Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong cơ cấu ngành nông nghiệp Việt Nam, ngành chăn nuôi đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế quốc dân, trong đó chăn nuôi lợn chiếm vị trí chủ đạo nhờ khả năng đáp ứng nhu cầu thực phẩm nội địa, cung cấp nguồn phân bón cho trồng trọt và thúc đẩy các ngành công nghiệp chế biến. Bên cạnh các giống lợn hướng nạc năng suất cao, xu hướng chăn nuôi các giống lợn địa phương và lợn lai giữa lợn địa phương với lợn rừng ngày càng mở rộng do chất lượng thịt thơm ngon, phù hợp thị hiếu tiêu dùng. Tuy nhiên, sự phát triển này đối mặt với nhiều thách thức dịch bệnh, đặc biệt là hội chứng bệnh đường hô hấp. Bệnh đường hô hấp ở lợn có đặc tính lây lan nhanh, tác động kéo dài, mầm bệnh lưu cữu trong cơ thể gây khó khăn cho công tác phòng trừ, làm tăng chi phí điều trị và kéo dài liệu trình dùng thuốc.

Xuất phát từ thực tiễn sản xuất tại cơ sở, đề tài "Nghiên cứu Hội chứng bệnh đường hô hấp trên đàn lợn rừng thuộc Chi nhánh Công ty Nghiên cứu và Phát triển động thực vật bản địa và khảo nghiệm một số phác đồ điều trị" được thực hiện bởi sinh viên Triệu Văn Chung, dưới sự hướng dẫn của PGS.TS. Trần Văn Phùng tại Trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên (năm 2013).

Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể gồm hai nhiệm vụ:

  1. Xác định tỷ lệ lợn rừng bị nhiễm bệnh đường hô hấp tại Trại chăn nuôi động vật bán hoang dã thuộc Chi nhánh Công ty Nghiên cứu và Phát triển động thực vật bản địa.
  2. Khảo nghiệm hiệu quả của một số phác đồ điều trị làm cơ sở cho việc kiểm soát và điều trị hội chứng bệnh đường hô hấp tại trại.

Về đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Đàn lợn rừng giai đoạn từ 2 tháng tuổi trở lên.
  • Phạm vi không gian: Trại chăn nuôi động vật bán hoang dã thuộc Chi nhánh Công ty Nghiên cứu và Phát triển động thực vật bản địa (thuộc Công ty Cổ phần khai khoáng miền núi), đặt tại xã Tức Tranh, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên.
  • Phạm vi thời gian: Đề tài được tiến hành từ ngày 03 tháng 06 năm 2013 đến ngày 10 tháng 11 năm 2013.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng hệ thống cơ sở lý thuyết dựa trên các tài liệu chuyên ngành thú y về sinh lý bộ máy hô hấp, dịch tễ học và bệnh lý học thú y:

  • Cơ sở sinh lý học bộ máy hô hấp: Quá trình hô hấp gồm hô hấp ngoài (trao đổi khí ở phổi qua phế nang), hô hấp trong (sử dụng oxy ở mô bào) và quá trình vận chuyển khí. Cơ thể động vật cần 6 - 8 ml O₂/phút và thải ra 250 ml CO₂/phút. Tần số hô hấp bình thường của lợn là 10 - 20 lần/phút; khi mắc bệnh đường hô hấp, tần số này biến đổi rõ rệt.
  • Các tác nhân vi sinh và ký sinh trùng gây bệnh đường hô hấp phổ biến ở lợn:
    • Vi khuẩn Mycoplasma hyopneumoniae: Gây bệnh suyễn lợn (viêm phổi địa phương), lây truyền qua đường hô hấp, biểu hiện ho kéo dài vào sáng sớm và chiều tối, bệnh tích viêm phổi kính và tụy tạng hóa tập trung ở thùy đỉnh và thùy tim.
    • Vi khuẩn Actinobacillus pleuropneumoniae: Gây bệnh viêm phổi - màng phổi, tiến triển qua các thể quá cấp, cấp tính và mãn tính, đặc trưng bởi triệu chứng thở thể bụng, màng phổi viêm dính fibrin và gan hóa phổi.
    • Vi khuẩn Pasteurella multocida: Căn nguyên gây bệnh tụ huyết trùng và viêm phổi kế phát ở giai đoạn cuối của tổn thương phổi.
    • Các loại virus: Coronavirus (viêm phổi truyền nhiễm), virus Cúm A (H1N1, H1N2, H3N2), virus gây Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn (PRRS - thuộc họ Togaviridae, virus ARN chủng Lelystad).
    • Ký sinh trùng: Giun phổi Metastrongylus ký sinh tại phế quản và ấu trùng giun đũa Ascaris suum di hành qua phổi.
  • Nguyên tắc điều trị: Kết hợp triệt để giữa loại trừ căn nguyên bằng kháng sinh đặc hiệu với điều trị triệu chứng (thuốc giảm đau hạ sốt, long đờm, giãn phế quản như Bromhexine, Analgin C), trợ sức trợ lực (Vitamin C, B.complex) và cải thiện chế độ nuôi dưỡng, vệ sinh tiểu khí hậu chuồng nuôi.

Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm và điều tra thực tế gồm:

  • Phương pháp điều tra dịch tễ: Áp dụng phương pháp điều tra dịch tễ bệnh đường hô hấp ở lợn theo Laval. Toàn bộ đàn lợn rừng từ 2 tháng tuổi trở lên được lập sổ sách theo dõi cá thể dựa trên số tai. Cán bộ nghiên cứu trực tiếp quan sát đàn lợn 2 lần/ngày vào buổi sáng sớm và chiều tối nhằm phát hiện các triệu chứng ho, ho khan, khó thở, thở thể bụng và nhịp thở tăng.
  • Phương pháp phân loại chỉ tiêu theo dõi:
    • Phân nhóm theo 5 lứa tuổi: Từ 2 đến dưới 3 tháng tuổi; từ 3 đến dưới 4 tháng tuổi; từ 4 đến 5 tháng tuổi; từ 5 đến 6 tháng tuổi; từ 6 đến 7 tháng tuổi.
    • Phân nhóm theo thời gian: Giám sát liên tục hàng tháng từ tháng 6 đến tháng 11 năm 2013.
  • Phương pháp bố trí thí nghiệm khảo nghiệm phác đồ điều trị: Lựa chọn 20 lợn mắc bệnh có triệu chứng hô hấp điển hình, phân chia ngẫu nhiên thành 2 lô thí nghiệm đồng đều về thể trạng, mức độ bệnh và điều kiện chăm sóc (10 con/lô):
    • Phác đồ 1: Sử dụng kháng sinh Han Flor LA (hoạt chất Florfenicol) tiêm bắp liều 1 ml/20 kg thể trọng, tiêm nhắc lại sau 48 giờ; kết hợp Bromhexine 0,3% liều 1 ml/5 - 7 kg thể trọng (1 lần/ngày) để giãn phế quản, long đờm; bổ sung Vitamin C và B.complex.
    • Phác đồ 2: Sử dụng phối hợp kháng sinh Pneuomotic (tiêm bắp 1 ml/5 - 7 kg thể trọng vào buổi sáng) và Kanatialin (tiêm bắp 1 ml/5 - 7 kg thể trọng vào buổi chiều); kết hợp thuốc Analgin C (tiêm bắp 1 ml/10 - 12 kg thể trọng, 2 lần/ngày) để giảm đau, hạ sốt và nâng cao thể trạng.

Nguồn dữ liệu sử dụng trong văn bản:

  • Dữ liệu địa lý, tự nhiên, dân sinh và thống kê diện tích đất đai từ UBND xã Tức Tranh (năm 2013).
  • Dữ liệu cơ cấu đàn vật nuôi, nhật trình sản xuất, công tác tiêm phòng và điều trị bệnh tại Trại chăn nuôi động vật bán hoang dã thuộc Chi nhánh Công ty Nghiên cứu và Phát triển động thực vật bản địa.
  • Dữ liệu ghi chép lâm sàng trực tiếp trên đàn lợn rừng từ tháng 6 đến tháng 11 năm 2013.

Nội dung chính theo từng chương

Phần I: Công tác phục vụ sản xuất

Phần này ghi nhận toàn bộ kết quả thực tập nghề nghiệp của sinh viên tại Trại chăn nuôi động vật bán hoang dã thuộc Chi nhánh Công ty Nghiên cứu và Phát triển động thực vật bản địa, xã Tức Tranh, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên:

  • Điều tra cơ bản về địa bàn: Xã Tức Tranh có tổng diện tích tự nhiên là 2559,35 ha, trong đó đất nông nghiệp chiếm 1180,3 ha (46,11%), đất lâm nghiệp 791,67 ha (30,95%), đất ở 428,3 ha (16,74%), đất xây dựng phúc lợi xã hội 156,08 ha (6,08%) và đất chưa sử dụng 3 ha (0,12%). Dân số toàn xã gồm 2.050 hộ với 8.905 nhân khẩu, hơn 80% làm nông nghiệp. Cây chè là cây trồng chủ lực với diện tích 1011,3 ha (đạt 0,111 ha chè/người). Tổng đàn gia súc gia cầm của xã gồm 338 trâu bò, 1.970 lợn và 13.220 gia cầm.
  • Thực trạng cơ sở thực tập: Trại chăn nuôi bán hoang dã được thành lập từ năm 2006 với tổng diện tích 6 ha, phân bổ thành: khu nhà ở và nhà kho 0,05 ha; đất trồng cây ăn quả 2 ha; khu chăn nuôi lợn 0,35 ha; đất trồng cỏ 2,5 ha; khu nuôi hươu nai 0,1 ha; khu chăn nuôi ngựa 1,0 ha. Cơ cấu đàn vật nuôi của trại tại thời điểm thực tập gồm 10 con hươu Sao, 28 con ngựa Bạch và 250 con lợn rừng (gồm 3 đực giống, 25 lợn nái sinh sản, 8 lợn nái hậu bị, cùng đàn lợn con theo mẹ, lợn cai sữa và lợn choai).
  • Công tác phục vụ sản xuất đã thực hiện:
    • Công tác giống: Tác giả trực tiếp ghép đôi giao phối cho 17 lợn nái rừng theo phương thức nhảy trực tiếp (phối vào cuối ngày động dục thứ 2 và phối lặp vào sáng hôm sau); kết quả có 15 nái thụ thai ngay lần 1, đạt tỷ lệ phối giống 88,23%. Tham gia tuyển chọn ngoại hình 10 lợn đực giống và 30 lợn nái hậu bị xuất bán cho các cơ sở chăn nuôi miền núi phía Bắc.
    • Chăm sóc, nuôi dưỡng: Quản lý kỹ thuật nuôi dưỡng 8 lợn nái hậu bị (khẩu phần 0,5 - 0,6 kg thức ăn tinh, 0,05 - 0,06 kg đậm đặc, 1 - 1,5 kg rau xanh/con/ngày; tăng 25 - 30% trước khi phối giống); chăm sóc lợn nái chửa kỳ I và kỳ II (tăng 20% khẩu phần ở kỳ II); trực và đỡ đẻ an toàn cho 15 lợn nái; quản lý 15 lợn nái nuôi con với khẩu phần tùy biến theo thể trọng mẹ và số con sinh; nuôi dưỡng 3 lợn đực giống (bổ sung trứng gà và ngô nảy mầm); chăm sóc 5 đàn lợn thịt với tổng số 140 con.
    • Công tác thú y và điều trị: Thực hiện tiêm phòng các loại vắcxin Dịch tả chủng C, Tụ dấu đa giá, Lở mồm long móng, Tai xanh cho đàn lợn; tham gia điều trị các bệnh phổ biến tại trại gồm bệnh phân trắng lợn con, tiêu chảy và hội chứng hô hấp.

Phần 2: Chuyên đề nghiên cứu khoa học

Chuyên đề đi sâu nghiên cứu hội chứng bệnh đường hô hấp trên đàn lợn rừng tại cơ sở:

  • Đặt vấn đề và tổng quan tài liệu: Hệ thống hóa tài liệu trong nước (nghiên cứu của Phạm Sĩ Lăng, Nguyễn Ngọc Nhiên, Cù Hữu Phú, Nguyễn Xuân Bình, Trịnh Phú Ngọc) và ngoài nước (Buttenschon, Carter, Herenda, Clifton-Hadley, Katri Nevolen) về căn nguyên, bệnh lý, cơ chế tạo tổn thương phổi của các vi khuẩn Mycoplasma, Actinobacillus, Pasteurella và virus PRRS.
  • Thiết kế phương pháp nghiên cứu dịch tễ: Xác định tỷ lệ mắc bệnh đường hô hấp theo lứa tuổi và theo thời gian (các tháng 6, 7, 8, 9, 10, 11) trên đàn lợn rừng từ 2 tháng tuổi trở lên thông qua việc kiểm tra triệu chứng lâm sàng định kỳ vào buổi sáng sớm và chiều tối.
  • Phương pháp thử nghiệm điều trị: Thiết lập thí nghiệm so sánh giữa hai phác đồ dùng thuốc (Phác đồ 1 dùng Han Flor LA + Bromhexine + thuốc bổ; Phác đồ 2 dùng Pneuomotic + Kanatialin + Analgin C), mỗi lô 10 con để đánh giá khả năng cắt cơn ho, phục hồi tần số hô hấp, tỷ lệ khỏi bệnh và sự ổn định của đàn lợn rừng.

Kết quả và đóng góp

Kết quả công tác thú y và phòng trị bệnh tại cơ sở

Trong thời gian thực tập tại trại chăn nuôi, tác giả đã tham gia triển khai toàn diện công tác tiêm phòng định kỳ và điều trị các bệnh nội, ngoại khoa cho đàn vật nuôi:

Bảng 1: Kết quả thực hiện tiêm phòng vắcxin trên đàn lợn tại trại

STT Loại vắcxin Lợn đực (con) Lợn nái (con) Lợn thịt (con) Tổng số con tiêm (con)
1 Dịch tả (nhược độc chủng C) 3 25 132 160
2 Tụ dấu (nhược độc đa giá) 3 25 127 155
3 Lở mồm long móng 3 25 0 22
4 Tai xanh (PRRS) 3 25 122 150

(Ghi chú: Lợn nái và lợn đực được tiêm vắcxin dịch tả ngày 05/08/2013, tụ dấu ngày 18/08/2013, lở mồm long móng ngày 12/09/2013. Đàn lợn con tiêm dịch tả lúc 30 và 60 ngày tuổi; tụ dấu lúc 65 ngày tuổi; lở mồm long móng lúc 75 ngày tuổi).

Bảng 2: Kết quả công tác điều trị một số bệnh lâm sàng tại trại

STT Loại bệnh Số con điều trị (con) Số con khỏi (con) Tỷ lệ khỏi (%)
1 Bệnh phân trắng lợn con 95 90 94,73
2 Hội chứng hô hấp 60 54 88,89
3 Hội chứng tiêu chảy 30 28 93,33

Đối với công tác phối giống nhân đàn, tác giả đã trực tiếp thực hiện ghép đôi giao phối cho 17 lợn nái rừng, trong đó có 15 nái đậu thai ngay từ lần phối đầu tiên, đạt tỷ lệ thụ thai 88,23%. Đồng thời, tuyển chọn đạt tiêu chuẩn giống cho 10 lợn đực và 30 lợn nái hậu bị.

Đóng góp thực tiễn và giải pháp kiến nghị

  • Đóng góp thực tiễn: Khóa luận cung cấp hệ thống số liệu thực nghiệm về quy trình phối giống, khẩu phần thức ăn chi tiết cho từng giai đoạn sinh lý của lợn rừng nuôi bán hoang dã tại vùng trung du Thái Nguyên; đồng thời ghi nhận kết quả đáp ứng lâm sàng thực tế của đàn lợn đối với các phác đồ điều trị kháng sinh kết hợp thuốc hạ sốt, long đờm.
  • Kiến nghị của tác giả đối với trại chăn nuôi:
    • Cần đầu tư xây dựng hệ thống kho chứa thức ăn đạt chuẩn nhằm tránh ẩm mốc, biến chất.
    • Lắp đặt hệ thống vòi nước uống tự động và hệ thống làm mát chuồng trại trong mùa nắng nóng.
    • Củng cố và mở rộng khu vực cách ly kiểm dịch gia súc mới nhập hoặc gia súc ốm nhằm ngăn ngừa triệt để nguy cơ lây lan mầm bệnh trong toàn trại.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu:

  • Phạm vi không gian nghiên cứu giới hạn tại một cơ sở chăn nuôi duy nhất (Trại chăn nuôi động vật bán hoang dã xã Tức Tranh), chưa mở rộng khảo sát đối chứng tại các nông hộ hay trang trại lợn rừng khác trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên.
  • Thời gian nghiên cứu thực địa diễn ra trong 5 tháng (từ tháng 6 đến tháng 11 năm 2013), chưa bao quát đủ chu kỳ biến động thời tiết trọn vẹn cả năm, đặc biệt là giai đoạn rét đậm rét hại kéo dài của vụ Đông Xuân (tháng 12 đến tháng 2 năm sau).
  • Quy mô mẫu thử nghiệm phác đồ điều trị chuyên biệt dừng lại ở mức 20 con (chia 2 lô, mỗi lô 10 con).
  • Phương pháp chẩn đoán tại cơ sở chủ yếu dựa trên quan sát triệu chứng lâm sàng và dịch tễ học thực địa; chưa kết hợp mổ khám bệnh tích hay xét nghiệm sinh học phân tử (PCR), nuôi cấy phân lập vi khuẩn chuyên sâu trên từng cá thể điều trị do yêu cầu bảo toàn đàn giống của trại.

Hướng nghiên cứu tiếp:

  • Mở rộng theo dõi dịch tễ học bệnh đường hô hấp trên đàn lợn rừng qua cả 4 mùa trong năm nhằm đánh giá chính xác tác động của các đợt không khí lạnh, mưa phùn ẩm ướt đối với tỷ lệ mắc bệnh.
  • Kết hợp lấy mẫu bệnh phẩm dịch ngoáy mũi, xét nghiệm kháng sinh đồ để kiểm tra mức độ mẫn cảm và tính kháng thuốc của các chủng vi khuẩn thực tế tại trại.
  • Đánh giá chi tiết chỉ tiêu kinh tế, so sánh hạch toán chi phí tiền thuốc/con khỏi bệnh giữa các phác đồ điều trị khi mở rộng quy mô đàn.

Giá trị tham khảo

Bản khóa luận có giá trị tham khảo thiết thực cho các nhóm đối tượng:

  • Sinh viên chuyên ngành Chăn nuôi, Thú y: Cung cấp tài liệu thực tế về phương pháp điều tra dịch tễ thú y theo Laval, kỹ thuật nhận biết triệu chứng hô hấp ở gia súc, và cách bố trí thí nghiệm so sánh phác đồ điều trị thực địa.
  • Kỹ thuật viên trang trại và người chăn nuôi lợn rừng, lợn lai: Tham khảo trực tiếp quy trình phối giống trực tiếp cho lợn rừng (tỷ lệ thành công 88,23%), định lượng khẩu phần thức ăn hỗn hợp (thức ăn tinh, cám đậm đặc kết hợp cây chuối, rau lang, cỏ voi) theo từng giai đoạn nái hậu bị, nái chửa, nái đẻ, nuôi con và lợn thịt.
  • Cán bộ thú y cơ sở: Cung cấp lịch trình tiêm phòng vắcxin thực tế cho đàn lợn rừng và các công thức phối hợp thuốc kháng sinh (Florfenicol, Pneuomotic, Kanatialin) cùng thuốc long đờm Bromhexine và giảm đau hạ sốt Analgin C trong điều trị hội chứng ho, khó thở ở lợn.

Câu hỏi thường gặp

1. Cơ cấu đàn lợn rừng tại Trại chăn nuôi động vật bán hoang dã ở thời điểm nghiên cứu gồm bao nhiêu con?
Trại có tổng số 250 con lợn rừng, trong đó có 3 lợn đực giống, 25 lợn nái sinh sản, 8 lợn nái hậu bị, số còn lại là lợn con theo mẹ, lợn con cai sữa và lợn choai.

2. Khẩu phần thức ăn hàng ngày cho lợn nái rừng chửa kỳ I và kỳ II được tác giả áp dụng như thế nào?

  • Lợn nái chửa kỳ I: 0,5 kg thức ăn tinh, 0,05 kg đậm đặc và 1,0 - 2,0 kg thức ăn thô xanh/con/ngày.
  • Lợn nái chửa kỳ II: Khẩu phần tăng thêm 20% so với kỳ I, đạt 0,6 kg thức ăn tinh, 0,06 kg đậm đặc và 1,0 - 1,5 kg thức ăn thô xanh/con/ngày. Đối với nái gầy hoặc khi thời tiết mùa đông dưới 15°C, khẩu phần thức ăn tinh được bổ sung thêm 20%.

3. Đàn lợn nái sinh sản và lợn đực giống tại trại được tiêm những loại vắcxin nào trong thời gian thực tập?
Đàn lợn nái (19 con) và lợn đực giống (2 con) được tiêm phòng 3 loại vắcxin theo lịch cụ thể: vắcxin dịch tả tiêm ngày 05/08/2013; vắcxin tụ dấu tiêm ngày 18/08/2013; vắcxin lở mồm long móng tiêm ngày 12/09/2013.

4. Hai phác đồ khảo nghiệm điều trị bệnh đường hô hấp ở lợn rừng sử dụng những loại thuốc nào?

  • Phác đồ 1: Kháng sinh Han Flor LA (Florfenicol) tiêm bắp 1 ml/20 kg thể trọng (cách 48 giờ tiêm 1 lần), kết hợp Bromhexine 0,3% tiêm bắp 1 ml/5 - 7 kg thể trọng (1 lần/ngày) và bổ trợ Vitamin C, B.complex.
  • Phác đồ 2: Kháng sinh Pneuomotic (tiêm bắp 1 ml/5 - 7 kg thể trọng vào buổi sáng) phối hợp Kanatialin (tiêm bắp 1 ml/5 - 7 kg thể trọng vào buổi chiều), kết hợp Analgin C tiêm bắp 1 ml/10 - 12 kg thể trọng (2 lần/ngày).

5. Kết quả điều trị hội chứng bệnh đường hô hấp trong toàn bộ đợt thực tập tại trại đạt tỷ lệ bao nhiêu?
Trong công tác phục vụ sản xuất tại trại, tác giả đã tham gia điều trị cho 60 con lợn mắc hội chứng đường hô hấp, trong đó có 54 con khỏi bệnh, đạt tỷ lệ điều trị thành công 88,89%.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Triệu Văn Chung phản ánh toàn diện công tác chăn nuôi, thú y thực tế và chuyên đề nghiên cứu hội chứng bệnh đường hô hấp trên đàn lợn rừng tại Trại chăn nuôi động vật bán hoang dã xã Tức Tranh, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên. Công trình cung cấp hệ thống số liệu cụ thể về cơ cấu đàn, khẩu phần dinh dưỡng cho từng lứa tuổi lợn rừng, kết quả tiêm phòng và tỷ lệ điều trị khỏi 88,89% đối với bệnh đường hô hấp. Hai phác đồ điều trị khảo nghiệm dựa trên kháng sinh Florfenicol và phối hợp Pneuomotic - Kanatialin kết hợp thuốc hỗ trợ hô hấp là căn cứ kỹ thuật hữu ích phục vụ công tác kiểm soát dịch bệnh cho các mô hình nuôi lợn rừng bán hoang dã.