Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VỀ ÁP DỤNG HÌNH PHẠT 1. Những vấn đề lý luận về áp dụng hình phạt 1. Khái niệm, đặc điểm về áp dụng hình phạt Trong hệ thống pháp luật của Nhà nước ta, có nhiều biện pháp cưỡng chế, tuy nhiên so với các biện pháp cưỡng chế khác thì chỉ có hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất, bởi vì: hình phạt đánh vào lợi ích kinh tế người thực hiện hành vi phạm tội, hình phạt hạn chế hoặc tước bỏ quyền tự do thân thể, hình phạt được ghi vào lai lịch tư pháp, cá biệt hình phạt còn loại bỏ quyền được sống của người phạm tội… Mặc dù vậy,“hình phạt không chỉ nhằm trừng trị người, pháp nhân thương mại phạm tội mà còn giáo dục họ ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa họ phạm tội mới; giáo dục người, pháp nhân thương mại khác tôn trọng pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm.25] ADHP của Tòa án bao gồm quyết định hình phạt và các nội dung khác. “Quyết định hình phạt là hoạt động tư duy của Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân ngay sau khi đã xác định tội danh đối với hành vi phạm tội.
Nếu định tội là tiền đề, là cơ sở cho quyết định hình phạt, thì quyết định hình phạt là kết quả cuối cùng của hoạt động xét xử”[5, tr. Hoạt động ADHP của Tòa án có những nội dung, tính chất tương tự như hoạt động quyết định hình phạt tuy nhiên được thể hiện ở mức độ rộng hơn. Bên cạnh đó, ADHP còn bao gồm các hoạt động khác như: Miễn TNHS hoặc áp dụng các biện pháp tư pháp khác, miễn hình phạt, xử lý vật chứng …. Miễn TNHS là trường hợp người bị kết án thỏa mãn các điều kiện do BLHS quy định, do thay đổi chính sách hình 7 luan an sự hay mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội không lớn và được Tòa án quyết định cho họ miễn TNHS.
Có thể nhận thấy, việc ADHP là nội dung cơ bản, quan trọng nhất trong hoạt động xét xử các vụ án hình sự của TAND. Hoạt động ADHP của Tòa án được tiến hành sau khi vụ án hình sự đã được giải quyết ở các giai đoạn tố tụng khác nhau, với những thủ tục tố tụng nhất định. Tòa án phải dựa trên kết quả của các hoạt động trong các giai đoạn tố tụng trước đó như hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố của các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng khác. Tuy nhiên, trong giai đoạn xét xử, Tòa án vẫn được quyền linh hoạt, chủ động tiến hành hoạt động ADHP sao cho đảm bảo đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Từ những phân tích trên có thể hiểu ADHP của TAND như sau: ADHP là hoạt động của nhận thức và áp dụng pháp luật hình sự của TAND có thẩm quyền được thực hiện sau khi đã định tội danh và khung hình phạt, để quyết định các biện pháp TNHS, loại hình phạt, mức hình phạt cụ thể áp dụng đối với người thực hiện hành vi phạm tội trong phạm vi, giới hạn của khung hình phạt do luật định, phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng TNHS. Trong hệ thống tổ chức Tòa án có TAND và Tòa án quân sự. Tuy nhiên do phạm vi của đề tài, chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu về TAND, đặc biệt là TAND cấp huyện để làm rõ tính lý luận cũng như thực tiễn ADHP của Tòa án này. TAND gồm có TANDTC, TAND cấp cao, TAND cấp tỉnh và TAND cấp huyện.
TAND cấp huyện xét xử sơ thẩm những vụ án hình sự về những tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, trừ những tội phạm quy định tại điểm a, b, c và d Khoản 1 Điều 268 BLTTHS năm 2015, trong đó: 8 luan an Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội không lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do BLHS quy định đối với tội ấy là phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù đến 03 năm. “Để biết tội phạm mà bị can bị truy tố có thuộc thẩm quyền xét xử của TAND cấp huyện, Tòa án quân sự khu vực cần căn cứ vào hồ sơ vụ án; tội danh, điều khoản của BLHS mà Viện kiểm sát quyết định truy tố”. Từ những phân tích trên, có thể hiểu ADHP của TAND cấp huyện như sau: ADHP của TAND cấp huyện là hoạt động nhận thức và áp dụng pháp luật hình sự của TAND cấp có thẩm quyền xét xử sơ thẩm những vụ án hình sự về những tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, trừ những tội phạm quy định tại điểm a, b, c và d Khoản 1 Điều 268 BLTTHS năm 2015, được thực hiện sau khi đã định tội danh và khung hình phạt, để quyết định các biện pháp TNHS, loại hình phạt, mức hình phạt cụ thể áp dụng đối với người thực hiện hành vi phạm tội trong thẩm quyền mà pháp luật qui định TAND cấp huyện được thực hiện. ADHP của TAND cấp huyện có đặc điểm sau: Thứ nhất, chủ thể áp dụng chỉ có thể là TAND cấp huyện Như trên đã phân tích, một trong những nội dung quan trọng của ADHP là quyết định hình phạt và chỉ có Tòa án mới có quyền xét xử và quyết định hình phạt với người phạm tội theo trình tự thủ tục do BLTTHS quy định.
Khi quyết định hình phạt, Tòa án phải căn cứ vào quy định của BLHS và BLTTHS, bảo đảm việc xét xử đúng người, đúng tội, khách quan, toàn diện và đầy đủ, bảo đảm không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội có hiệu lực pháp luật của Tòa án. Theo quy định của pháp luật Việt Nam, chỉ có Tòa án mới có quyền xét xử và ra bản án hình sự bằng hình phạt. Quy định này thể hiện tính kiên quyết, thận trọng của Nhà nước Việt Nam trong đấu tranh 9 luan an chống tội phạm đồng thời bảo đảm lợi ích hợp pháp của công dân. Bên cạnh đó, quy định này còn thể hiện sự thống nhất giữa tội phạm và hình phạt.
Tòa án thực hiện quyền lực nhà nước thông qua hoạt động xét xử mà kết quả của hoạt động đó là một văn bản áp dụng pháp luật (bản án). Thứ hai, hoạt động ADHP của TAND cấp huyện chỉ được tiến hành tại phiên tòa xét xử sơ thẩm. Từ khi thụ lý hồ sơ vụ án từ Viện kiểm sát chuyển sang cho đến khi ban hành bản án, quyết định thi hành án, Tòa án tiến hành nhiều hoạt động áp dụng pháp luật, ví dụ: Quyết định áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam, quyết định đưa vụ án ra xét xử, nhưng hoạt động quan trọng nhất của việc áp dụng pháp luật hình sự tại Tòa án là quyết định tội danh và ADHP. Các phiên tòa hình sự sơ thẩm cấp huyện được tổ chức trang nghiêm, theo trình tự thủ tục chặt chẽ của pháp luật TTHS, dưới sự điều khiển của chủ tọa phiên tòa.
Bản án được gửi cho tất cả những người tham gia tố tụng, cơ quan hữu quan, chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú. Phiên tòa hình sự là trọng tâm của việc giải quyết vụ án hình sự, trước sự chứng kiến của đông đảo quần chúng nhân dân và những người tham gia tố tụng. Toàn bộ tài liệu chứng cứ thu thập được trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đều được xem xét, đánh giá khách quan, toàn diện và đầy đủ. Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử phải được bảo đảm.
Các tình tiết, nội dung của vụ án tại phiên tòa phải được làm sáng tỏ và công khai. Bị cáo được thực hiện các quyền bào chữa hoặc tự bào chữa và các quyền khác của mình tại phiên tòa, có quyền đưa ra quan điểm, tranh luận với kiểm sát viên để bảo vệ quyền lợi cho thân chủ của mình. Tại phiên tòa, để xác định sự thật của vụ án, làm rõ các dấu hiệu cấu thành tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, tạo điều kiện thuận lợi cho các bên trình bày quan điểm, ý kiến của mình về vụ án, Hội đồng xét xử sẽ nghe tranh luận giữa luật sư với kiểm sát viên về các tình tiết của vụ án, thẩm 10 luan an vấn và nghe lời trình bày của bị cáo, người bị hại, người làm chứng, người liên quan, giám định viên, xem xét vật chứng… Sau khi có đầy đủ các chứng cứ của vụ án tại phiên tòa, Hội đồng xét xử tiến hành nghị án, biểu quyết về việc bị cáo có tội hay không có tội, nếu phạm tội thì tội danh nào, áp dụng điều khoản nào của BLHS, hình phạt cụ thể và trách nhiệm pháp lý khác như bồi thường, án phí, hình phạt bổ sung. Bản án là văn bản áp dụng pháp luật trong đó chứa đựng quyết định ADHP.
Thứ ba, ADHP của TAND cấp huyện phải tuân thủ các nguyên tắc và trình tự, thủ tục xét xử sơ thẩm do BLTTHS quy định. Khi xét xử Tòa án phải tuân thủ các nguyên tắc của TTHS. Những nguyên tắc là kim chỉ nam cho các hoạt động xét xử. Người tiến hành tố tụng trong giải quyết án hình sự của TAND theo quy định của BLTTHS gồm có Chánh án, Phó Chánh án, Thẩm phán, Hội thẩm và Thư ký Tòa án.
Chánh án có quyền ra quyết định áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp tạm giam; quyết định xử lý vật chứng; quyết định thi hành án hình sự; quyết định hoãn chấp hành hình phạt tù; quyết định tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù; quyết định xóa án tích… Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân xét xử độc lập chỉ tuân theo pháp luật. Tính chặt chẽ về hình thức được thể hiện mọi hành vi tố tụng của người tiến hành tố tụng phải theo quy định của BLTTHS, như tại phiên tòa, Thẩm phán phải hỏi những câu hỏi bắt buộc, thực hiện hành vi bắt buộc theo một trình tự lôgic bắt buộc.Ví dụ: bắt buộc chủ tọa phiên tòa phải giải thích quyền và nghĩa vụ cho những người tham gia tố tụng… Tính chặt chẽ về nội dung được thể hiện là mỗi điều luật áp dụng đòi hỏi sự chính xác về điểm khoản phù hợp với nội dung phải giải quyết, không có sự áp dụng tương tự cũng như suy diễn sự việc áp dụng hệ thống pháp luật thực định.