CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1. Tình hình mắc bệnh và tử vong của ung thư phổi 1. Trên thế giới Ung thư phổi là ung thư phổ biến nhất trên thế giới trong các thập niên vừa qua. Theo ghi nhận của Globocan, năm 2012, ước đoán số ca mới mắc trên toàn thế giới là 1,8 triệu ca chiếm 12,9% tổng số ca mắc do ung thư, 58% bệnh xuất hiện tại những nước kém phát triển [2],[13],[14].
Tỷ lệ mới mắc chuẩn theo tuổi cao nhất ở Trung và Đông Âu 53,5/100.000 và Đông Á là 50,4/100. Tỷ lệ thấp được ghi nhận ở Trung và Tây Phi (2,0 và 1,7/100. Đây cũng là bệnh phổ biến nhất ở nam giới (1,2 triệu ca, chiếm 16,7% tổng số các ca ung thư). Ở phụ nữ, tỷ lệ mắc nhìn chung thấp hơn nam giới và có sự khác biệt ít về vùng địa lý, chủ yếu do yếu tố phơi nhiễm với khói thuốc lá.
Tuy vậy, tỷ lệ mới mắc cao nhất ở Bắc Mỹ 33,8/100.000 và Bắc Âu 23,7/100. Tỷ lệ tương đối cao gặp ở Đông Á (19,2/100.000) và tỷ lệ thấp nhất gặp Tây và Trung Phi (1,1/100. Ung thư phổi là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu do các bệnh ung thư trên thế giới [16]. Cũng theo báo cáo Globocan, năm 2012 có 1,59 triệu ca tử vong do ung thư phổi trên toàn cầu chiếm 19,4% tổng số ca tử vong do ung thư [2].
Ở Mỹ, năm 2017, ước tính có 225,500 ca mới mắc (116,990 nam giới và 105,510 nữ giới) và 155.870 ca tử vong (84.590 nam giới và 71. Theo thống kê của SEER (Chương trình theo dõi, dịch tễ và kết quả của Viện Ung thư Quốc gia Hoa kỳ) thì chỉ 18% bệnh nhân được chẩn đoán ung thư phổi sống quá 5 năm [3]. Tại Việt Nam Tại Việt Nam theo ghi nhận ung thư giai đoạn 2001 - 2004, tỷ lệ mới mắc chuẩn theo tuổi ở nam giới tại Hà Nội là 40,2/100.000 và ở nữ giới là 10,6/100. Giai đoạn 2004 - 2008, tỷ lệ này ở nam là 39,9/100.000 và nữ là 13,2/100.
Ung thư phổi ngày càng tăng, năm 2012, theo ghi nhận của Globocan, ở Việt Nam, ung thư phổi là bệnh đứng đầu cho cả hai giới. Tổng số bệnh nhân mắc mới 125.000 ca (nam giới chiếm 70.6000 ca và nữ giới chiếm 54.500 ca), tử vong 97. Ung thư phổi mắc hàng thứ nhất đối với nam giới, tỷ lệ mới mắc chuẩn theo tuổi là 41,1/100.000 và xếp thứ hai đối với nữ giới sau ung thư vú với tỷ lệ mắc chuẩn theo tuổi là 12,2/100. Tỷ lệ mới mắc ung thư phổi tăng dần theo tuổi.
Tuổi thường gặp từ 40 - 79 tuổi, nhóm tuổi mắc cao nhất 50 - 69 tuổi chiếm tỷ lệ hơn 50% [17],[18],[19]. Nguyên nhân và các yếu tố nguy cơ 1. Hút thuốc lá Là nguyên nhân quan trọng nhất gây ung thư phổi, ước đoán 90% bệnh nhân bị ung thư phổi nguyên nhân do hút thuốc lá. Nguy cơ phát triển thành ung thư phổi ở người hút thuốc lá 1 bao/ ngày trong 40 năm cao gấp 20 lần người không hút thuốc lá.
Yếu tố này làm tăng nguy cơ ung thư phổi nếu kéo dài thời gian hút thuốc và kết hợp với những yếu tố nguy cơ khác như yếu tố gen sinh ung thư, asbetose [21]. Các yếu tố nguy cơ khác Điều trị tia xạ Xạ trị có thể làm tăng nguy cơ ung thư phổi thứ phát trên bệnh nhân đã được điều trị bệnh ung thư khác. Nguy cơ tăng này gặp trong một số bệnh như u lympho ác tính Hodgkin và ung thư vú. 5 Lorigan P và cộng sự đã có một báo cáo hệ thống về các nghiên cứu biến chứng kéo dài sau điều trị của u lympho ác tính Hodgkin xuất bản tại Anh từ năm 1985.
Những nghiên cứu này đã chỉ ra tăng nguy cơ ung thư phổi có ý nghĩa ở những bệnh nhân được điều trị bệnh u lympho ác tính Hodgkin với chỉ số nguy cơ tương đối 2,6 - 7.0 và nguy cơ này có thể tăng chậm sau 20-25 năm. Cả hóa trị và xạ trị đều góp phần làm tăng nguy cơ, không những thế còn cộng hưởng khi phối hợp hai phương pháp điều trị này với nhau. Trong một nghiên cứu thuần tập quan sát trên 7408 bệnh nhân ung thư vú trong đó 5695 bệnh nhân xạ trị và 1713 bệnh nhân không xạ trị. Nhóm bệnh nhân xạ trị có 2,25% bệnh nhân có ung thư phổi và nhóm không xạ trị có 0,23% phát triển ung thư phổi.
Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê [22]. Các chất độc từ môi trường Các yếu tố từ môi trường bao gồm phơi nhiễm với hút thuốc lá thụ động, asbestos, radon, kim loại (arsenic, chromium, nickel), phóng xạ ion hóa, hydrocarbon thơm đa vòng làm tăng nguy cơ phát triển ung thư phổi. Xơ phổi Xơ phổi không rõ căn nguyên được coi là nguyên nhân gây tăng ung thư phổi gấp bảy lần so với bệnh nhân không có bệnh này. Điều này được chỉ ra trong nghiên cứu của tác giả Hubbarb R (2000) khi tiến hành nghiên cứu thuần tập trên 890 bệnh nhân có bệnh xơ phổi không rõ căn nguyên so sánh với 5884 bệnh nhân nhóm chứng được rút hồ sơ từ Cơ quan lưu trữ dữ liệu thực hành nghiên cứu Anh quốc (United Kingdom General Practice Research Database).
Thấy rằng tăng ung thư phổi ở những bệnh nhân xơ phổi viêm phế nang không rõ căn nguyên. Và cũng qua nghiên cứu này thấy rằng 2 yếu tố hút thuốc lá và xơ phổi viêm phế nang không rõ nguyên phát là 2 yếu tố nguy cơ độc lập nhau trong mối liên quan với ung thư phổi [23]. 6 Nhiễm HIV Tỷ lệ mắc ung thư phổi ở những người mắc HIV cao hơn nhóm chứng không mắc HIV. Theo một nghiên cứu hồi cứu ca bệnh trên 75 bệnh nhân nhiễm HIV mắc ung thư phổi cho thấy bệnh nhân trẻ mắc cao hơn so với bệnh nhân mắc ung thư phổi không có HIV.
Ngoài ra, các đặc điểm khác như giai đoạn và phân loại mô bệnh học không có sự khác biệt [24]. Các yếu tố về gia đình, gen Cho đến nay yếu tố về gen di truyền vẫn chưa được tìm hiểu hết trong ung thư phổi. Tuy nhiên, qua một phân tích tổng hợp 28 nghiên cứu bệnh chứng và 17 nghiên cứu thuần tập quan sát người ta đã nhận thấy có sự liên quan giữa yếu tố gia đình và ung thư phổi. Yếu tố nguy cơ này được cho là lớn nhất ở những bệnh nhân trẻ mắc ung thư phổi có tiền sử gia đình bị ung thư [25], [26].
Nghiện rượu Các dữ kiện liên quan đến rượu làm tăng nguy cơ ung thư phổi hiện vẫn chưa rõ ràng. Kể từ khi người ta thấy tác hại của sự kết hợp của rượu và thuốc lá trở nên mạnh mẽ hơn bao giờ hết trên toàn cầu, các nghiên cứu đã lưu ý hơn việc nghiên cứu tác động của rượu lên ung thư phổi chứ không chỉ có riêng thuốc lá. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng với những người chỉ uống lượng nhỏ hàng ngày (dưới 1 cốc) thì không làm tăng nguy cơ ung thư phổi. Ngược lại những người uống lượng rượu lớn trong một ngày (> 2000 gram/ tháng tương đương một lượng năm hoặc sáu thậm chí hơn bảy cốc/ ngày) thì sẽ tăng nguy cơ ung thư phổi.
Rượu cũng có liên quan đến các thể mô bệnh học ung thư phổi, hay gặp ung thư biểu mô tuyến hơn ung thư biểu mô vảy ở bệnh nhân nghiện rượu [27],[28]. 7 Chế độ ăn Chế độ ăn khác nhau cũng là một trong những lý do lý giải cho tính đa dạng của ung thư phổi ngoài những yếu tố phơi nhiễm chung giống nhau như hút thuốc lá hoặc các nguyên nhân khác. Beta- caroten là thực phẩm bổ sung được cho là có tác dụng phòng ngừa chất hóa học, tăng cường thị lực, tuy nhiên, với liều cao thì làm tăng nguy cơ ung thư phổi ở những người nghiện thuốc lá. Điều này được rút ra từ một nghiên cứu tổng hợp 109.394 bệnh nhân sử dụng 20-30 mg beta- carotene / ngày [29].
Virus sinh ung thư Virus sinh ung thư không phải chắc chắn đóng vai trò là yếu tố bệnh sinh ung thư phổi. Tuy vậy, virus gây u nhú ở người (HPV- human papillomavirus) lại là nguyên nhân gây bệnh tiềm tàng cho nhiều ung thư biểu mô vảy của cổ tử cung, hậu môn trực tràng, da, thực quản và đường hô hấp trên. Do vậy mà giả thuyết gây ung thư phổi tế bào vẩy luôn là sự quan tâm của các nhà nghiên cứu. Báo cáo tổng hợp dựa trên 53 nghiên cứu đã được công bố với 4058 bệnh nhân, cho thấy tỷ lệ mắc HPVchung trong ung thư phổi là 24,5%.
Một số vùng như Okinawa (Nhật bản), Taichung (Đài Loan) tỷ lệ mắc rất cao lên đến 80%. Các phân nhóm mô bệnh học đặc biệt là ung thư biểu mô vảy đều có liên quan tới HPV cả những chủng nguy cơ cao như 16, 18, 31và 33 cũng như những chủng nguy cơ thấp như 6,11. Với các dữ liệu trên HPV hiện được xem như là nguyên nhân gây ung thư phổi quan trọng thứ hai sau hút thuốc lá [30]. Yếu tố nội tiết Tác động của nội tiết tố estrogen và progesteron lên nguy cơ và lịch sử tự nhiên của ung thư phổi hiện có nhiều ý kiến trái chiều.
Một số nghiên cứu ban đầu cho rằng các hormon không ảnh hưởng đến nguy cơ UTP, nhưng 8 những nghiên cứu ngẫu nhiên lớn gần đây chỉ ra điều trị estrogen và progestin lại phối hợp cùng nguy cơ UTP [31]. Chẩn đoán ung thư phổi 1. Triệu chứng cơ năng Các triệu chứng chính hay gặp bao gồm [1],[17],[20]: Ho: Là triệu chứng hay gặp ở bệnh nhân UTP. Khoảng trên 50% bệnh nhân vào thời điểm ban đầu có triệu chứng ho, về sau ho gặp ở hầu hết các bệnh nhân.
Ho trong UTP có thể do: khối u trung tâm, viêm phổi tắc nghẽn, di căn đa ổ hoặc tràn dịch màng phổi. Nhiều bệnh nhân có bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD - Chronic Obtructive Pulmonary Disease) nên có thể có ho mãn tính từ trước. Một số trường hợp hút thuốc lá trước đó cũng có ho kéo dài. Với những trường hợp này nếu thấy thay đổi về tình trạng ho kéo dài hoặc nặng lên, không đáp ứng với điều trị cần được chụp phim X quang lồng ngực hay chụp CT lồng ngực để chẩn đoán.
Điều trị đặc hiệu khối u sẽ có thể giảm được ho. Ở bệnh nhân đường thở bị khối u xâm lấn, có thể dùng thêm thuốc đồng vận Beta2 như Albuterol. Các thuốc chứa thuốc phiện (opioid) sử dụng có hiệu quả trong trường hợp ho do UTP. Ho máu: Chiếm khoảng 25- 50% các trường hợp.
Ho ra máu trong ung thư phổi có nhiều mức độ khác nhau nhưng thường bao gồm đờm có vệt máu.