CHƯƠNG I. KHÁI NIỆM Học thuyết Dấu hiệu (The Doctrine of Signatures - DOS) là một lý thuyết được trích dẫn rộng rãi nhằm giải thích cách mà con người phát hiện ra công dụng chữa bệnh của một số loài thực vật. Theo DOS, các đặc điểm vật lý của thực vật bao gồm hình dạng, màu sắc, cấu trúc, mùi vị cho thấy giá trị chữa bệnh của chúng [1]. Một nhà sinh lý học thực vật và nhà sử học đã giải thích một cách ngắn gọn học thuyết như sau: “… mọi loài thực vật có đặc tính y học hữu ích đều mang dấu ấn của nó ở một nơi nào đó giống như cơ quan hoặc bộ phận của cơ thể mà nó có tác dụng chữa bệnh” [2].
Ví dụ phù hợp với định nghĩa hình thái cổ điển này bao gồm rễ cuộn của cây ba gạc hoa đỏ Ấn Độ (Rauvolfia serpentina, họ Trúc đào) để trị rắn cắn hay bọ cạp cắn [3], quả của cây óc chó (Juglans regia, họ Juglandaceae) để cải thiện trí nhớ [4, 5] và đậu thận (Phaseolus vulgaris, họ Đậu) giúp chữa bệnh và duy trì chức năng của thận [5, 6] Nguyên tắc cơ bản của học thuyết về dấu hiệu là tất cả các sinh vật đều có tương quan với nhau. Dựa trên những liên kết này, chúng hình thành các hệ thống quan hệ bên trong độc lập với các đơn vị phân loại sinh học. Sự tương đồng giữa sinh vật trong tự nhiên và con người tồn tại dưới dạng hình thức, màu sắc, mùi, nhưng cũng có thể ở các khía cạnh dịch thể, bệnh lý và chiêm tinh. Chúng được phân bổ cho các danh mục như nguyên tố, hành tinh hoặc tính năng.
Thực vật và động vật hoặc các bộ phận của chúng cùng loại với bệnh có thể được sử dụng để chữa bệnh. Học thuyết Dấu hiệu rõ ràng là một mô hình giải thích phi khoa học, tiền hiện đại của thế giới [6]. 3 Luan van Bảng 1.1: Một số ví dụ minh họa về giá trị y học tiềm năng của DOS Tên thông Tên khoa học Giống loài Dấu hiệu Tác dụng thường y học Hoàng liên Ranunculus Họ Lá có các Sử dụng [7] ficaria Ranunculaceae nốt sần điều trị giống hạt mụn cóc mụn và bệnh trĩ Lá gan Hepatica Họ Các lá có Chữa [8] nobilis Ranunculaceae hình dạng bệnh về giống như gan lá gan của người Óc chó Juglans regia Họ Juglandaceae Quả óc chó Điều trị [4, 5, 9] L. có hình vết dạng giống thương ở não người đầu và bệnh về não.
Cải thiện trí nhớ và tăng trí thông minh 4 Luan van Phong lan Ophrys spp., Họ Orchidaceae Rễ có hình Cải thiện [5] Serapias spp. tinh hoàn sinh lý Và các chi giới tính liên quan Nhân sâm Panax Họ Araliaceae Có rễ Tăng [5, 9] ginseng giống với cường hình dáng năng con người lượng và sức khỏe. Cải thiện sinh lý giới tính Cây liễu Salix spp. Họ Salicaceae Cành dẻo Hạ sốt, [9] dai, vị trí giảm đau sinh trưởng ẩm ướt và khắc nghiệt Húng quế Ocimum Họ Lamiaceae Rễ phát Tác động [5] basilicum L.
triển nhiều có lợi lên giống hệ hệ thống thống hạch hạch bạch huyết bạch huyết 5 Luan van Tầm gửi Viscum album Họ Santalaceae Là loài ký Được sử [5] L. sinh hút dụng nước, muối trong liệu và dinh pháp điều dưỡng từ trị ung cây chủ thư với giả định rằng cũng làm mất chất dinh dưỡng để phát triển khối u Địa du Sanguisorba Họ Rosaceae Đầu hoa Cầm máu [5] officinalis L. màu đỏ như máu Cỏ đuôi chuông, Briza media Họ Poaceae Hoa của Chống cỏ Quaking cây có hình tim đập [9] tim rung nhanh rinh trong gió 6 Luan van Cây tỳ bà diệp Asplenim Họ Aspleniaceae Sau khi lá Chống [9] trichmanes L. rụng rụng tóc xuống, các trục lá trông như một chùm tóc Eyebright hoặc Euphrasia Họ Có hoa Chống Euphrasy rostkoviana Orobanchaceae giống mắt viêm kết [5] Hayne mạc viêm bờ mi Aconite hoặc Aconitum Họ Có hoa Điều trị Wolfsbane napellus Ranunculaceae giống mắt các vấn [7] đề về mắt Chùm nho Vitis vinifera Họ Vitaceae Chùm nho Giảm [5] có hình nguy cơ dáng giống ung thư phổi, đặc phổi và biệt là các khí thũng phế nang 7 Luan van Cà chua Solanum Họ Solanaceae Có bốn Tác dụng [5] lycopersicum buồn giống tốt lên như trái tim và tim và có máu màu đỏ Lạc (đậu phộng) Archis Họ Fabaceae Hạt lạc có Cải thiện [5] hypogaea hình dáng sinh lý giống tinh giới tính hoàn Bơ Persea Họ Lauraceae Quả bơ có Tác dụng [5] americana hình dáng tốt lên tử giống như cung và tử cung của cổ tử phụ nữ cung.
Cân bằng nội tiết tố, ngăn ngừa ung thư cổ tử cung Khoai lang Ipomoea Họ Có hình Ổn định [5] batatas Convolvulaceae dáng giống chỉ số tuyến tụy đường huyết của bệnh nhân bị tiểu đường 8 Luan van Ô liu Olea Họ Oleaceae Quả kết Hỗ trợ [5] europaea thành từng sức khỏe chùm và cải giống thiện buồng chức trứng của năng phụ nữ buồng trứng Sung Ficus Họ Moraceae Quả sung Cải thiện [5] racemosa có nhiều khả năng hạt và di chuyển thường treo của tinh thành hai trùng, sau khi tăng số chín hoàn lượng toàn tinh trùng và khắc phục tình trạng vô sinh ở nam giới 1. LỊCH SỬ RA ĐỜI VÀ PHÁT TRIỂN Trong suốt lịch sử y học của con người, chúng ta sử dụng thực vật, khoáng vật, động vật làm thuốc để điều trị bệnh và các cơ quan trên cơ thể có màu sắc, hình dạng hoặc thậm chí tên gọi tương tự như triệu chứng của bệnh. Tippo và Stern nói rằng: “Trong nhiều trường hợp, niềm tin vững chắc vào lòng tốt của Đức Chúa Trời, Đấng ban cho mọi thứ trên Trái Đất, cho dân chúng của Ngài đã làm nảy sinh ra Học thuyết về Dấu hiệu, học thuyết này 9 Luan van cho rằng chìa khóa để con người sử dụng các công dụng của thực vật được ẩn trong chính thực vật; người ta chỉ có thể nhìn kỹ” [10]. Trải dài từ thời cổ đại, các ứng dụng liên quan đến DOS đã phổ biến rộng rãi, nhưng các học giả hiếm khi đưa ra lời giải thích rõ ràng về nguồn gốc của triết lý y học phổ biến này.
Một số nhấn mạnh rằng DOS có nguồn gốc từ Trung Quốc và lan rộng khắp châu Âu trong thời Trung cổ, điều này dường như khó xảy ra, do sớm đề cập đến các ứng dụng liên quan đến DOS ở La Mã cổ đại. Số học giả hiện đại lại có ý kiến cho rằng DOS những người Ai Cập cổ đại là người đầu tiên bắt nguồn kiến thức y học của họ từ những dấu hiệu này. Trong khi một số nhà khoa học hay nhà thực vật học khác đã đưa ra quan điểm rằng DOS là phổ biến vì các ứng dụng tương tự đã được tìm thấy ở châu Á cổ đại, Hy Lạp cổ đại, châu Âu Trung cổ và châu Mỹ thời tiền Colombo. Những người khác lại cho rằng đó là một ý tưởng xuất phát từ châu Âu và đã có ghi chép bằng văn bản.
Học thuyết Dấu hiệu được trích dẫn rộng rãi trong các tài liệu về cây thuốc. Theo lý thuyết, một số thuộc tính vật lý của thực vật là dấu hiệu để chỉ ra giá trị chữa bệnh của chúng. Pliny the Elder, Dioscorides và các học giả cổ điển đầu tiên khác ủng hộ lý thuyết này, nhưng nó được triển khai rộng rãi nhất bởi Paracelsus và những người theo ông trong thời Trung cổ. Nhà thần bí tôn giáo người Đức Jakob Böhme và các nhà thảo được người Anh Nicholas Culpeper và William Cole là một trong những người ủng hộ mạnh mẽ nhất Học thuyết này.
Bắt đầu từ giữa những năm 1500, các học giả bắt đầu chỉ trích khái niệm Dấu hiệu. Bác sĩ và nhà thảo dược học người Flemish Rembert Dodoens có lẽ là người đầu tiên thách thức tính khoa học của nó. Nhà tự nhiên học người Anh John Ray cũng chỉ trích lý thuyết này. Các học giả hiện đại gần như coi thường Học thuyết Dấu hiệu, gọi nó là vô lý, huyền ảo, xa vời, và giả khoa học.
Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu tiếp tục coi học thuyết này là lý do mà nhiều loài thực vật được chọn làm thuốc. Đánh giá kỹ lưỡng về Học thuyết Dấu hiệu cho thấy rằng nó không có nhiều giá trị trong điều trị bệnh. Thay vào đó, Học thuyết này đóng vai trò như một phương tiện ghi nhớ, điều này đặc biệt quan trọng trong các nền văn hóa tiền kim loại [10]. Sự ra đời của DOS Một số người tin rằng Đấng Toàn năng đã đặt dấu hiệu của Ngài trên các phương tiện khác nhau để chữa trị bệnh tật của con người.
Vào năm 1669, Oswald Crollius đã viết: “Tất cả các loại thảo mộc, hoa, cây cối và những thứ khác xuất phát từ Trái Đất, đều là sách và các dấu hiệu ma thuật, được truyền đạt cho chúng ta, bởi lòng thương xót bao la của Thượng đế, các dấu hiệu đó là thuốc cho chúng ta… Đối với mọi thứ thuộc về bản chất, hãy dựa vào hình ảnh bên ngoài của thuộc tính huyền bí của nó…” [10]. Học thuyết Dấu hiệu có mặt ở khắp nơi. Nhà nhân chủng học William Bale và những người khác đã gợi ý rằng nó như một hiện tượng và hiện tượng này khá phổ biến. Theo nhà khảo sát thế kỷ XIX của khu vực Grand Canyon (Hoa Kỳ), JW Powell, “Tất cả các bộ lạc Mỹ đều có niềm tin sâu sắc vào Học thuyết Dấu hiệu…”.
BE Read, một nhà dược học đầu thế kỷ XX đã viết rằng DOS là “được trích dẫn nhiều trong Phương Đông và Huyền bí”. Học thuyết này thường xuyên xuất hiện trong các văn bản thực vật thời Trung cổ “do niềm tin rộng rãi vào học thuyết về dấu hiệu”. DOS được đề cập đến trong các tài liệu cổ của Hy Lạp về cây thuốc. Các yếu tố của học thuyết hiện diện trong các tác phẩm của Hippocrates, mặc dù ông cũng ủng hộ nguyên tắc rằng các mặt đối lập được chữa khỏi bởi các mặt đối lập của chúng - phản đề của DOS.
Hơn nữa, Fielding Garrison lập luận rằng đối với các loại thuốc làm từ động vật, y học Hy Lạp không áp dụng nguyên tắc này [11]. Các nhà thảo dược châu Âu đã sử dụng mủ vàng của cây hoàng liên (Chelidonium majus, họ Piperaceae) để chữa bệnh gan. Trong bài tường thuật của mình về cây hoàng liên, nhà thảo dược học người Anh thế kỷ XX và tác giả Maude Grieve đã viết, "Các nhà giả kim xưa cho rằng nó rất tốt để 'siêu kiềm chế bệnh vàng da' vì màu vàng đậm của nó" [10]. Nhân sâm Trung Quốc (Panax ginseng, Araliaceae) rễ vì thân rễ giống như người của chúng đã được sử dụng như một loại chất kích thích tình dục và tăng cường sự trẻ hóa cho con người [12].