Tổng quan luận án
Nghiên cứu được thực hiện trong khuôn khổ luận án tiến sĩ hóa học, chuyên ngành Hóa hữu cơ (mã số 9.14) tại Học viện Khoa học và Công nghệ, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Hoàng Thị Kim Dung và GS. Thái Khắc Minh.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Báo cáo tháng 2 năm 2021 cho thấy trong giai đoạn 10 năm trước đó, Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) đã cấp phép lưu hành gần 400 loại thuốc, trong đó nhóm thuốc điều trị ung thư chiếm tỷ trọng cao nhất với 25%, vượt trội so với thuốc điều trị bệnh truyền nhiễm (15%) và rối loạn thần kinh (11%). Thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) ghi nhận mỗi năm trên phạm vi toàn cầu có khoảng 10,1 triệu ca mắc ung thư mới và 6,7 triệu trường hợp tử vong, chiếm 12% tổng số nguyên nhân gây tử vong ở người. Trong các phác đồ điều trị hiện hành, bệnh nhân thường gặp các phản ứng phụ nghiêm trọng dẫn đến việc phải giảm liều hoặc ngừng thuốc. Điển hình, có 33% bệnh nhân ung thư vú điều trị bằng phác đồ kết hợp palbociclib và letrozole buộc phải dừng liệu trình và 40–45% bệnh nhân phải giảm liều do tác dụng phụ như buồn nôn, rụng tóc, đau khớp, loãng xương, mệt mỏi và suy nhược cơ thể.
Các dị vòng benzimidazole và indole là những khung cấu trúc hóa học quan trọng trong hóa dược, hiện diện trong nhiều thuốc kháng ung thư thương mại như nocodazole, abemaciclib, selumetinib, bendamustine, vincristine và vinblastine. Dù vậy, các thuốc này vẫn đi kèm nhiều hạn chế lâm sàng như gây táo bón, nhức đầu, rối loạn đường huyết và rụng tóc. Khoảng trống nghiên cứu đặt ra là cần thiết kế, tổng hợp các dẫn xuất mới phát triển từ khung nền benzimidazole và indole nhằm tìm kiếm các hoạt chất có khả năng ức chế tế bào ung thư mạnh hơn, đồng thời hạn chế độc tính đối với tế bào bình thường.
Mục tiêu nghiên cứu của luận án
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài được xác định gồm 3 nội dung:
- Tổng hợp các dẫn xuất benzimidazole dựa trên phản ứng ngưng tụ các dẫn xuất của ortho-phenylenediamine và benzaldehyde; tổng hợp các dẫn xuất indole bằng phản ứng đa hợp phần Mannich.
- Đánh giá hoạt tính ức chế tế bào ung thư của các dẫn xuất benzimidazole và indole tổng hợp được; đánh giá hoạt tính ức chế tế bào thường của các dẫn xuất có tác dụng gây độc tế bào ung thư tốt nhất; nghiên cứu mối quan hệ giữa hoạt tính và cấu trúc (SAR) của các dẫn xuất nhằm tìm kiếm các hợp chất tiềm năng.
- Đề xuất cơ chế ức chế tế bào ung thư của các dẫn xuất benzimidazole và indole có hoạt tính tốt nhất thông qua mô hình gắn kết phân tử docking.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các dẫn xuất của khung dị vòng benzimidazole (thế ở các vị trí C-2, C-5, C-6) và dị vòng indole (thế ở các vị trí C-2, C-3, C-5); các nhóm thế khảo sát bao gồm nhóm methoxy (-OCH3), dimethylamino (-N(CH3)2), trifluoromethyl (-CF3), iod (-I), chlor (-Cl), hydroxy (-OH), nitro (-NO2), benzyloxy (-O-CH2-Ph), methyl (-CH3).
- Phạm vi sinh học in vitro: Ba dòng tế bào ung thư ở người bao gồm A549 (ung thư phổi), MDA-MB-231 (ung thư vú), PC3 (ung thư tuyến tiền liệt) và một dòng tế bào thường HEK 293 (tế bào thận gốc phôi người).
- Phạm vi mô phỏng in silico: Phức hợp enzyme topoisomerase I và chuỗi xoắn kép DNA người (TopI-DNA) lấy từ Ngân hàng Dữ liệu Protein (PDB ID: 1T8I), đối chứng với phối tử camptothecin (CPT).
- Thời gian và địa điểm: Luận án hoàn thành và bảo vệ vào năm 2022 tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu tiền đề
Tác giả đã hệ thống hóa các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về tổng hợp và hoạt tính gây độc tế bào của các dẫn xuất benzimidazole và indole:
- Dẫn xuất benzimidazole:
- Ahmed Kamal (2014): Đánh giá hoạt tính kháng ung thư của các dẫn xuất 2-arylbenzimidazole. Hợp chất 2f (chứa nhóm phenyl tại C-2 và nhóm methoxy tại C-6) có giá trị IC50 đạt 1,69 µM trên dòng MCF-7; 1,99 µM trên dòng A549; 2,18 µM trên dòng DU-145 và 2,04 µM trên dòng HeLa.
- Rangappa (2015): Khảo sát chuỗi dẫn xuất sulfonyl bisbenzimidazole. Hợp chất 5e (chứa nhóm 4-fluorosulfonyl tại vị trí số 2) thể hiện hoạt tính ức chế trên các dòng tế bào HeLa (IC50 = 16,7 ± 5,8 µM), HCT116 (IC50 = 19,9 ± 8,2 µM), A549 (IC50 = 32,2 ± 7,5 µM) và Vero (IC50 > 50 µM). Nghiên cứu chỉ ra các nhóm thế halogen ở vị trí ortho trên vòng arylsulfonyl làm mất hoạt tính kháng ung thư.
- Shahar Yar (2018): Tổng hợp các dẫn xuất benzimidazole chứa vòng pyrazole ở vị trí C-2. Hợp chất 5a (chứa nhóm p-chlorophenyl tại C-3' và C-5') thể hiện hoạt tính mạnh nhất trên dòng A549 với IC50 = 2,2 µM và ức chế EGFR với IC50 = 0,97 µM.
- Bùi Thị Bửu Huê (2016): Tổng hợp 12 dẫn xuất benzimidazole; hợp chất 13c (chứa khung naphthalene ở C-2 và nhóm 5-Cl) và 13f (chứa naphthalene ở C-2 và nhóm 5-OCH3) ức chế dòng MCF-7 với CC50 lần lượt là 7,48 ± 1,19 µM và 6,43 ± 1,17 µM.
- Cevik (2019, 2020): Năm 2019, khảo sát 18 dẫn xuất benzimidazole gắn vòng oxadiazole ở C-2; hợp chất 4a có IC50 đạt 13 ± 1 µM trên dòng A549, 3 ± 0,7 µM trên Hep G2 và 130 ± 8 µM trên NIH 3T3. Năm 2020, nhóm chuyển nhóm 1,3,4-oxadiazole sang vị trí C-6 và thế các nhóm phenyl ở C-2; dẫn xuất 5n đạt IC50 = 7,388 ± 0,325 µM trên dòng A549 và 0,205 ± 0,010 µM trên dòng HeLa (tác dụng mạnh hơn chứng dương doxorubicin có IC50 = 12,420 µM trên A549).
| Tác giả (Năm) |
Khung cấu trúc nghiên cứu |
Hợp chất tiêu biểu |
Dòng tế bào thử nghiệm |
Giá trị IC50 / CC50 (µM) |
| Ahmed Kamal (2014) |
2-Arylbenzimidazole |
Hợp chất 2f |
MCF-7, A549, DU-145, HeLa |
1,69 (MCF-7); 1,99 (A549) |
| Rangappa (2015) |
Sulfonyl bisbenzimidazole |
Hợp chất 5e |
HeLa, HCT116, A549, Vero |
16,7 (HeLa); 19,9 (HCT116) |
| Shahar Yar (2018) |
Benzimidazole-pyrazole |
Hợp chất 5a |
A549, MCF-7, MDA-MB-231 |
2,2 (A549); 0,97 (EGFR) |
| Bùi Thị Bửu Huê (2016) |
2-Naphthylbenzimidazole |
Hợp chất 13c, 13f |
MCF-7 |
7,48 (13c); 6,43 (13f) |
| Cevik (2019) |
2-Oxadiazolyl benzimidazole |
Hợp chất 4a |
A549, Hep G2, NIH 3T3 |
13 (A549); 3 (Hep G2) |
| Cevik (2020) |
6-Oxadiazolyl benzimidazole |
Hợp chất 5n |
A549, HeLa, NIH 3T3 |
7,388 (A549); 0,205 (HeLa) |
| Pei-Liang Zhao (2015) |
Aminopyrimidine-piperazine indole |
Dẫn xuất 34 |
HT-29, A549, MDA-MB-231 |
5,56 (HT-29); 5,01 (MDA-MB-231) |
| Hai-Liang Zhu (2016) |
1-Methyl-1H-indole-pyrazoline |
Dẫn xuất e19 |
HeLa, MCF-7, A549, Hep G2 |
0,21 (HeLa); 0,26 (A549) |
| Ahmed Kamal (2017) |
Curcumin-indole |
Hợp chất 11f |
A549, MDA-MB-231, PC3 |
3,15 – 11,44 |
| Guangsen Xu (2017) |
1,2,3-Substituted indole |
Hợp chất 9c, 9d, 9h |
MDA-MB-231 |
33,55 (9c); 38,62 (9d) |
- Dẫn xuất indole:
- Pei-Liang Zhao (2015): Tổng hợp 19 dẫn xuất aminopyrimidine gắn piperazine tại C-3 của indole; dẫn xuất 34 có IC50 là 5,56 µM (HT-29), 14,36 µM (A549), 5,01 µM (MDA-MB-231) và 13,93 µM (MCF-7).
- Hai-Liang Zhu (2016): Khảo sát chuỗi 28 dẫn xuất 1-methyl-1H-indole-pyrazoline; dẫn xuất e19 có IC50 trên bốn dòng HeLa, MCF-7, A549, Hep G2 lần lượt là 0,21; 0,29; 0,26 và 0,31 µM.
- Ahmed Kamal (2017): Ghép nối curcumin với indole tại C-3 tạo hợp chất 11c và 11f có IC50 trong khoảng 3,15–18,96 µM trên các dòng A549, MDA-MB-231, PC3.
- Guangsen Xu (2017): Đánh giá các dẫn xuất indole thế đồng thời tại vị trí 1, 2 và 3; các hợp chất 9c, 9d, 9h có IC50 trên dòng MDA-MB-231 lần lượt là 33,55; 38,62 và 42,06 µM.
- Wannian Zhang (2010): Nghiên cứu dẫn xuất evodiamine 29u ức chế chọn lọc TopI-DNA với IC50 đạt 0,86 µM (A549), 0,049 µM (MDA-MB-231) và 2,6 µM (HCT116).
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Tổng quan tài liệu cho thấy đối với khung benzimidazole, các dẫn xuất thế tại vị trí C-2 kết hợp biến đổi ở C-5, C-6 có ảnh hưởng lớn đến hoạt tính sinh học nhưng việc thay thế hydro tại N-1 thường làm giảm hoạt tính. Đối với khung indole, hoạt tính tối ưu đạt được khi giữ nguyên nguyên tử hydro tại N-1, đưa các nhóm thế aminomethyl/aminoalkyl cồng kềnh vào vị trí C-3 và gắn nhóm thế nhỏ tại C-5. Luận án tập trung giải quyết việc tổng hợp một thư viện cấu trúc phong phú gồm 64 dẫn xuất benzimidazole và 14 dẫn xuất indole thông qua các phản ứng chọn lọc, tối ưu hóa điều kiện phản ứng đa hợp phần Mannich một nồi, xác định hoạt tính in vitro trên ba dòng tế bào ung thư phổ biến và mô hình hóa cơ chế gắn kết trên đích tác động TopI-DNA bằng docking phân tử.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
- Đặc tính dị vòng benzimidazole và indole: Benzimidazole có tính chất lưỡng tính và xuất hiện hiện tượng hỗ biến tautomer giữa nguyên tử hydro ở vị trí N-1 và N-3 (5-methylbenzimidazole tương đương 6-methylbenzimidazole). Cấu trúc indole có tính base yếu do cặp electron tự do của nguyên tử nitơ tham gia vào hệ liên hợp vòng thơm; phản ứng thế ái điện tử (electrophile) ưu tiên xảy ra tại vị trí C-3 do trạng thái trung gian cation bền hơn so với thế tại C-2.
- Phản ứng đa hợp phần (MCRs) và phản ứng Mannich: Sử dụng phản ứng ba hợp phần giữa hợp chất có hydro linh động (dẫn xuất indole), amine bậc hai (pyrrolidine, morpholine, 1-methylpiperazine, piperidine) và formaldehyde để hình thành base Mannich (3-aminomethyl indole) thông qua chất trung gian iminium ion.
- Cơ chế ức chế phức hợp Topoisomerase I - DNA: Enzyme TopI người có khối lượng phân tử khoảng 93 kDa, gồm 4 miền: miền đầu tận cùng NH2 (24 kDa), miền lõi (56 kDa gồm 3 tiểu miền core subdomain I–III), miền liên kết (7 kDa) và miền đầu tận cùng COOH (6 kDa) chứa amino acid xúc tác Tyr723. Phức hợp TopI xúc tác cắt một sợi DNA tạo liên kết cộng hóa trị phosphotyrosine trung gian. Các chất ức chế như camptothecin chèn vào vị trí cắt, tạo phức hợp bậc ba bền CPT-TopI-DNA, ngăn cản quá trình nối lại của chuỗi DNA, dẫn đến đứt gãy DNA và kích hoạt quá trình chết tế bào. Các amino acid tham gia tương tác chính tại vùng hoạt động gồm Arg364, Arg488, Lys532, Asp533, Arg590, His632 và Tyr723.
Phương pháp thực nghiệm và kỹ thuật phân tích
- Phương pháp tổng hợp hóa học:
- Tổng hợp benzimidazole: Phản ứng đóng vòng ngưng tụ giữa các dẫn xuất của ortho-phenylenediamine và dẫn xuất benzaldehyde với sự có mặt của tác nhân oxy hóa Na2S2O5 trong hệ dung môi thích hợp.
- Tổng hợp indole: Phản ứng Mannich đa hợp phần giữa các dẫn xuất indole, dẫn xuất formaldehyde và các amine mạch vòng bậc hai.
- Phương pháp tinh chế và phân tích cấu trúc hóa học:
- Sắc ký lớp mỏng (TLC) trên bản mỏng tráng sẵn silica gel, soi dưới đèn tử ngoại ở bước sóng 254 nm.
- Tinh chế bằng phương pháp rửa dung môi và sắc ký cột (CC).
- Sắc ký lỏng hiệu năng cao (HPLC) kiểm tra độ tinh khiết.
- Đo điểm nóng chảy.
- Phổ hồng ngoại biến đổi Fourier (FTIR).
- Phổ khối lượng phun mù ion hóa phân giải cao (HR-ESI-MS).
- Phổ cộng hưởng từ hạt nhân 1D và 2D (1H-NMR, 13C-NMR, DEPT, HSQC, HMBC) trên máy đo phổ NMR sử dụng dung môi DMSO-d6 hoặc CDCl3 với chất chuẩn nội Tetramethylsilane (TMS).
- Phương pháp đánh giá hoạt tính sinh học in vitro:
- Sử dụng phương pháp thử nghiệm MTT (3-(4,5-dimethylthiazol-2-yl)-2,5-diphenyltetrazolium bromide). Nguyên tắc dựa trên phản ứng khử muối tetrazolium màu vàng thành tinh thể formazan màu tím dưới tác động của enzyme dehydrogenase trong ty thể của tế bào sống. Đo độ hấp thụ quang học (OD) tại bước sóng thích hợp để xác định tỷ lệ tế bào sống sót và tính toán giá trị IC50 (nồng độ ức chế 50% tế bào ung thư) và CC50 (nồng độ gây độc 50% tế bào thường).
- Phương pháp mô hình hóa phân tử (Molecular Docking):
- Sử dụng module FlexX trong bộ phần mềm LeadIT 2.8. Thuật toán docking xây dựng gia tăng (Incremental Construction) gồm 3 bước: lựa chọn mảnh cơ sở từ ligand; định vị mảnh cơ sở vào khoang hoạt động của protein thông qua phép tam giác phân; lắp ráp hoàn thiện cấu dạng của ligand tại vị trí có năng lượng liên kết thấp nhất.
- Đánh giá độ tin cậy bằng phương pháp docking lặp lại (re-docking) phối tử đồng kết tinh CPT vào cấu trúc tinh thể phức hợp TopI-DNA (PDB ID: 1T8I), tính toán độ lệch gốc-trung bình-bình phương (RMSD).
Nguồn hóa chất và dữ liệu
- Hóa chất tổng hợp và dung môi hữu cơ có độ tinh khiết từ 95% đến trên 99% từ các hãng cung cấp: Acros Organics, Merck, Sigma-Aldrich, Fisher Chemical, Xilong Scientific, Chemsol.
- Cấu trúc thụ thể sinh học: Phức hợp tinh thể nhiễu xạ tia X của phức hợp bậc ba Camptothecin-Topoisomerase I-DNA người tải từ Ngân hàng Dữ liệu Protein (PDB ID: 1T8I).
- Đối chứng dương: Doxorubicin, Cisplatin, Hoechst 33342, Camptothecin (CPT).
Nội dung chính theo từng chương
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
Chương 1 trình bày tổng quan về bệnh học ung thư, các phân loại ung thư chính (Carcinoma, Sarcoma, Lymphoma, Leukemia, Seminoma, Dysgerminoma, Blastoma) và các liệu pháp điều trị hiện đại như phẫu thuật, xạ trị, hóa trị và điều trị hướng đích (thuốc phân tử nhỏ, kháng thể đơn dòng, liên hợp thuốc - kháng thể, vaccine, liệu pháp gene). Tiếp đó, chương phân tích cấu trúc hóa học, tính chất hỗ biến tautomer và các ứng dụng sinh học của nhân benzimidazole và indole. Tác giả tổng hợp các phương pháp tổng hợp nhân benzimidazole (từ carboxylic acid, aldehyde, acid anhydride, ester, acetyl chloride) và các phản ứng đóng vòng indole (xúc tác kim loại chuyển tiếp và phản ứng cổ điển không xúc tác), đồng thời phân tích ưu thế của phản ứng đa hợp phần Mannich trong tổng hợp base Mannich của indole tại vị trí C-3. Phần cuối chương trình bày cơ chế sinh học phân tử của enzyme topoisomerase I và II trong việc tháo xoắn chuỗi kép DNA, cấu trúc 3D của phức hợp enzyme TopI-DNA (PDB ID: 1T8I) và tổng kết các công trình docking phân tử của các hợp chất chứa khung benzimidazole và indole ức chế TopI-DNA.
CHƯƠNG 2: THỰC NGHIỆM
Chương 2 mô tả chi tiết danh mục hóa chất, độ tinh khiết, nguồn gốc xuất xứ cùng hệ thống thiết bị thực nghiệm: máy khuấy từ gia nhiệt IKA, máy cô quay chân không Buchi Rotavapor R 200, tủ sấy chân không OV-01, đèn soi UV 254 nm, hệ thống sắc ký cột và các thiết bị phân tích hiện đại. Chương này quy định quy trình thực nghiệm tổng hợp 64 dẫn xuất benzimidazole bằng phản ứng đóng vòng ngưng tụ giữa ortho-phenylenediamine thế và dẫn xuất benzaldehyde có xúc tác Na2S2O5 trong hệ dung môi ethanol-nước; quy trình tổng hợp 14 dẫn xuất indole thông qua phản ứng Mannich 3 hợp phần giữa dẫn xuất indole, amine mạch vòng và formaldehyde. Tiếp theo là các thông số vận hành kỹ thuật của các phương pháp phân tích TLC, HPLC, đo điểm nóng chảy, FTIR, HR-ESI-MS và NMR. Quy trình thử nghiệm độc tính tế bào in vitro bằng MTT assay trên các dòng tế bào A549, MDA-MB-231, PC3, HEK 293 được trình bày cụ thể từng bước thao tác và công thức xử lý số liệu. Cuối cùng, chương thiết lập quy trình tính toán docking phân tử bằng FlexX trên phức hợp TopI-DNA (PDB ID: 1T8I), bao gồm việc chuẩn bị cấu trúc ligand, chuẩn bị protein, loại bỏ phân tử nước không cần thiết, tái docking kiểm chứng giá trị RMSD và đánh giá năng lượng gắn kết.
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN
Chương 3 trình bày các kết quả thực nghiệm đạt được của đề tài:
- Tổng hợp và xác định cấu trúc: Đã tổng hợp thành công 64 dẫn xuất benzimidazole và 14 dẫn xuất indole. Dữ liệu phổ FTIR, HR-ESI-MS, 1H-NMR, 13C-NMR kết hợp phổ 2D (DEPT, HSQC, HMBC) đã xác định chính xác cấu trúc hóa học của toàn bộ 78 hợp chất, phát hiện sự hình thành liên kết hydro nội phân tử ở các dẫn xuất 2-(5(6)-substituted-1H-benzimidazol-2-yl)-phenol.
- Hoạt tính gây độc tế bào in vitro: Hoạt tính ức chế sinh trưởng được thử nghiệm trên ba dòng tế bào ung thư (A549, MDA-MB-231, PC3). Kết quả xác định được các dẫn xuất benzimidazole tiêu biểu có hoạt tính cao gồm 5MM, 53H và 3BO; các dẫn xuất indole tiêu biểu gồm BPM, IPM và PPM. Bốn dẫn xuất có hoạt tính mạnh nhất (53H, 5MM, IPM, BPM) tiếp tục được thử nghiệm trên dòng tế bào thận thường HEK 293 để đánh giá độ chọn lọc.
- Phân tích mối quan hệ cấu trúc - hoạt tính (SAR): Nghiên cứu thiết lập mối tương quan giữa bản chất, vị trí của các nhóm thế trên khung benzimidazole (tại C-2, C-5, C-6) và khung indole (tại C-2, C-3, C-5) với hoạt tính gây độc tế bào.
- Kết quả docking phân tử trên TopI-DNA: Quá trình re-docking phối tử CPT vào phức hợp 1T8I cho kết quả tái lập cấu hình gắn kết với sai số RMSD nằm trong giới hạn cho phép. Các mô hình docking 3D và 2D của ba dẫn xuất benzimidazole (5MM, 53H, 3BO) và ba dẫn xuất indole (BPM, IPM, PPM) cho thấy các phân tử này chèn vào khoang hoạt động của phức hợp TopI-DNA, tạo tương tác xếp chồng pi-pi với các base DNA (da113, dc112, dt10) và liên kết hydro với các amino acid trọng yếu (như Arg364, Lys532, Asp533), giải thích cơ chế phân tử ức chế phức hợp TopI-DNA tương tự như camptothecin.
Kết quả và những đóng góp mới
Những đóng góp mới của luận án
- Đóng góp về tổng hợp hóa học: Tổng hợp thành công 64 dẫn xuất benzimidazole và 14 dẫn xuất indole, trong đó có 16 cấu trúc benzimidazole và 5 cấu trúc indole hoàn toàn mới chưa từng được công bố trên thế giới (dữ liệu tra cứu SciFinder tính đến tháng 11 năm 2021).
- Đóng góp về hoạt tính sinh học: Lần đầu tiên công bố dữ liệu hoạt tính gây độc tế bào của:
- 60 dẫn xuất benzimidazole trên dòng tế bào ung thư phổi A549.
- 64 dẫn xuất benzimidazole trên hai dòng tế bào ung thư vú MDA-MB-231 và ung thư tuyến tiền liệt PC3.
- 14 dẫn xuất indole trên cả ba dòng tế bào ung thư A549, MDA-MB-231 và PC3.
- 2 dẫn xuất benzimidazole (53H, 5MM) và 2 dẫn xuất indole (IPM, BPM) trên dòng tế bào biểu mô thận gốc phôi người bình thường HEK 293 (theo SciFinder tháng 11 năm 2021).
- Đóng góp về cơ chế tác động: Làm sáng tỏ cơ chế ức chế tế bào ung thư ở mức độ phân tử của các dẫn xuất benzimidazole (5MM, 53H, 3BO) và indole (BPM, IPM, PPM) có hoạt tính mạnh nhất thông qua mô hình docking phân tử trên phức hợp enzyme Topoisomerase I - DNA (PDB ID: 1T8I), đối chiếu cơ chế chèn và hệ thống liên kết hydro tương đồng với chất đối chứng dương camptothecin.
Kiến nghị và giải pháp đề xuất
- Đề xuất tiếp tục tối ưu hóa cấu trúc hóa học dựa trên các nhóm dẫn xuất benzimidazole và indole có hoạt tính cao (đặc biệt là 53H, 5MM, IPM, BPM) để phát triển thành các ứng viên thuốc kháng ung thư thế hệ mới.
- Đề xuất ứng dụng quy trình tổng hợp một nồi sử dụng Na2S2O5 cho đóng vòng benzimidazole và phản ứng Mannich ba hợp phần cho indole trong việc xây dựng thư viện hợp chất phục vụ sàng lọc hoạt tính sinh học định hướng.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của nghiên cứu
- Các thử nghiệm đánh giá hoạt tính gây độc tế bào của các dẫn xuất mới chỉ được thực hiện ở quy mô in vitro trên 3 dòng tế bào ung thư và 1 dòng tế bào thường.
- Cơ chế ức chế phức hợp enzyme Topoisomerase I - DNA mới được khảo sát và giải thích dựa trên mô hình tính toán mô phỏng in silico (molecular docking), chưa tiến hành các thử nghiệm ức chế enzyme TopI sinh hóa trực tiếp trên protein tinh sạch in vitro.
Hướng nghiên cứu tiếp theo
- Thực hiện các thử nghiệm ức chế enzyme Topoisomerase I in vitro trên chế phẩm enzyme tinh khiết để xác thực các kết quả dự đoán từ mô hình docking.
- Mở rộng khảo sát độc tính và hoạt tính kháng u in vivo trên các mô hình động vật thực nghiệm đối với các dẫn xuất tiềm năng nhất (53H, 5MM, IPM, BPM).
- Tiếp tục biến đổi các nhóm thế trên khung phân tử nhằm nâng cao độ chọn lọc giữa tế bào ung thư và tế bào lành.
Giá trị tham khảo
- Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Hóa hữu cơ, Hóa dược: Luận án cung cấp hệ thống quy trình tổng hợp chi tiết, điều kiện phản ứng đóng vòng ngưng tụ và phản ứng đa hợp phần Mannich đạt hiệu suất cao. Dữ liệu phổ phân tích đầy đủ (1D-NMR, 2D-NMR, FTIR, HRMS) của 78 dẫn xuất (bao gồm 21 hợp chất mới) là tài liệu tham khảo trong việc xác định cấu trúc các dị vòng hữu cơ.
- Đối với các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực Sinh học thực nghiệm và Dược lý học: Cung cấp bộ dữ liệu sàng lọc in vitro về độc tính tế bào trên ba dòng ung thư phổ biến (A549, MDA-MB-231, PC3) và tế bào lành HEK 293, phục vụ cho việc nghiên cứu mối quan hệ SAR của các khung dị vòng chứa nitơ.
- Đối với lĩnh vực thiết kế thuốc hỗ trợ bằng máy tính (CADD): Quy trình chuẩn bị dữ liệu, tái docking kiểm chứng RMSD và các phân tích tương tác phối tử - protein trên phức hợp TopI-DNA (1T8I) bằng FlexX cung cấp tài liệu tham khảo cho việc mô phỏng cơ chế tác động của các phân tử nhỏ chèn DNA.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án đã tổng hợp được bao nhiêu hợp chất mới chưa từng được công bố trên thế giới?
Theo kết quả tra cứu trên hệ thống cơ sở dữ liệu SciFinder tính đến tháng 11 năm 2021, luận án đã tổng hợp được tổng cộng 21 hợp chất hoàn toàn mới, bao gồm 16 dẫn xuất benzimidazole và 5 dẫn xuất indole (trên tổng số 64 dẫn xuất benzimidazole và 14 dẫn xuất indole được tổng hợp thành công).
2. Các dẫn xuất tổng hợp được đánh giá hoạt tính sinh học in vitro trên những dòng tế bào nào?
Hoạt tính sinh học in vitro được đánh giá trên 3 dòng tế bào ung thư ở người gồm: A549 (ung thư phổi), MDA-MB-231 (ung thư vú) và PC3 (ung thư tuyến tiền liệt). Bốn dẫn xuất có hoạt tính ức chế tế bào ung thư tốt nhất (gồm 2 dẫn xuất benzimidazole 53H, 5MM và 2 dẫn xuất indole IPM, BPM) được thử nghiệm bổ sung trên dòng tế bào thường HEK 293 (tế bào thận gốc phôi người).
3. Cơ chế ức chế tế bào ung thư được luận án mô phỏng trên mục tiêu sinh học nào và bằng công cụ gì?
Cơ chế ức chế tế bào ung thư được mô phỏng trên đối tượng phức hợp enzyme Topoisomerase I và chuỗi xoắn kép DNA người (TopI-DNA) mang mã định danh PDB ID: 1T8I từ Ngân hàng Dữ liệu Protein, sử dụng công cụ FlexX trong bộ phần mềm LeadIT 2.8, so sánh đối chứng với phối tử camptothecin (CPT).
4. Những dẫn xuất nào thể hiện hoạt tính gây độc tế bào và tương tác docking tốt nhất trong luận án?
Trong nhóm benzimidazole, ba dẫn xuất thể hiện hoạt tính và kết quả docking tốt nhất là 5MM, 53H và 3BO. Trong nhóm indole, ba dẫn xuất thể hiện hoạt tính và kết quả docking tốt nhất là BPM, IPM và PPM.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của nghiên cứu sinh Huỳnh Thị Kim Chi đã hoàn thành việc tổng hợp 64 dẫn xuất benzimidazole và 14 dẫn xuất indole, trong đó xác định cấu trúc của 21 hợp chất mới bằng các phương pháp phổ nghiệm hiện đại. Đề tài đã xây dựng cơ sở dữ liệu thực nghiệm về hoạt tính gây độc tế bào in vitro của toàn bộ các hợp chất trên ba dòng tế bào ung thư A549, MDA-MB-231, PC3 và dòng tế bào thường HEK 293, làm rõ mối quan hệ giữa cấu trúc và hoạt tính sinh học. Đồng thời, nghiên cứu đã ứng dụng mô hình docking phân tử FlexX trên phức hợp TopI-DNA (1T8I) để giải thích cơ chế gắn kết của các dẫn xuất tiềm năng (5MM, 53H, BPM, IPM), đóng góp cơ sở dữ liệu hóa dược phục vụ việc tìm kiếm các tác nhân kháng ung thư mới.