Luận văn thạc sĩ: Hiện tượng cộng hưởng plasmon bề mặt của các hạt nano kim loại

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu hus hiện tượng cộng hưởng plasmon bề mặt của các hạt nano kim loại, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân, đề xuất giải pháp cải thiện thực tiễn.

Chuyên ngành

Vật Lý

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2011

62
3
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT

1.1. Hiện tượng cộng hưởng plasmon bề mặt của các hạt nano kim loại

1.2. Vật liệu nano

1.3. Cấu trúc tinh thể vàng và bạc

1.4. Plasmon bề mặt và hiện tượng cộng hưởng plasmon bề mặt

1.5. Tính chất quang của các hạt nano Au và Au-core/Ag-shell

1.6. Các phương pháp chế tạo hạt nano kim loại

1.6.1. Chế tạo hạt nano vàng

1.6.2. Chế tạo hạt nano Au-core/Ag-shell

1.6.3. Các phương pháp khảo sát

1.6.3.1. Khảo sát đặc trưng cấu trúc XRD
1.6.3.2. Nghiên cứu phổ tán sắc năng lượng EDS
1.6.3.3. Khảo sát vi hình thái TEM

1.6.4. Nghiên cứu phổ hấp thụ

2. CHƯƠNG 2: THỰC NGHIỆM

2.1. Chế tạo hạt nano vàng

2.2. Sử dụng chất khử Na3C6H5O7 và NaBH4

2.3. Chế tạo hạt nano Au-core/Ag-shell

2.4. Khảo sát đặc trưng cấu trúc XRD

2.5. Nghiên cứu phổ tán sắc năng lượng EDS

2.6. Khảo sát vi hình thái TEM

2.7. Nghiên cứu phổ hấp thụ

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1. Kết quả chế tạo mẫu bằng phương pháp hóa khử

3.1.1. Mẫu hạt nano vàng

3.1.2. Mẫu hạt nano Au-core/Ag-shell

3.2. Kết quả phân tích cấu trúc XRD

3.3. Phổ tán sắc năng lượng EDS

3.4. Kết quả vi hình thái TEM

3.4.1. Mẫu hạt vàng

3.4.2. Mẫu Au-core/Ag-shell

3.5. Kết quả đo phổ hấp thụ

3.5.1. Phổ hấp thụ của các hạt vàng

3.5.2. Phổ hấp thụ của các hạt Au-core/Ag-shell

KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về hiện tượng cộng hưởng plasmon bề mặt

Hiện tượng cộng hưởng plasmon bề mặt của các hạt nano kim loại là một lĩnh vực nghiên cứu quan trọng trong khoa học vật liệu. Hiện tượng này xảy ra khi ánh sáng tương tác với các hạt nano kim loại, dẫn đến sự dao động đồng pha của các điện tử tự do trên bề mặt. Các hạt nano kim loại như vàng và bạc có tính chất quang học đặc biệt, cho phép chúng hấp thụ ánh sáng ở các bước sóng cụ thể. Nghiên cứu này không chỉ giúp hiểu rõ hơn về tính chất quang học của vật liệu nano mà còn mở ra nhiều ứng dụng trong công nghệ sinh học, quang điện tử và cảm biến.

1.1. Khái niệm về hạt nano kim loại và plasmon

Hạt nano kim loại là các hạt có kích thước từ 1 đến 100 nanomet, với tính chất quang học đặc biệt. Plasmon bề mặt là dao động của các điện tử tự do trên bề mặt hạt nano khi bị kích thích bởi ánh sáng. Hiện tượng cộng hưởng plasmon bề mặt xảy ra khi tần số ánh sáng tới trùng với tần số dao động của các điện tử này.

1.2. Tính chất quang học của hạt nano vàng và bạc

Hạt nano vàng và bạc có khả năng hấp thụ ánh sáng mạnh mẽ, với các đỉnh cộng hưởng plasmon bề mặt nằm trong vùng ánh sáng khả kiến. Vị trí của các đỉnh này phụ thuộc vào kích thước, hình dạng và môi trường xung quanh của hạt nano. Nghiên cứu cho thấy rằng hạt nano vàng có đỉnh cộng hưởng plasmon khoảng 520 nm, trong khi hạt nano bạc có đỉnh khoảng 400 nm.

II. Thách thức trong nghiên cứu cộng hưởng plasmon bề mặt

Mặc dù hiện tượng cộng hưởng plasmon bề mặt đã được nghiên cứu rộng rãi, vẫn còn nhiều thách thức trong việc tối ưu hóa các hạt nano kim loại để đạt được hiệu suất quang học tốt nhất. Các yếu tố như kích thước, hình dạng và bản chất của vật liệu đều ảnh hưởng đến hiện tượng này. Việc kiểm soát các yếu tố này trong quá trình chế tạo hạt nano là rất quan trọng để đạt được các ứng dụng mong muốn.

2.1. Ảnh hưởng của kích thước hạt nano đến cộng hưởng plasmon

Kích thước của hạt nano ảnh hưởng trực tiếp đến vị trí và độ rộng của đỉnh cộng hưởng plasmon. Hạt nano nhỏ hơn thường có đỉnh plasmon rộng hơn do sự tán xạ electron tại bề mặt. Điều này làm cho việc kiểm soát kích thước hạt nano trở thành một thách thức lớn trong nghiên cứu.

2.2. Tác động của môi trường xung quanh đến hiện tượng plasmon

Môi trường xung quanh hạt nano cũng có thể làm thay đổi vị trí đỉnh cộng hưởng plasmon. Sự thay đổi trong hằng số điện môi của môi trường có thể dẫn đến dịch chuyển đỏ hoặc xanh của đỉnh plasmon, ảnh hưởng đến khả năng hấp thụ ánh sáng của hạt nano.

III. Phương pháp chế tạo hạt nano kim loại hiệu quả

Có nhiều phương pháp để chế tạo hạt nano kim loại, bao gồm phương pháp hóa học, vật lý và sinh học. Mỗi phương pháp có những ưu điểm và nhược điểm riêng, ảnh hưởng đến kích thước, hình dạng và tính chất quang học của hạt nano. Việc lựa chọn phương pháp phù hợp là rất quan trọng để đạt được các hạt nano với tính chất mong muốn.

3.1. Phương pháp hóa học để chế tạo hạt nano vàng

Phương pháp hóa học thường được sử dụng để chế tạo hạt nano vàng là phương pháp khử hóa học. Trong phương pháp này, các ion vàng được khử thành vàng nguyên tố thông qua các tác nhân khử như sodium citrate hoặc sodium borohydride. Kích thước và hình dạng của hạt nano có thể được điều chỉnh bằng cách thay đổi nồng độ các chất tham gia.

3.2. Phương pháp tạo hạt nano Au core Ag shell

Hạt nano Au-core/Ag-shell được chế tạo bằng cách cấy lớp vỏ bạc quanh lõi vàng. Phương pháp này không chỉ cải thiện tính chất quang học mà còn tăng cường độ ổn định của hạt nano. Các ion bạc được khử bằng các tác nhân khác nhau để tạo thành lớp vỏ bạc bọc quanh lõi vàng.

IV. Ứng dụng thực tiễn của cộng hưởng plasmon bề mặt

Hiện tượng cộng hưởng plasmon bề mặt có nhiều ứng dụng trong các lĩnh vực như công nghệ sinh học, cảm biến và quang điện tử. Các hạt nano kim loại có thể được sử dụng để phát hiện các chất phân tích trong y học, cũng như trong các thiết bị quang học tiên tiến. Nghiên cứu về ứng dụng của chúng đang ngày càng mở rộng.

4.1. Ứng dụng trong y học và cảm biến

Hạt nano kim loại có thể được sử dụng trong các cảm biến sinh học để phát hiện các biomarker trong máu. Hiện tượng cộng hưởng plasmon bề mặt giúp tăng cường tín hiệu, cho phép phát hiện ở nồng độ thấp hơn nhiều so với các phương pháp truyền thống.

4.2. Ứng dụng trong quang điện tử

Trong lĩnh vực quang điện tử, hạt nano kim loại có thể được sử dụng để chế tạo các thiết bị quang học như bộ khuếch đại ánh sáng và các cảm biến quang. Chúng có khả năng hấp thụ và phát xạ ánh sáng hiệu quả, mở ra nhiều cơ hội cho các ứng dụng công nghệ cao.

V. Kết luận và tương lai của nghiên cứu plasmon

Nghiên cứu về hiện tượng cộng hưởng plasmon bề mặt của các hạt nano kim loại đang mở ra nhiều hướng đi mới trong khoa học vật liệu. Với sự phát triển của công nghệ chế tạo và phân tích, khả năng ứng dụng của các hạt nano này trong thực tiễn sẽ ngày càng được nâng cao. Tương lai của nghiên cứu này hứa hẹn sẽ mang lại nhiều đột phá trong các lĩnh vực công nghệ sinh học, quang học và cảm biến.

5.1. Triển vọng nghiên cứu trong tương lai

Nghiên cứu về cộng hưởng plasmon bề mặt sẽ tiếp tục phát triển với sự xuất hiện của các công nghệ mới. Việc tối ưu hóa các hạt nano để đạt được tính chất quang học tốt nhất sẽ là một trong những mục tiêu chính trong nghiên cứu.

5.2. Tác động đến các lĩnh vực ứng dụng

Sự phát triển của công nghệ nano sẽ có tác động lớn đến nhiều lĩnh vực, từ y học đến công nghệ thông tin. Các hạt nano kim loại sẽ tiếp tục được nghiên cứu để phát triển các ứng dụng mới, mang lại lợi ích cho xã hội.

18/07/2025
Luận văn thạc sĩ hus hiện tượng cộng hưởng plasmon bề mặt của các hạt nano kim loại

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm ba chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý thuyết Chƣơng 2: Thực nghiệm Chƣơng 3: Kết quả và thảo luận LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1. Hiện tƣợng cộng hƣởng plasmon bề mặt của các hạt nano kim loại 1. Vật liệu nano a. Khái niệm vật liệu nano Vật liệu nano là vật liệu trong đó có ít nhất một chiều có kích thƣớc nanomet (1 nm = 10-9 m).

Đây là đối tƣợng nghiên cứu của khoa học nano và công nghệ nano, nó liên kết hai lĩnh vực này với nhau.Tính chất của vật liệu nano bắt nguồn từ kích thƣớc của chúng vào cỡ nanomet, đạt tới kích thƣớc tới hạn của nhiều tính chất hóa lý của vật liệu thông thƣờng. Đây là lý do mang lại tên gọi cho vật liệu. Kích thƣớc của vật liệu nano trải một khoảng từ vài nanomet đến vài trăm nanomet tùy thuộc vào bản chất vật liệu và tính chất cần nghiên cứu [1]. Phân loại vật liệu nano [1] Có nhiều cách để phân loại vật liệu nano, sau đây là một số cách phân loại thƣờng dùng: * Về hình dáng vật liệu, ngƣời ta phân ra thành các loại sau: - Vật liệu nano không chiều (cả ba chiều đều có kích thƣớc nano, không còn chiều tự do nào cho điện tử), ví dụ: đám nano, hạt nano… - Vật liệu nano một chiều là vật liệu trong đó hai chiều có kích thƣớc nano, điện tử đƣợc tự do trên một chiều (hai chiều giam giữ), ví dụ: dây nano, ống nano… - Vật liệu nano hai chiều là vật liệu trong đó một chiều có kích thƣớc nano, hai chiều tự do, ví dụ: màng mỏng… - Ngoài ra còn có vật liệu có cấu trúc nano hay nanocomposite trong đó chỉ có Trần Thu Hà – Quang học 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com một phần của vật liệu có kích thƣớc nannomet hoặc cấu trúc của nó có nano không chiều, một chiều, hai chiều đan xen lẫn nhau.

* Phân loại theo tính chất vật liệu, ví dụ: vật liệu nano kim loại, vật liệu nano bán dẫn, vật liệu nano sinh học… * Nhiều khi ngƣời ta phối hợp hai cách phân loại với nhau hoặc phối hợp hai khái niệm nhỏ để tạo ra các khái niệm mới. Ví dụ: đối tƣợng chính của nghiên cứu là hạt nano Au đƣợc phân loại là “hạt nano kim loại”. Trong đó “hạt” đƣợc phân loại theo hình dáng. Sau khi đƣợc chế tạo các hạt nano đều có ba chiều có kích thƣớc nano, đƣợc xếp vào loại vật liệu nano không chiều, “kim loại” đƣợc phân loại theo tính chất vật liệu.

Cấu trúc tinh thể vàng, bạc Các kim loại quý hiếm nhƣ Au, Ag đƣợc chúng tôi đề cập đến trong nghiên cứu này bởi chúng rất bền vững (chịu nhiệt cao, khó bị oxi hóa, bền trong không khí khô và ẩm…). Bên cạnh đó, vị trí đỉnh cộng hƣởng của chúng trong vùng khả kiến - vùng ánh sáng rất đƣợc quan tâm và có nhiều ứng dụng trong thực tế. Kim loại Au [2] Au là kim loại quý đứng vị trí thứ 79 trong bảng hệ thống tuần hoàn, thuộc nhóm IB, có cấu hình điện tử Xe5d106s và Xe5d96s2. Nguyên tử Au có năng lƣợng ở hai mức 5d và 6s xấp xỉ nhau nên có sự cạnh tranh giữa lớp d và lớp s.

Điện tử của Au có thể dịch chuyển về cả hai trạng thái này. Do đó các điện tử trong kim loại Au rất linh động tạo nên tính dẻo dai đặc biệt của Au và phổ của nguyên tố Au cũng rất phức tạp. Au có ánh kim, màu vàng, cùng nhóm với Ag và Cu nhƣng mềm hơn, dẻo, nặng, khó nóng chảy (nhiệt độ nóng chảy 1063,4 oC), nhiệt độ sôi là 2880 oC, dễ dẫn Trần Thu Hà – Quang học 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nhiệt, dẫn điện (độ dẫn điện là 40.107 Ω/m, độ dẫn nhiệt là 350 W/m.K), bền trong không khí khô và ẩm. Au kết tinh có cấu trúc lập phƣơng tâm mặt (hình 1.1), mỗi nguyên tử Au liên kết với 12 nguyên tử Au xung quanh và có hằng số mạng là a = 4,0786 Å.

Cấu trúc lập phƣơng tâm mặt tinh thể Au b. Kim loại Ag [3] Ag có số nguyên tử 47 thuộc phân nhóm IB trong bảng tuần hoàn các nguyên tố hóa học, có khối lƣợng phân tử là 107,868 (đơn vị C), cấu hình điện tử Kr4d105s1. Nguyên tử Ag có năng lƣợng ở hai mức 4d và 5s xấp xỉ nhau nên có sự cạnh tranh giữa lớp d và lớp s. Điện tử của Ag có thể dịch chuyển về cả hai trạng thái này nhƣng phổ biến nhất là trạng thái oxi hóa +1.Trong tự nhiên, Ag tồn tại hai dạng đồng vị bền là Ag-107(52%) và Ag-109(48%).

Ag là kim loại chuyển tiếp, màu trắng, sáng, dễ dàng dát mỏng, có tính dẫn điện và dẫn nhiệt cao nhất và điện trở thấp nhất trong các kim loại. Nhiệt độ nóng chảy là 961,930C.Ag không tan trong nƣớc, môi trƣờng kiềm nhƣng có khả năng tan trong một số axit mạnh nhƣ axit nitric, sunfuric đặc nóng… Ag cũng thƣờng có cấu trúc tinh thể dạng lập phƣơng tâm mặt với thông số của ô cơ sở là: a = b =c = 4,08 Å, α = β = γ = 90o. Các đỉnh đặc trƣng về phổ nhiễu xạ Trần Thu Hà – Quang học 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tiacủa Ag ở vị trí 38,14o; 44,34o; 65,54o; 77,47o tƣơng ứng với các mặt phẳng mạng {111}, {200}, {220}, {311}. Plasmon bề mặt và hiện tượng cộng hưởng plasmon bề mặt a.

Khái niệm plasmon bề mặt Plasmon bề mặt là những sóng điện từ đƣợc truyền dọc theo giao diện kim loại - điện môi. Đơn giản hơn, ta có thể định nghĩa: plasmon bề mặt là sự dao động của điện tử tự do ở bề mặt của hạt nano với sự kích thích của ánh sáng tới. Cƣờng độ điện trƣờng của plasmon bề mặt giảm theo hàm mũ khi xa dần giao diện kim loại - điện môi. Hiện tƣợng cộng hƣởng plasmon bề mặt Hiện tƣợng cộng hƣởng plasmon bề mặt là sự kích thích các electron tự do bên trong vùng dẫn, dẫn tới sự hình thành các dao động đồng pha [2].

Khi kích thƣớc của một tinh thể nano kim loại nhỏ hơn bƣớc sóng của bức xạ tới, hiện tƣợng cộng hƣởng plasmon bề mặt xuất hiện. * Thuyết Mie: Vào đầu thế kỉ XX, Gustav Mie đã bắt đầu nghiên cứu các tính chất của các hạt chất keo trong dung dịch dạng lỏng để mô tả các tính chất quang học và tính chất điện của chúng. Trong khoảng thời gian này, ông đã phát triển một lý thuyết có khả năng mô tả một cách toán học sự tán xạ của ánh sáng tới bởi các hạt dạng cầu. Coi hạt nano có kích thƣớc rất nhỏ so với bƣớc sóng ánh sáng tới (2r <λmax /10), theo tính toán của Mie, chỉ có dao động lƣỡng cực là ảnh hƣởng đáng kể tới tiết diện tắt dần σext.

Tiết diện này có thể đƣợc tính theo công thức (trong gần đúng lƣỡng cực điện): Trần Thu Hà – Quang học 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.1) c [ 1 ( )]2  [ 2 ( )]2 trong đó: V: thể tích hình cầu, V = (4Π/3)r 3 , 𝜔: tần số góc của ánh sáng tới, c: vận tốc ánh sáng, εm và𝜀(𝜔) = ε1 ω + iε2 (ω): hằng số điện môi của môi trƣờng xung quanh và của vật liệu. Hiện tƣợng cộng hƣởng chỉ thu đƣợc khi thỏa mãn điều kiện ε1 ω = −2εm với ε2 (ω) là rất nhỏ và ảnh hƣởng không đáng kể đến tần số góc. Đối với các hạt có kích thƣớc nhỏ, sự tán xạ bề mặt electron trở nên đáng kể trong khi quãng đƣờng tự do trung bình của electron dẫn nhỏ hơn kích thƣớc Vật lý của hạt nano. Ví dụ: electron dẫn trong Au có quãng đƣờng tự do trung bình là 40-50 nm và sẽ bị giới hạn bởi bề mặt của hạt trong hạt có kích thƣớc 20 nm.

Nếu electron tán xạ đàn hồi ngẫu nhiên tại bề mặt, liên kết giữa các dao động plasmon bị phá vỡ.Va chạm không đàn hồi giữa electron-bề mặt cũng thay đổi pha dao động. Hạt càng nhỏ thì electron càng nhanh va chạm và tán xạ tại bề mặt, do đó liên kết bị phá vỡ càng nhanh. Vì vậy độ rộng đỉnh plasmon tăng lên khi kích thƣớc hạt giảm. Lý thuyết Mie giới hạn cho các hệ có nồng độ hạt nhỏ và giả thuyết các hạt là tách biệt, không tƣơng tác với nhau.

Giả thuyết này cũng cho rằng điện trƣờng đƣợc sinh ra do kích thích plasmon bề mặt cộng hƣởng khi một hạt đơn lẻ không tƣơng tác với phần còn lại trong môi trƣờng xung quanh. Khi khoảng cách giữa hai hạt giảm đi sẽ có một dịch chuyển đỏ xảy ra trong cộng hƣởng plasmon và ta sẽ quan sát đƣợc thêm một đỉnh hấp thụ ở bƣớc sóng dài hơn [2]. Trần Thu Hà – Quang học 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Tính chất quang của các hạt nano Au và Au-core/Ag-shell Bản chất của phổ hấp thụ không phải do sự dịch chuyển giữa các mức năng lƣợng mà là do hiện tƣợng cộng hƣởng plasmon bề mặt.

Khi tần số của sóng ánh sáng tới bằng tần số dao động của các điện tử dẫn trên bề mặt hạt nano Au, Ag sẽ có hiện tƣợng cộng hƣởng plasmon bề mặt. Ánh sáng đƣợc chiếu tới hạt nano Au, Ag, dƣới tác dụng của điện trƣờng ánh sáng tới, các điện tử trên bề mặt hạt nano Au, Ag đƣợc kích thích đồng thời dẫn tới một dao động đồng pha (dao động tập thể), gây ra một lƣỡng cực điện ở hạt nano Au, Ag (hình 1.2) Electric cluster + _ + + _ _ + + _ _ light _ _ electric field _ _ + + _ + + + Surface charges Ionic cluster Time t Time t + T/2 Hình 1. Sự kích thích dao động plasmon bề mặt lƣỡng cực của các hạt nano Theo tính toán của Mie cho các hạt dạng cầu thì vị trí đỉnh cộng hƣởng plasmon phụ thuộc vào ba yếu tố cơ bản [5]: * Thứ nhất: vị trí đỉnh cộng hƣởng plasmon phụ thuộc vào hình dạng, kích thƣớc của kim loại kích thƣớc nano (𝐿𝑥,𝑦,𝑧 ) Trần Thu Hà – Quang học 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Đối với các vật liệu nano kim loại (ví dụ: Au), phổ hấp thụ sẽ khác nhau khichúngcó hình dạng và kích thƣớc khác nhau. Điều này đƣợc chỉ ra trên hình 1.Phổ hấp thụ điển hình Hình 1.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên cứu hiện tượng cộng hưởng plasmon bề mặt của hạt nano kim loại" khám phá một trong những hiện tượng quan trọng trong vật lý nano, đó là cộng hưởng plasmon bề mặt. Nghiên cứu này không chỉ giúp hiểu rõ hơn về cách mà ánh sáng tương tác với các hạt nano kim loại, mà còn mở ra nhiều ứng dụng tiềm năng trong lĩnh vực quang học, cảm biến và công nghệ sinh học. Đặc biệt, tài liệu cung cấp cái nhìn sâu sắc về cách tối ưu hóa các đặc tính quang học của hạt nano, từ đó nâng cao hiệu suất trong các ứng dụng thực tiễn.

Để mở rộng kiến thức của bạn về các chủ đề liên quan, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Luận án tiến sĩ chế tạo các cấu trúc nano vàng bạc dạng hoa lá trên silic để sử dụng trong nhận biết một số phân tử hữu cơ bằng tán xạ raman tăng cường bề mặt, nơi nghiên cứu về các cấu trúc nano có khả năng nhận biết phân tử hữu cơ. Bên cạnh đó, tài liệu Luận văn thạc sĩ kỹ thuật hóa học tổng hợp và đánh giá hoạt tính quang hóa và kháng khuẩn của vật liệu nano zno cũng sẽ cung cấp thêm thông tin về các vật liệu nano và ứng dụng của chúng trong lĩnh vực quang hóa. Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về Luận văn tổng hợp và nghiên cứu tính chất quang của vật liệu nano lai fe3o4 ag chế tạo bằng phương pháp điện hóa, tài liệu này sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các vật liệu nano lai và tính chất quang của chúng. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức và khám phá sâu hơn về các ứng dụng của hạt nano trong khoa học và công nghệ.