ĐẶT VẤN ĐỀ Vượn đen má trắng (Nomascus leucogenys) là một trong 6 loài vượn thuộc giống Nomascus được ghi nhận ở Việt Nam (Van Ngoc Thinh et al, 2010), (Nadler & Brockman, 2014). Các loài vượn đều nằm trong số những loài động vật hoang dã nguy cấp nhất do kích thước quần thể đang suy giảm nhanh chóng. Cụ thể, có 4 loài vượn được xếp vào bậc "Cực kỳ nguy cấp" và 2 loài xếp vào bậc "Nguy cấp" trong danh lục đỏ (IUCN, 2021). Trong Sách Đỏ Việt Nam (Bộ Khoa học và Công nghệ, 2007) cũng xếp các loài vượn vào mức nguy cấp trở lên.
Vượn đã không còn được ghi nhận tại một số khu bảo tồn ở miền Bắc Việt Nam trong khoảng 10 năm trở lại đây (Rowson et al, 2011) do tốc độ suy giảm quần thể cao. Do đó, nhu cầu cho bảo tồn các loài này đang thực sự vô cùng bức thiết. Trong bộ Linh trưởng, các loài vượn có sự khác biệt rất lớn với các loài còn lại, đó là tiếng hót, với phổ âm thanh đặc trưng phân biệt giữa các loài, thậm chí giữa các cá thể có giới tính khác nhau trong loài, điểm khác biệt này được sử dụng để điều tra thành phần, số lượng, phân bố của các loài vượn tại các điểm nghe và ghi âm tự động. Tuy nhiên, không phải lúc nào các đàn vượn cũng hót trong thời gian điều tra.
Ví dụ, khi thời tiết có mưa hoặc sương mù chúng hót ít hơn, do vậy ít được phát hiện (Dena et al, 2020). Ngoài ra, kỹ năng phân tích số liệu thực địa cũng không đồng nhất giữa các tác giả. Để khắc phục những nhược điểm này, phần mềm tính toán tự động để ước lượng kích thước quần thể vượn trong khu vực nghiên cứu thông qua tiếng hót ghi nhận qua các ngày điều tra có tính đến hệ số hiệu chỉnh (xác suất hót theo ngày) đã được xây dựng (Vu Tien Thinh & Rawson, B M, 2011). Tuy nhiên, nhược điểm của các phương pháp này là chưa tính đến khả năng nhiều cá thể không được phát hiện do ở xa.
Trong thực tế, khả năng phát hiện ra tiếng hót thường giảm đi khi khoảng cách từ người điều tra tới đàn vượn tăng lên, điều 2 này có thể xảy ra do địa hình đồi núi gây cản trở đến quá trình lan truyền của âm thanh. Ngoài ra, càng ra xa thì âm lượng càng nhỏ, do vậy những đàn ở xa sẽ khó được phát hiện hơn so với những đàn vượn ở gần. Từ quan điểm này, phương pháp mà (Brockelman & Ali, 1987) đưa ra có thể dẫn đến ước lượng mật độ loài thấp hơn thực tế do một số đàn ở xa không được phát hiện mặc dù chúng có hót, việc áp dụng phương pháp khoảng cách sẽ có thể đưa ra kết quả ước lượng chính xác hơn. Tất cả các cuộc điều tra và giám sát vượn từ trước tới nay đều do con người thực hiện.
Tuy nhiên, các phương pháp điều tra và giám sát hiện tại thực hiện bởi con người yêu cầu nguồn tài chính và nhân lực lớn, đặc biệt khi các loài vượn chỉ còn được tìm thấy ở những khu vực sâu xa, khó tiếp cận (Vu Tien Thinh & Dong Thanh Hai, 2015); (Vu Tien Thinh et al, 2016). Trong thực tế, để thực hiện một cuộc điều tra vượn cần có một nhóm từ 5-7 người, chưa kể những người hỗ trợ vận chuyển thiết bị và nhu yếu phẩm. Điều này làm cho các cuộc điều tra trở nên phức tạp và chi phí lớn hơn (Vu Tien Thinh & Rawson, B M, 2011). Do vậy, các chương trình giám sát thường xuyên đối với các quần thể vượn có nguy cơ tuyệt chủng ít khi được thực hiện.
Cuối cùng, sai số chủ quan do con người gây ra trong quá trình điều tra cũng tồn tại, làm cho việc so sánh kích thước quần thể giữa các năm phục vụ mục đích giám sát trở nên khó khăn. Gần đây, phương pháp điều tra và giám sát động vật hoang dã sử dụng thiết bị ghi âm và phân tích âm thanh tự động đã được phát triển. Kỹ thuật này đã được áp dụng thành công đối với một số loài động vật hoang dã có tiếng kêu đặc trưng. Loài vượn cũng phát ra âm thanh rất đặc trưng so với các loài trong bộ Linh trưởng và có thể được phát hiện từ một khoảng cách lên tới 2 km (Geissmann, T, 1993); (Geissmann & Orgeldinger, 2000).
Hiện nay đã có Trần Mạnh Long sử dụng âm sinh học trong điều tra giám sát loài Vượn đen má vàng (Nomascus gabriellae) tại VQG Cát Tiên (Trần Mạnh Long, 2020), 3 Vũ Tiến Thịnh và cộng sự xác định cấu trúc đàn vượn má vàng Trung bộ (Nomascus annamensis) tại Khu Bảo tồn Thiên nhiên Đakrông, tỉnh Quảng Trị bằng phương pháp âm sinh học (Vũ Tiến Thịnh & cs, 2021). Tuy nhiên, cho đến nay chưa có một công trình nghiên cứu nào được thực hiện để ứng dụng kỹ thuật âm sinh học nhằm điều tra và giám sát loài Vượn đen má trắng. Như vậy việc ứng dụng các thiết bị ghi âm tự động và phân tích âm thanh có thể góp phần thúc đẩy công tác điều tra, giám sát và bảo tồn các loài vượn ở Việt Nam nói chung và loài Vượn đen má trắng nói riêng. VQG Vũ Quang được thành lập theo quyết định số 102/2002/QĐ-TTg ngày 30 tháng 7 năm 2002 của Thủ tướng chính phủ, với chức năng nhiệm vụ chính là bảo tồn mẫu chuẩn về hệ sinh thái rừng Bắc Trường Sơn, bảo tồn sự đa dạng sinh học đặc trưng của rừng tự nhiên thuộc dãy Trường Sơn, tiếp giáp với biên giới Việt Nam - Lào, VQG Vũ Quang còn góp phần duy trì cân bằng sinh thái và gia tăng độ che phủ rừng, bảo đảm an ninh môi trường và sự phát triển bền vững về tự nhiên kinh tế của các tỉnh thuộc khu IV.
Ngoài ra, đơn vị còn giúp phát huy các giá trị của hệ sinh thái rừng phục vụ công tác nghiên cứu khoa học, tham quan và du lịch sinh thái. Theo quy hoạch không gian để bảo tồn thiên nhiên ở Khu bảo tồn thiên nhiên Vũ Quang của các tác giả (Roland, Madhavan, & Dzung, 2000) thì tổng số loài thú được ghi nhận tại khu vực là 70 loài, trong đó bộ Linh trưởng (Primates) có 2 họ: Cercopithecidae với 3 loài là (Macaca mulata, Macaca arctoides và Pygathrix nemaeus) và Hylobatidae với 01 loài là Hylobates leucogenys. Kết quả nghiên cứu của (Nguyễn Danh Kỳ & cs, 2019) cho thấy đã từng ghi nhận được tại VQG Vũ Quang có 8 loài thú linh trưởng thuộc 1 bộ, 3 họ gồm: Họ khỉ có 5 loài; Họ cu li có 2 loài; Họ vượn có 1 loài. So với khu hệ thú linh trưởng cả nước có 8/25 loài linh trưởng chiếm 32%.
Đặc biệt trong số đó có một số loài quý, hiếm, có nguy cơ tuyệt chủng cao, đang được sự quan 4 tâm của các nhà khoa học trên thế giới và ưu tiên bảo tồn đặc biệt ở Việt Nam. Trong 8 loài linh trưởng được điều tra trong nghiên cứu trên thì loài Cu li lớn không được ghi nhận trong bất kỳ lần quan sát nào, loài Vượn đen má trắng được ghi nhận 7 lần nhưng đều ghi nhận qua tiếng hót (không có minh họa phổ âm thanh), chưa quan sát được trực tiếp, đây là 1 trong 2 loài linh trưởng có mức phân cấp bảo tồn cao nhất trong 8 loài linh trưởng từng được ghi nhận tại VQG Vũ Quang. Các nghiên cứu về Vượn đen má trắng ở VQG Vũ Quang từ trước tới nay mới chỉ tập trung vào ghi nhận sự có mặt và phân bố, chưa có nghiên cứu chuyên sâu nào về đặc điểm sinh học, sinh thái của Vượn đen má trắng như sinh cảnh sống, cấu trúc quần thể, kích thước quần thể và các mối đe dọa đến quần thể; Phương pháp điều tra áp dụng trước đây là điều tra theo điểm và theo tuyến, thời gian điều tra ngắn, chưa áp dụng kỹ thuật ghi âm tự động trong điều tra, chưa xây dựng được kế hoạch điều tra, giám sát lâu dài cho loài Vượn đen má trắng tại VQG Vũ Quang. Để có đầy đủ dữ liệu về hiện trạng, phân bố của quần thể Vượn đen má trắng tại VQG Vũ Quang, nghiên cứu này đã tiến hành điều tra bằng máy ghi âm tự động tại 53 điểm nghe phân bố tại 33 tiểu khu trong thời gian từ ngày 22/7/2019 đến ngày 19/5/2020; điều tra bằng phương pháp truyền thống theo điểm ở 40 điểm tại 20 tiểu khu trong thời gian từ ngày 21/02/2020 đến ngày 03/7/2020; dữ liệu thu thập ở hai phương pháp điều tra trên được xử lý phục vụ đánh giá phân bố, cấu trúc, kích thước cũng như các đặc điểm sinh học, sinh thái của quần thể Vượn đen má trắng tại VQG Vũ Quang, từ đó đề xuất phương án bảo tồn, xây dựng kế hoạch giám sát cho loài Vượn đen má trắng tại VQG Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh.
5 TRANG THÔNG TIN ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN 1. Đề tài luận án đã cung cấp thông tin mới về hiện trạng quần thể và phân bố của loài Vượn đen má trắng. - Đã ghi nhận phân bố của Vượn đen má trắng ở VQG Vũ Quang, tổng diện tích vùng phân bố khoảng 32.432 ha tại 23 tiểu khu của VQG. - Đã xác định được vị trí phân bố của 18 đàn Vượn đen má trắng, ước tính có khoảng 137 đàn, khoảng 270 cá thể, ước tính được mật độ phân bố khoảng 0,42 đàn/km2.
Đề tài luận án đã cung cấp thông tin mới về đặc điểm sinh học, sinh thái của loài Vượn đen má trắng tại VQG Vũ Quang. - Đã xác định được sinh cảnh ưa thích của Vượn đen má trắng ở VQG Vũ Quang. - Đã đánh giá được cấu trúc đàn vượn theo độ tuổi, giới tính thông qua phân tích 32 file ghi âm tiếng hót. - Đã cung cấp thông tin về tập tính hót (tần suất, thời gian theo ngày/mùa) và kết quả phân tích phổ âm thanh của vượn.
- Đã đánh giá ảnh hưởng của các yếu tố thời tiết (mưa, gió, sương mù) đến tần suất hót của vượn. Đề tài luận án đã đề xuất một số giải pháp bảo tồn quần thể Vượn đen má trắng tại VQG Vũ Quang. - Đã đánh giá được các yếu tố đe dọa đến loài Vượn đen má trắng ở VQG Vũ Quang. - Xây dựng được kế hoạch giám sát và đề xuất một số kiến nghị đối với công tác bảo tồn loài.
6 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.