pháp lý có thé hiểu: Hop đồng thương mại dich vụ là một dạng cu thể của hợp đồng trong hoạt động thương mại, là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc cham ditt các quyền và nghĩa vụ phát sinh trong hoạt động cung ứng, sử dụng dịch vụ. Ban thư ký WTO phân thương mại dịch vụ thành 12 khu vực bao gồm: dịch vụ kinh doanh; dịch vu thông tin; dịch vụ xây dựng va kỹ thuật; dịch vụ kinh tiêu; dich vụ đào tạo; dịch vụ môi trường; dịch vụ tài chính; dịch vụ liên quan đến sức khỏe và xã hội; dịch vụ du lịch và các hoạt động có liên quan; dịch vụ văn hóa, giải trí, thê thao, dịch vụ vận tai; các dịch vụ khác.
Nhu vậy có thé thay linh vuc thuong mai dich vu rat đa dang bao gồm nhiều ngành nghề khác nhau, mà hợp đồng dịch vu lại là su thỏa thuận của các bên tham gia dịch vụ đó, nên hợp đồng dịch vụ cũng rất phong phú. HĐDVKT chính là một trong các dang cụ thé của hợp đồng dịch vụ thông thường. Khái niệm hợp đồng dịch vụ kiểm toán Kiểm toán là một hoạt động kiểm tra tài chính, là hoạt động quản lý và kiểm soát về tài chính do một cơ quan nhà nước lập ra, một tô chức, một cá nhân mà pháp luật cho phép thực hiện thông qua việc kiểm tra và xác nhận tính trung thực, hợp pháp của các chứng từ số sách, báo cáo tài chính của một cơ quan, tô chức, một đơn vị kinh tế Nhà nước theo luật định. Phân loại theo chủ thé kiểm toán, ở Việt Nam hiện có 3 loại kiểm toán là kiểm toán nội bộ, kiểm toán nhà nước và kiểm toán độc lập.
Kiểm toán nội bộ là loại kiêm toán do các kiêm toán viên nội bộ của đơn vi tiên hành; phạm vi của kiểm toán nội bộ xoay quanh việc kiểm tra và đánh giá tính hiệu lực và tính hiệu quả của hệ thống kế toán và hệ thong kiểm soát nội bộ cũng như chất lượng thực thi trong những trách nhiệm được giao. Kiểm toán nhà nước là công việc kiểm toán do các cơ quan quan lý chức năng của nhà nước và co quan kiểm toán nhà nước tiến hành theo luật định; kiểm toán nhà nước thường tiến hành các cuộc kiểm toán tuân thủ, xem xét VIỆC chấp hành các chính sách, luật lệ và chế độ của nhà nước tại các đơn vị sử dụng vốn và kinh phí của nhà nước. Như vậy hoạt động kiểm toán nhà nước và kiểm toán nội bộ không mang tính thương mại dịch vụ nên khi đề cập đến khái nệm HDDVKT thì có thê hiểu đây là hợp đồng dịch vụ của loại hoạt động kiểm toán độc lập. Kiểm toán độc lập được tiễn hành bởi các kiểm toán viên độc lập thuộc các công ty, các văn phòng kiêm toán chuyên nghiệp; là loại hoạt động dịch vụ tư vẫn được pháp luật thừa nhận và bảo hộ, được quản lý chặt ché bởi các hiệp hội chuyên ngành về kiểm toán.
Nhu vậy, HDDVKT sẽ có sự tham gia của 2 bên chủ thé gồm bên cung cấp dịch vụ kiểm toán (DNKT) và bên sử dụng dịch vụ (các doanh nghiệp, đơn vị cần kiểm toán) với nội dung là sự thỏa thuận về việc thực hiện dịch vụ kiểm toán. Ở Việt Nam, khái niệm về HDDVKT chính thức được đưa ra lần đầu tiên trong Hệ thống chuẩn mực kiểm toán Việt Nam, Chuẩn mực số 210 về “Hợp đồng kiểm toán” (Ban hành theo Quyết định số 120/1999/QD - BTC ngày 27/09/1999 của Bộ trưởng bộ tài chính). Điều 4 Chuẩn mực số 210 về Hợp đồng kiểm toán có quy định như sau: “Hợp đồng kiểm todn: Là sự thoả thuận bằng văn bản giữa các bên tham gia ký kết (công ty kiểm toán, khách hàng) về các điều khoản và diéu kiện thực hiện kiểm toán của khách hàng va công ty kiểm toán”. LKTĐL ra đời cung cấp một khái niệm mới về HĐDVKT: “Hop đông kiểm toán là sự thỏa thuận giữa DNKT, chỉ nhánh DNKT nước ngoài tại Việt Nam với khách hàng về việc thực hiện dịch vụ kiểm toán”.
Khái niệm mới mở rộng hơn về đối tượng thực hiện dịch vụ kiểm toán cũng như chỉnh sửa lại về yêu cầu nội dung của HDDVKT sao cho súc tích, bao quát, chặt chẽ hơn, tao cơ sở pháp lý cho các hoạt động mà nó điều chỉnh. Nội dung khái quát của hợp đồng dịch vụ kiểm toán Nội dung của HĐDVKT là tổng hợp các quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ hợp đồng. Các bên tham gia hợp đồng thỏa thuận về các quyền và nghĩa vụ, giới hạn của sự thỏa thuận này là điều cắm của pháp luật và tính trái đạo đức xã hội. HDDVKT là một dạng cụ thé của hợp đồng nói chung.
Toàn bộ các quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ hợp đồng nói chung và HĐDVKT nói riêng được thé hiện dưới dang các điều khoản — bao gồm 3 loại: điều khoản cơ bản (bắt buộc phải có trong hop đồng, nếu thiếu thì hợp đồng không thé được hình thành), điều khoản thông thường (do pháp luật quy định, nếu hai bên không thỏa thuận thì vẫn mặc nhiên được công nhận) và điều khoản tùy nghỉ (hai bên tự thỏa thuận phù hợp với pháp luật) [7. HDDVKT chứa đựng đầy đủ các nội dung của một hợp đồng dân sự thông thường. Theo Điều 402 BLDS 2005 quy định về nội dung của hợp đồng dân sự bao gồm: Đối tượng của hợp đồng là tai sản phải giao, công việc phải làm hoặc không được làm; Số lượng, chất lượng; Giá, phương thương thanh toán; Thời hạn, địa điểm, phương thức thực hiện hợp đồng: Quyền, nghia vụ của các bên; Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng: Phat vi phạm; Các nội dung khác. Do HDDVKT có chủ thé hợp đồng chủ yếu là thương nhân, mục đích phổ biến của hợp đồng là hướng đến lợi nhuận (khoản tiền thu được khi hoàn thành dịch vụ) nên có thê xếp HĐDVKT là một loại của hợp đồng thương mai [3, tr.
Luật thương mại 2005 không quy định trong một hợp đồng thương mại, các bên bắt buộc phải thỏa thuận những nội dung cụ thé nào. Trong thực tiễn, các bên thỏa thuận nội dụng hợp đồng càng chi tiết càng thuận lợi cho việc thực hiện hợp đồng. Những quy định trong luật chỉ có tính định hướng cho các bên tập trung vào thỏa thuận các nội dung quan trọng của hợp đồng, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện, đồng thời phòng ngừa những tranh chấp xảy ra trong quá trình thực hiện hợp đồng. Căn cứ vào nội dung của mối quan hệ kinh tế, hợp đồng thương mại được chia thành các loại khác nhau: hợp đồng mua bán hàng hóa, hợp đồng vận chuyên hàng hóa, hợp đồng trong xây dựng cơ bản, hợp đồng trung gian thương mại, hợp đồng cung ứng dịch vụ, hợp đồng tín dụng, hợp đồng trong lĩnh vực đầu tư.HĐDVKT chính là loại hợp đồng cung ứng dịch vu, vậy ngoài chứa đựng các nội dung của hợp đồng thương mại thông thường còn chứa đựng các nội dung riêng có của loại hợp đồng dịch vụ, bao gồm: Đối tượng của hợp đồng là một công việc có thé thực hiện được mà cụ thé hơn là thực hiện công việc kiểm toán; Các quyền, nghĩa vụ đặc trưng của hai bên; Thời hạn hoàn thành dịch vụ; Giá dịch vụ, Thời hạn thanh toán.