CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học việc nghiên cứu đề tài 1. Đặc điểm cấu tạo và chức năng cơ quan sinh dục cái Các nhà khoa học, bác sĩ thú y, người chăn nuôi luôn quan tâm tìm hiểu và nghiên cứu về cấu tạo và chức năng của các cơ quan trong cơ thể, trong đó có cơ quan sinh dục của gia súc cái để giải quyết các vấn đề phát sinh trong quá trình chăn nuôi cũng như tìm ra được các phương pháp phòng và điều trị bệnh cho vật nuôi. * Các bộ phận sinh dục của bò bên ngoài Âm môn hay âm hộ (Vulva) Dưới hậu môn là âm môn, phía ngoài âm môn có 2 môi (Labia vulva), nối liền 2 môi băng 2 mép (Bima vulvae).
Trên hai môi của âm môn nhiều tuyến tiết, tiết chất nhờn trắng và tiết mồ hôi. Âm vật (Clitoris) Cấu tạo âm vật có các thể hồng như con đực, giữa âm vật bẻ gập xuống dưới, trên âm vật có nếp da tạo mu âm vật. Các bộ phận sinh dục bò cái bên trong Gồm có các bô phận sau: âm đạo, cổ tử cung, tử cung, buồng trứng, ống dẫn trứng. Âm đạo (Vagina): Âm đạo nối tiếp với âm hộ và mở rộng về phía cổ tử cung, dài khoảng 20cm thành mỏng dai và đàn hồi.
Khi bò động dục, cơ thể bò tiết ra các chất thấm trơn qua biểu mô âm đạo, dịch nhầy ở cổ tử cung, niêm dịch tuyến nội mạc tử cung. 5 Cổ tử cung (Cervix): Cổ tử cung dài khoảng 6 - 10cm, đường kính từ 2 - 5cm. Niêm mạc bên trong cổ tử cung trâu bò gấp nếp nhiều lần, từ 3 - 5 lần gọi là các vòng hoa nở. Có hình tròn luôn đóng lỗ tử cung, chỉ mở lúc sinh đẻ hay khi bệnh lý.
Thân tử cung (Body uterus): Là phần nối giữa cổ tử cung với sừng tử cung có kích thước ngắn khoảng 2 - 4cm. Là những lớp cơ trơn dày, cơ dọc ở ngoài cơ vòng ở trong, bên trong cùng có các tuyến sinh dục có khả năng tiết ra những chất dịch giúp cho sự vận động của tinh trùng và sự phát triển của thai sau khi thụ tinh. Sừng tử cung (Horn uterus): Đối với trâu bò cái có hai sừng tử cung phải và trái, độ dài của sừng tử cung khoảng 15 - 20cm (Trần Tiến Dũng và cs, 2002). Buồng trứng (Ovarium) Buồng trứng của trâu bò tiết dịch nội tiết và sinh ra trứng.
Buồng trứng hình bầu dục, nằm ở cuối hai sừng tử cung gần cạnh trước xương ngồi. Buồng trứng bò có kích thước (1 - 2) (1 - 1,5) 1,5 cm (Nguyễn Tấn Anh và cs, 1995). Noãn bao chín có kích thước khoảng 1cm. Noãn bao khi thành thục thì màng bọc nang rách ra giải phóng tế bào trứng khỏi buồng trứng đi vào loa kèn.
Các tế bào hạt (sau khi giải phóng trứng) trong xoang buồng trứng phân chia thành một khối tế bào lớn và trở thành thể vàng. Thể vàng các tế bào tiết ra progesterone và các progestin khác, kích thước tối đa là 20,5 mm vào ngày 15 - 16 của chu kỳ động dục sau đó thoái hóa và có đường kính trung bình 12,5 mm vào ngày 18 – 21 chu kỳ động dục của bò cái. Khi bò được thụ thai thể vàng sẽ không thoái hóa cho đến cuối kỳ mang thai, hàm lượng progesterone được thể vàng tiết ra tăng nhanh từ ngày thứ 2 đến ngày thứ 8 và giữ tương đối ổn định cho đến ngày thứ 15, sự thoái hóa thể vàng ở bò bắt đầu từ ngày 17 - 18 và chuyển thành thể bạch nếu trứng không được thu tinh. 6 Ống dẫn trứng (Oviductus) Một đầu có hình loa kèn (màng mỏng bao quanh buồng trứng), nhận trứng từ buồng trứng đi vào ống dẫn trứng thông với xoang bụng gần sát buồng trứng, đầu còn lại nối tiếp vào sừng tử cung.
Khi bò giao phối hay thụ tinh nhân tạo, trứng đi đến lòng ống dẫn trứng tại nơi này xảy ra thụ tinh và phân chia sớm của phôi. Hoạt động sinh dục của bò cái * Sự thành thục về tính và tuổi phối giống lần đầu Thành thục về tính là khi cơ quan sinh dục, buồng trứng đã đến mức độ hoàn thiện, đủ điều kiện cho phôi thai phát triển. Thành thục về tính thường sớm hơn thành thục về thể vóc và phụ thuộc vào nhiều yếu tố: điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng, giống, khí hậu. Bê được cho ăn sữa mẹ trong ba tháng đầu, sau khi cai sữa được chăm sóc, cho ăn tốt, sinh trưởng tốt sẽ thành thục về tính sớm hơn.
Bê được chăm sóc nuôi dưỡng tốt có thể thành thục tính dục lúc 11 tháng tuổi, để có thể phối giống lần đầu khi bê tơ thành thục về thể vóc phải từ 15 tháng tuổi trở lên. Tuổi phối giống lần đầu vào lúc 14 - 18 tháng tuổi là tốt nhất. * Chu kỳ động dục Khi bò đã động dục lần đầu tiên thì những biểu hiện động dục của bò được diễn ra liên tục và theo chu kỳ. Bên trong cơ thể rụng trứng, con bò có những biểu hiện động dục ra bên ngoài.
Bò có chu kỳ động dục thông thường của là 21 ngày nhưng một sô trường hợp sớm hơn hoặc muộn hơn dao động từ 18 đến 23 ngày. Trứng phát triển đến chín và rụng đều chịu sự điều hoà chặt chẽ của hormone, chu kỳ động dục của bò thành 2 pha chính là pha Folliculin: toàn bộ biểu hiện trước khi rụng trứng và pha Lutein: những biểu hiện sau khi trứng rụng và hình thành thể vàng. Thường có 3 đợt sóng nang trong một chu kỳ động dục của bò, đợt 1 bắt đầu khi rụng trứng từ ngày thứ 3 - 9 của chu kỳ, đợt 2 từ ngày 11 - 17 và đợt 3 vào ngày 18 - 0. Trong một đợt sóng nang có thể có tới 15 nang phát triển kích thước từ 5 - 7mm có thể đạt tới 15 mm.
7 Mỗi một đợt sóng nang có 1 - 2 nang trội phát triển và kìm hãm các nang còn lại. Khi thể vàng còn tồn tại chưa bị thoái hóa thì cả nang khống chế và nang lớn sẽ bị thoái hóa không thể phát triển tới và rụng, cho tới khi đợt cuối cùng sóng nang của chu kỳ động dục theo cơ chế sinh học thể vàng không còn thì nang trội mới phát triển tới chín và rụng trứng. Sau ngày 18 của chu kỳ động dục nang trội phát triển nhanh, tốc độ phát triển của nang trội ở thời điểm này có thể đạt 1,6 mm/ngày. Chu kỳ động dục ở bò cái được chia làm 4 giai đoạn: Giai đoạn trước động dục: tính từ thời kỳ thoái hoá thể vàng của chu kỳ trước cho đến giai đoạn động dục kỳ sau , âm hộ sưng nhẹ, sung huyết, bóng ướt, niêm dịch chảy ra nhiều, lỏng, trong suốt nhớt đứt đoạn, con vật bồn chồn, đi lại, đái rắt, kém ăn, nhảy lên con khác.
Giai đoạn động dục: thời gian kéo dài từ 8 - 30 giờ, giai đoạn này bò chấp nhận sự phối giống. Tế bào trứng và nang trứng đạt đến độ chín tối đa. Bò cái đến gần hít gửi con khác, chịu đực, trạng thái mê ỳ, ăn ít hoặc không ăn, tụt sữa, âm hộ bớt sưng, hơi thấm niêm dịch đặc dính co lại, màu đục trong, kéo dài 7 - 10 cm. Giai đoạn sau động dục: Nang trứng rách ra và tại vị trí rách phát triển thành thể vàng trong vòng 3 ngày, âm hộ hết sưng.
Giai đoạn cân bằng sinh học: Bò cái trở về bình thường, giai đoạn này kéo dài từ 12 - 15 ngày và thể vàng sản sinh mạnh progesterone (Saito và cs, 1992). Bò cái có chu kỳ động dục biến động từ 18 - 28 ngày (trung bình 21 ngày), thời gian động dục từ 6 - 36 giờ (phần lớn kéo dài từ 25 - 36 giờ) (Siphilop, 1967). Vai trò của FSH FSH được tiết ra bởi các tế bào nội tiết của thùy trước tuyến yên, FSH có tác dụng điều hòa quá trình sinh trưởng, phát triển, thành thục về tính và các quá trình sinh sản của cơ thể. Kích noãn tố (FSH) có vai trò quan trọng cho tất cả các giai đoạn phát triển của nang trứng.
8 Vai trò của LH: Hormone LH kết hợp với FSH làm giảm sự bài tiết của estrogen ở những nang lớn làm cho bao noãn thành thục. LH có vai trò làm rách vách nang trứng gây rụng trứng. Ngoài ra LH cũng kích thích sự tạo và duy trì hoạt động của tế bào thể vàng. * Quá trình mang thai Quá trình mang thai được bắt đầu từ khi trứng được thụ tinh cho đến khi đẻ xong, được tính ngày từ ngày phối giống cuối cùng cho đến ngày đẻ.
Thời gian mang thai của bò dao động trong khoảng 278 - 290 ngày, được chia làm 3 thời kì cơ bản gồm thời kì phôi từ ngày 1 đến ngày 34, thời kì tiền thai từ ngày 35 đến ngày 60, thời kì bào thai từ ngày 61 đến khi đẻ. * Khoảng cách giữa hai lứa đẻ Là khả năng sinh sản của gia súc, phụ thuộc vào giống, chế độ chăm sóc nuôi dưỡng, sản lượng sữa sau đẻ, thời gian động dục lại sau đẻ, kỹ thuật phối giống, bệnh về sinh sản. Bò cái trong 1 năm bò đẻ 1 lứa là khoảng cách lý tưởng, khoảng cách lứa đẻ dài ảnh hưởng đến toàn bộ thời gian cho cho sữa trong một chu kỳ sinh sản của bò. Bò có khoảng cách giữa hai lứa đẻ càng gần khoảng cách lý tưởng thì người chăn nuôi sẽ giảm được các chi phí trong chăn nuôi, hiệu quả về kinh tế, sản lượng sữa trong một chu kỳ sinh sản tăng cao.
* Sự hồi phục sau khi đẻ Thời gian hồi phục tử cung sau đẻ Tử cung sau khi đẻ của bò hồi phục bình thường ảnh hưởng rất lớn đến khả năng tiết prostaglandin ở thân sừng tử cung, đối với bò bị viêm tử cung làm lượng prostaglandin giảm làm thể vàng không thể thoái hóa dẫn đến bệnh thể vàng tồn lưu. Tử cung của bò sau khi đẻ được hồi phục trở lại gần như bình thường vào khoảng ngày thứ 30 và cần thêm 15 ngày nữa thì trương lực cơ tử cung 9 mới được hồi phục hoàn toàn nên thời gian phối giống thích hợp lứa tiếp theo là từ 45 ngày sau khi đẻ. Đối với bò đẻ khó, sót nhau, thời gian hồi phục tử cung kéo dài tùy vào mức độ theo dõi và điều trị sót nhau, viêm tử cung. Nếu không được điều trị, bệnh tiến triển nặng có thể gây loại thải bò.
Theo Mohammed và cs. (2019), Viêm nội mạc tử cung có tác động tiêu cực rõ ràng đến chu kỳ buồng trứng sau sinh ở bò sữa Holstein.