Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Cây dừa (Cocos nucifera L.) là cây công nghiệp lâu năm có chu kỳ khai thác kinh tế kéo dài từ 50 đến 60 năm, giữ vai trò quan trọng trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp của nhiều quốc gia nhiệt đới. Tại Việt Nam, tỉnh Bến Tre là địa phương có diện tích trồng dừa lớn nhất cả nước với quy mô trên 70.000 ha (chiếm khoảng 40% diện tích dừa toàn quốc) và sản lượng đạt gần 600 triệu trái mỗi năm. Cây dừa không chỉ là cây trồng chủ lực của tỉnh mà các sản phẩm chế biến từ dừa còn đóng góp lớn vào kim ngạch xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế - xã hội địa phương.

Tuy nhiên, từ tháng 7 năm 2020, loài sâu đầu đen Opisina arenosella Walker (thuộc bộ Cánh vảy Lepidoptera, họ Xyloryctidae) đã lần đầu tiên được ghi nhận xâm nhập và gây hại trên các vườn dừa tại huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre với diện tích nhiễm ban đầu khoảng 2,4 ha. Sâu đầu đen là dịch hại nguy hiểm, ấu trùng cắn phá mô biểu bì mặt dưới lá chét, nhả tơ kết dính phân tạo thành đường hầm ẩn nấp, làm cho tàu dừa bị cháy khô xơ xác, gây rụng trái non, suy kiệt cây và có thể làm giảm hơn một nửa năng suất hoặc làm chết hàng loạt cây dừa. Đến thời điểm năm 2022, diện tích nhiễm sâu đầu đen tại Bến Tre đã tăng lên khoảng 1.000 ha, nhiều vườn dừa buộc phải đốn bỏ do suy kiệt hoàn toàn.

Trước thực trạng các biện pháp hóa học gặp nhiều trở ngại do thân dừa cao khó phun xịt và dễ gây ô nhiễm môi trường, giải pháp quản lý dịch hại tổng hợp thông qua bảo tồn và sử dụng thiên địch ăn mồi được đặt ra cấp thiết. Bọ đuôi kìm (Chelisoches sp., bộ Cánh da Dermaptera, họ Chelisochidae) là loài côn trùng bắt mồi ăn thịt có khả năng khống chế nhiều loại sâu hại trên cây dừa. Nhằm cung cấp cơ sở khoa học cho việc ứng dụng sinh học phòng trừ sâu đầu đen, đề tài khóa luận được thực hiện với các mục tiêu và nhiệm vụ cụ thể:

  1. Mục tiêu nghiên cứu:

    • Đánh giá hiện trạng và mức độ gây hại của sâu đầu đen Opisina arenosella tại thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.
    • Điều tra thành phần và xác định tần suất xuất hiện của loài thiên địch ăn mồi tiềm năng trên sâu đầu đen hại dừa.
    • Xác định một số đặc điểm hình thái và đặc tính sinh học của bọ đuôi kìm Chelisoches sp. khi nuôi bằng vật mồi là ấu trùng sâu đầu đen trong điều kiện phòng thí nghiệm.
  2. Nhiệm vụ và yêu cầu nghiên cứu:

    • Điều tra hiện trạng gây hại của O. arenosella và mật độ thiên địch ăn mồi trên 30 vườn dừa tại 3 địa bàn: xã Phú Hưng, phường Phú Tân và xã Bình Phú thuộc thành phố Bến Tre.
    • Tiến hành thí nghiệm nhân nuôi và ghi nhận các chỉ tiêu hình thái (kích thước trứng, ấu trùng qua các tuổi, thành trùng đực/cái) và sinh học (vòng đời, thời gian phát dục, tỷ lệ chết, tỷ lệ vũ hóa, tỷ lệ giới tính, sức đẻ trứng, tuổi thọ) của bọ đuôi kìm Chelisoches sp. trong điều kiện phòng thí nghiệm ở nhiệt độ 28 ± 2°C và ẩm độ 70 ± 5%.
  3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

    • Đối tượng nghiên cứu: Sâu đầu đen hại dừa Opisina arenosella và loài thiên địch bắt mồi bọ đuôi kìm Chelisoches sp.
    • Phạm vi không gian: Khảo sát thực địa trên 30 vườn dừa tại thành phố Bến Tre (xã Phú Hưng, phường Phú Tân, xã Bình Phú), tỉnh Bến Tre; các thí nghiệm sinh học và hình thái thực hiện tại phòng thí nghiệm Chi cục Trồng trọt & Bảo vệ Thực vật tỉnh Bến Tre và Trung tâm Giống và Hoa Kiểng tỉnh Bến Tre.
    • Phạm vi thời gian: Khảo sát đồng ruộng từ ngày 15/05/2022 đến ngày 29/05/2022; các thí nghiệm sinh học trong phòng thí nghiệm từ ngày 03/06/2022 đến ngày 04/10/2022.
    • Giới hạn đề tài: Đề tài chỉ giới hạn điều tra trên địa bàn thành phố Bến Tre và dừng lại ở việc xác định loài thiên địch thuộc chi Chelisoches sp. mà chưa tiến hành định danh cụ thể đến tên loài.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu được xây dựng trên cơ sở lý thuyết về sinh thái côn trùng học nông nghiệp, mối quan hệ ký chủ - dịch hại - thiên địch trong hệ sinh thái vườn dừa, cũng như các tài liệu phân loại và sinh học của bộ Cánh da (Dermaptera) và bộ Cánh vảy (Lepidoptera).

Khung phương pháp điều tra đồng ruộng

Phương pháp điều tra hiện trạng sâu hại được thực hiện theo quy chuẩn chuyên ngành quy định tại Thông tư số 63/CV-BVTV:

  • Bố trí điều tra: Khảo sát 30 vườn dừa phân bố đều tại 3 khu vực (10 vườn tại xã Phú Hưng, 10 vườn tại phường Phú Tân, 10 vườn tại xã Bình Phú). Mỗi vườn có diện tích tối thiểu 5.000 m².
  • Phương pháp lấy mẫu: Trên mỗi vườn, chọn 5 điểm ngẫu nhiên theo đường chéo góc; mỗi điểm điều tra 10 cây để xác định tỷ lệ cây bị hại. Tại mỗi điểm, thu mẫu ngẫu nhiên 1 cây và chọn 30 lá chét ở vị trí giữa tàu lá để kiểm tra dưới kính lúp soi nổi cầm tay nhằm đếm mật độ ấu trùng sâu đầu đen, mật độ nhộng và mật độ bọ đuôi kìm.
  • Phân cấp mức độ hại: Đánh giá theo thang 6 cấp ($C_0$ đến $C_5$) dựa trên tỷ lệ diện tích lá chét bị hại:
    • $C_0$: Không bị hại (0%).
    • $C_1$: Tàu lá có $\le 20%$ lá chét bị hại.
    • $C_2$: Tàu lá có từ $21 - 40%$ lá chét bị hại.
    • $C_3$: Tàu lá có từ $41 - 60%$ lá chét bị hại.
    • $C_4$: Tàu lá có từ $61 - 80%$ lá chét bị hại.
    • $C_5$: Tàu lá có $> 80%$ lá chét bị hại.
  • Các công thức tính toán:
    • Tỷ lệ cây bị hại: $% \text{ Cây bị hại} = (\text{Số cây bị hại} / \text{Tổng số cây điều tra}) \times 100$.
    • Tỷ lệ tàu lá bị hại: $% \text{ Tàu lá bị hại} = (\text{Số tàu lá bị hại} / \text{Tổng số tàu lá điều tra}) \times 100$.
    • Chỉ số hại (CSH): $$\text{Chỉ số hại (%)} = \frac{n_1 \times 1 + n_2 \times 2 + n_3 \times 3 + n_4 \times 4 + n_5 \times 5}{5 \times N} \times 100$$ (Trong đó $n_1, n_2, n_3, n_4, n_5$ là số tàu lá ở các cấp hại tương ứng; $N$ là tổng số tàu lá điều tra; 5 là cấp hại tối đa).
    • Tần suất xuất hiện thiên địch: $$\text{Tần suất xuất hiện (%)} = (\text{Số vườn bắt gặp loài} / \text{Tổng số vườn điều tra}) \times 100$$ (Phân loại: Ít phổ biến $< 25%$; Phổ biến $25 - 50%$; Rất phổ biến $> 50%$).

Phương pháp nghiên cứu hình thái và sinh học trong phòng thí nghiệm

  • Điều kiện vi khí hậu: Duy trì nhiệt độ $28 \pm 2^\circ\text{C}$, độ ẩm không khí $70 \pm 5%$, chu kỳ quang hóa 12 giờ sáng : 12 giờ tối.
  • Thiết bị và vật liệu thí nghiệm: Kính lúp soi nổi Olympus SZX10, tube nhựa 50 mL, tuýp nhựa 2 mL, hộp nhựa nuôi côn trùng kích thước $15 \times 10 \times 7,5\text{ cm}$ và $28,5 \times 17 \times 9,2\text{ cm}$, cồn $70^\circ$, kẹp gắp, cọ quét mẫu, thước đo micromet.
  • Quy trình nuôi sâu và bọ đuôi kìm: Sâu đầu đen được thu ngoài tự nhiên và nuôi bằng lá dừa già trong hộp nhựa lớn, thay lá 2 ngày/lần. Bọ đuôi kìm thu ngoài vườn được nuôi ghép cặp (tỷ lệ 5 cái : 3 đực) trong hộp nuôi có lá dừa tươi và lá dừa khô làm giá thể trú ngụ và đẻ trứng, thức ăn cung cấp hàng ngày là ấu trùng sâu đầu đen sống.
  • Theo dõi các chỉ tiêu phát dục:
    • Theo dõi kích thước và thời gian nở của 50 trứng 1 ngày tuổi.
    • Nuôi cá thể từng ấu trùng từ tuổi 1 đến khi vũ hóa trưởng thành trong các hộp nhựa riêng biệt ($15 \times 10 \times 7,5\text{ cm}$), ghi nhận số lần lột xác, đo kích thước qua từng tuổi ($n = 50$), tính tỷ lệ sống sót/tỷ lệ chết và tỷ lệ giới tính đực/cái.
    • Theo dõi 10 cặp thành trùng sau giao phối 2 ngày để đo thời gian tiền đẻ trứng, thời gian đẻ trứng, số lượng trứng sinh ra mỗi ngày, tổng số trứng trong cả vòng đời, thời gian hậu đẻ trứng và tuổi thọ thành trùng đực/cái.
  • Xử lý số liệu: Toàn bộ dữ liệu thu thập được tổng hợp, tính toán giá trị trung bình (Mean) và độ lệch chuẩn (SD) bằng phần mềm Microsoft Excel 2016.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tài liệu

Chương này hệ thống hóa các tư liệu nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến cây dừa, sâu đầu đen và bọ đuôi kìm:

  • Cây dừa và tình hình sản xuất: Trình bày đặc tính thực vật học của cây dừa (Cocos nucifera L.), các yếu tố sinh thái ngoại cảnh (nhiệt độ thích hợp 24 - 30°C, lượng mưa tối ưu 1.500 mm/năm, ẩm độ 80 - 90%, độ pH đất 5,2 - 8,0). Giới thiệu 4 giống dừa phổ biến tại Bến Tre gồm nhóm dừa cao (dừa Ta năng suất 60 - 70 trái/cây/năm, hàm lượng dầu 60 - 63%; dừa Dâu đạt 80 - 100 trái/cây/năm, hàm lượng dầu 63 - 65%) và nhóm dừa lùn (dừa Xiêm đạt chất lượng nước uống giải khát cao, dừa Éo đạt 200 - 300 trái/cây/năm). Nêu bức tranh sản xuất dừa thế giới với tổng diện tích 11,908 triệu ha (Indonesia, Philippines, Ấn Độ dẫn đầu) và Bến Tre dẫn đầu Việt Nam với kim ngạch xuất khẩu 6 tháng đầu năm 2022 đạt 253 triệu USD.
  • Sâu đầu đen Opisina arenosella: Phân tích nguồn gốc Nam Á, lịch sử gây hại tại Sri Lanka, Ấn Độ, Myanmar, Thái Lan, Trung Quốc và sự xâm nhập vào Bến Tre năm 2020. Mô tả các pha phát triển: Trứng màu trắng xám (0,3 - 0,5 mm); ấu trùng có 5 - 8 tuổi kéo dài khoảng 36 ngày; nhộng màu nâu sẫm (9,08 - 10,3 ngày); thành trùng có sải cánh 20 - 25 mm, con cái có thể đẻ từ 83 đến 273 quả trứng tùy điều kiện nhiệt độ.
  • Tổng quan về bọ đuôi kìm: Điểm lại các nghiên cứu thế giới về bộ Dermaptera (khoảng 1.800 loài thuộc 10 họ), đặc tính sinh học biến thái không hoàn toàn, tập tính bắt mồi ăn thịt, khả năng chăm sóc và bảo vệ bọc trứng của con cái. Tại Việt Nam, các nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Cúc, Tạ Huy Thịnh, Cao Anh Đương đã chỉ ra tiềm năng của các loài Chelisoches variegatus, Chelisoches morio, Euborellia annulipes trong việc khống chế bọ dừa Brontispa longissima và sâu đục thân hại mía.

Chương 2: Vật liệu và phương pháp nghiên cứu

Tác giả trình bày chi tiết kế hoạch thực nghiệm, quy chuẩn điều tra và phương tiện khoa học được sử dụng:

  • Thiết kế khảo sát 30 vườn dừa tại 3 điểm nghiên cứu thuộc thành phố Bến Tre theo phương pháp điều tra sâu bệnh hại của Cục Bảo vệ Thực vật (Thông tư 63/CV-BVTV).
  • Quy trình chuẩn hóa việc nhân nuôi nguồn sâu đầu đen làm thức ăn và nuôi dưỡng bọ đuôi kìm Chelisoches sp. trong điều kiện phòng thí nghiệm kiểm soát nghiêm ngặt.
  • Thiết lập các phương pháp đo lường chỉ tiêu hình thái học qua thị kính trắc vi và kính lúp Olympus SZX10; quy trình đếm và theo dõi nhịp điệu sinh sản, thời gian sống của bọ đuôi kìm cái và đực.

Chương 3: Kết quả và thảo luận

Chương kết quả phản ánh các số liệu thực nghiệm quan trọng thu được từ khảo sát thực địa và nuôi cấy phòng thí nghiệm:

  • Hiện trạng gây hại ngoài đồng ruộng: Mức độ gây hại của sâu đầu đen tại thành phố Bến Tre ở mức rất cao với tỷ lệ cây bị hại trung bình 98,6 ± 2,4%, tỷ lệ tàu lá bị hại 73,0 ± 9,2%, chỉ số hại trung bình đạt 50,1 ± 9,6%. Mật độ sâu non trung bình là 25,0 ± 4,8 con/30 lá chét và mật độ nhộng là 6,9 ± 1,7 con/30 lá chét.
    • Tại xã Phú Hưng: Tỷ lệ cây bị hại 100%, chỉ số hại 57,9 ± 26,0%, mật độ sâu 22,6 con/30 lá chét.
    • Tại xã Bình Phú: Tỷ lệ cây bị hại 100%, chỉ số hại 52,9 ± 17,0%, mật độ sâu cao nhất đạt 30,5 con/30 lá chét.
    • Tại phường Phú Tân: Mức độ hại thấp hơn (chỉ số hại 39,4 ± 27,5%, mật độ sâu 21,8 con/30 lá chét) do phần lớn là vườn dừa Xiêm lùn (4 - 7 năm tuổi) được phun xịt định kỳ và có thả ong ký sinh.
  • Thành phần thiên địch ăn mồi: Trong quá trình điều tra chỉ phát hiện duy nhất 1 loài thiên địch ăn mồi bắt gặp thường xuyên là bọ đuôi kìm Chelisoches sp. Tần suất xuất hiện chung đạt 60% (tại Phú Hưng đạt 40%, Phú Tân đạt 40%, Bình Phú đạt 100%). Mật độ bọ đuôi kìm trung bình toàn thành phố đạt 1,0 ± 0,7 con/30 lá chét (cao nhất tại Bình Phú với 1,9 ± 0,8 con/30 lá chét).
  • Đặc điểm hình thái của bọ đuôi kìm Chelisoches sp.:
    • Trứng: Hình bầu dục bóng, dài 1,2 ± 0,0 mm, rộng 1,0 ± 0,0 mm, mới đẻ màu trắng sữa sau chuyển trắng trong, kết dính thành ổ.
    • Ấu trùng: Trải qua 4 tuổi với kích thước tăng dần: Tuổi 1 (dài 4,0 ± 0,32 mm; rộng 0,8 ± 0,08 mm); Tuổi 2 (dài 8,0 ± 0,71 mm; rộng 1,2 ± 0,10 mm); Tuổi 3 (dài 12,2 ± 0,90 mm; rộng 2,0 ± 0,15 mm); Tuổi 4 (dài 16,9 ± 0,76 mm; rộng 2,9 ± 0,25 mm).
    • Thành trùng: Cơ thể màu nâu đen, đầu có 2 mắt kép, râu sợi chỉ 23 đốt (đốt 1 và 2 màu vàng cam, các đốt còn lại màu đen); ngực 3 đốt mang 3 cặp chân màu vàng cam (đốt bàn chân có 3 đốt nhỏ); 2 đôi cánh (cánh trước ngắn cứng màu vàng cam viền đen, cánh sau màng gấp xếp quạt có viền đen ở 3/4 đuôi cánh). Thành trùng cái có chiều dài 24,7 ± 1,87 mm, chiều rộng 4,1 ± 0,30 mm, bụng có 8 đốt với đuôi kìm thẳng cong nhẹ vào trong. Thành trùng đực có chiều dài 21,4 ± 2,30 mm, chiều rộng 3,8 ± 0,47 mm, bụng có 10 đốt với 2 dạng đuôi kìm (dạng ngắn và dạng dài) mang gai lớn phía trong rất khỏe.
  • Đặc điểm sinh học của bọ đuôi kìm khi nuôi bằng sâu đầu đen:
    • Vòng đời trung bình của Chelisoches sp. là 71,0 ± 3,56 ngày, trải qua 5 pha phát dục (trứng và 4 tuổi ấu trùng) với 4 lần lột xác (3 lần lột xác chuyển tuổi ấu trùng và 1 lần lột xác hóa thành trùng).
    • Tỷ lệ hóa thành trùng đạt rất cao 97,37%.
    • Tỷ lệ giới tính: Thành trùng cái chiếm 62,16%, thành trùng đực chiếm 37,84%.
    • Sức sinh sản: Bọ đuôi kìm cái có thời gian đẻ trứng kéo dài 63,0 ± 10,23 ngày; số trứng đẻ trung bình mỗi ngày là 5,8 ± 0,47 trứng; tổng số trứng đẻ tích lũy trong toàn bộ chu kỳ sinh sản đạt trung bình 358,8 ± 29,08 trứng/cá thể.
    • Tuổi thọ: Thành trùng cái có tuổi thọ trung bình 101,7 ± 7,07 ngày, cao gần gấp đôi so với thành trùng đực (53,2 ± 4,42 ngày).

Kết quả và đóng góp khoa học

Dữ liệu tổng hợp thực nghiệm

Dưới đây là các bảng tổng hợp số liệu thực tế được trích xuất trực tiếp từ các nội dung nghiên cứu của khóa luận:

Bảng 1: Mức độ gây hại của sâu đầu đen và mật độ bọ đuôi kìm tại thành phố Bến Tre

Địa bàn điều tra Số vườn ($n$) Tỷ lệ cây bị hại (%) Tỷ lệ tàu lá bị hại (%) Chỉ số hại (%) Mật độ sâu non (con/30 lá chét) Mật độ nhộng (con/30 lá chét) Mật độ bọ đuôi kìm (con/30 lá chét)
Xã Phú Hưng 10 $100,0 \pm 0,0$ $80,6 \pm 23,2$ $57,9 \pm 26,0$ $22,6 \pm 24,8$ $5,4 \pm 2,8$ $0,7 \pm 1,2$
Phường Phú Tân 10 $95,8 \pm 10,3$ $63,1 \pm 31,7$ $39,4 \pm 27,5$ $21,8 \pm 21,5$ $6,5 \pm 6,2$ $0,6 \pm 0,9$
Xã Bình Phú 10 $100,0 \pm 0,0$ $77,0 \pm 16,3$ $52,9 \pm 17,0$ $30,5 \pm 16,2$ $8,8 \pm 2,2$ $1,9 \pm 0,8$
Trung bình chung 30 $98,6 \pm 2,4$ $73,0 \pm 9,2$ $50,1 \pm 9,6$ $25,0 \pm 4,8$ $6,9 \pm 1,7$ $1,0 \pm 0,7$

Bảng 2: Kích thước hình thái các pha phát triển của bọ đuôi kìm Chelisoches sp. ($n = 50$)

Pha phát dục Chiều dài biến động (mm) Chiều dài TB ± SD (mm) Chiều rộng biến động (mm) Chiều rộng TB ± SD (mm)
Trứng 1,2 $1,2 \pm 0,0$ 1,0 $1,0 \pm 0,0$
Ấu trùng tuổi 1 3,2 - 4,5 $4,0 \pm 0,32$ 0,7 - 1,0 $0,8 \pm 0,08$
Ấu trùng tuổi 2 6,5 - 9,5 $8,0 \pm 0,71$ 1,0 - 1,3 $1,2 \pm 0,10$
Ấu trùng tuổi 3 10,0 - 14,0 $12,2 \pm 0,90$ 1,7 - 2,4 $2,0 \pm 0,15$
Ấu trùng tuổi 4 14,8 - 18,2 $16,9 \pm 0,76$ 2,5 - 3,4 $2,9 \pm 0,25$
Thành trùng đực 17,5 - 24,8 $21,4 \pm 2,30$ 3,2 - 4,5 $3,8 \pm 0,47$
Thành trùng cái 22,5 - 29,8 $24,7 \pm 1,87$ 3,6 - 4,7 $4,1 \pm 0,30$

Bảng 3: Các chỉ tiêu sinh học của bọ đuôi kìm Chelisoches sp. nuôi bằng sâu đầu đen

Chỉ tiêu theo dõi Giá trị ghi nhận ($n=10 - 50$)
Vòng đời trung bình (ngày) $71,0 \pm 3,56$
Tỷ lệ hóa thành trùng (vũ hóa) (%) 97,37
Tỷ lệ cá thể cái (%) 62,16
Tỷ lệ cá thể đực (%) 37,84
Thời gian đẻ trứng của thành trùng cái (ngày) $63,0 \pm 10,23$
Số trứng đẻ trung bình trong một ngày (trứng/ngày) $5,8 \pm 0,47$
Tổng số trứng đẻ trong cả vòng đời (trứng/con cái) $358,8 \pm 29,08$
Tuổi thọ của thành trùng cái (ngày) $101,7 \pm 7,07$
Tuổi thọ của thành trùng đực (ngày) $53,2 \pm 4,42$

Đóng góp khoa học của đề tài

  1. Cung cấp dữ liệu thực địa cập nhật: Khóa luận ghi nhận bức tranh chi tiết về mật độ và mức độ tàn phá của dịch hại sâu đầu đen Opisina arenosella tại vùng trọng điểm dừa Bến Tre năm 2022, đồng thời xác nhận bọ đuôi kìm Chelisoches sp. là loài thiên địch ăn mồi phổ biến nhất (tần suất 60%) có khả năng sống chung và tấn công sâu đầu đen ngoài tự nhiên.
  2. Xác lập bộ chỉ số sinh học - hình thái hoàn chỉnh: Đề tài lần đầu tiên cung cấp các thông số định lượng chính xác về chu kỳ phát triển, kích thước các tuổi ấu trùng, tập tính sinh sản và tuổi thọ của bọ đuôi kìm Chelisoches sp. khi sử dụng nguồn thức ăn hoàn toàn là ấu trùng sâu đầu đen. Sức đẻ trứng cao ($358,8$ trứng), tỷ lệ hóa thành trùng vượt trội ($97,37%$) và tuổi thọ kéo dài của con cái ($101,7$ ngày) chứng minh tiềm năng ứng dụng nhân nuôi số lượng lớn loài thiên địch này.
  3. Đề xuất giải pháp quản lý dịch hại: Tác giả kiến nghị kết hợp nhân nuôi sinh học bọ đuôi kìm cùng với việc bảo tồn quần thể thiên địch bản địa, hạn chế phun thuốc hóa học diện rộng trên các vườn dừa cao để tránh làm suy giảm mật độ bọ đuôi kìm ngoài tự nhiên.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Dựa trên giới hạn phạm vi nghiên cứu được tác giả trình bày trong khóa luận:

  • Hạn chế:
    • Nghiên cứu mới dừng lại ở cấp độ định loại chi Chelisoches sp., chưa tiến hành giải trình tự gen hoặc giám định hình thái chuyên sâu để xác định chính xác tên loài cụ thể.
    • Phạm vi khảo sát đồng ruộng chỉ thực hiện tại 30 vườn thuộc thành phố Bến Tre trong thời gian ngắn (tháng 5/2022), chưa bao quát toàn bộ các huyện trồng dừa trọng điểm khác của tỉnh như Mỏ Cày Nam, Mỏ Cày Bắc, Giồng Trôm hay Châu Thành.
    • Thí nghiệm sinh học mới thực hiện trong điều kiện phòng thí nghiệm ($28 \pm 2^\circ\text{C}$), chưa đánh giá sức ăn mồi thực tế (số lượng sâu đầu đen bị tiêu thụ mỗi ngày) và hiệu quả kiểm soát khi phóng thích bọ đuôi kìm ra ngoài vườn dừa thực địa.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo:
    • Thực hiện giám định sinh học phân tử để xác định chính xác danh pháp khoa học của loài Chelisoches sp. này.
    • Nghiên cứu sức tiêu thụ thức ăn (khả năng săn bắt ấu trùng sâu đầu đen ở từng độ tuổi) của bọ đuôi kìm qua các giai đoạn phát triển.
    • Thử nghiệm các nguồn thức ăn nhân tạo thay thế nhằm hạ giá thành quy trình nhân nuôi số lượng lớn và triển khai mô hình phóng thích diện rộng ngoài đồng ruộng để đánh giá hiệu quả phòng trừ sinh học.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu tham khảo có giá trị thực tiễn và học thuật đối với:

  • Sinh viên, học viên ngành Bảo vệ Thực vật, Nông học và Côn trùng học: Cung cấp phương pháp luận chuẩn xác về điều tra dịch hại theo Thông tư chuyên ngành, kỹ thuật thiết lập thí nghiệm nuôi côn trùng biến thái không hoàn toàn, cũng như bảng mô tả hình thái học chi tiết (râu đầu, ngực, cánh, cấu tạo đốt bàn chân và đuôi kìm).
  • Cán bộ kỹ thuật ngành Nông nghiệp và Trạm Trồng trọt & BVTV: Cung cấp dữ liệu định lượng phục vụ công tác dự tính dự báo dịch hại sâu đầu đen và xây dựng quy trình nhân nuôi sinh khối bọ đuôi kìm tại chỗ.
  • Nhà vườn trồng dừa: Giúp nhận biết hình thái thiên địch có ích (bọ đuôi kìm) để có biện pháp bảo vệ, tránh tiêu diệt nhầm thiên địch khi áp dụng các biện pháp quản lý vườn dừa.

Câu hỏi thường gặp

1. Mức độ gây hại của sâu đầu đen tại thành phố Bến Tre trong đợt điều tra năm 2022 như thế nào?
Kết quả khảo sát trên 30 vườn dừa cho thấy mức độ gây hại ở mức rất cao. Tỷ lệ cây bị hại trung bình là 98,6 ± 2,4%, tỷ lệ tàu lá bị hại đạt 73,0 ± 9,2% và chỉ số hại trung bình toàn thành phố là 50,1 ± 9,6%. Trong đó, xã Phú Hưng và xã Bình Phú bị hại nặng nhất với chỉ số hại lần lượt là 57,9% và 52,9%, mật độ sâu non từ 22,6 đến 30,5 con/30 lá chét.

2. Loài thiên địch ăn mồi nào được phát hiện trên các vườn dừa điều tra và tần suất xuất hiện ra sao?
Khảo sát thực địa chỉ ghi nhận được 1 loài thiên địch ăn mồi bắt mồi phổ biến là bọ đuôi kìm Chelisoches sp. Loài này có tần suất xuất hiện trung bình là 60% trên các vườn điều tra (xã Phú Hưng đạt 40%, phường Phú Tân đạt 40% và xã Bình Phú đạt 100%), với mật độ trung bình là 1,0 ± 0,7 con/30 lá chét.

3. Vòng đời của bọ đuôi kìm Chelisoches sp. khi nuôi bằng ấu trùng sâu đầu đen kéo dài bao nhiêu ngày và trải qua mấy tuổi ấu trùng?
Trong điều kiện phòng thí nghiệm ($28 \pm 2^\circ\text{C}$, độ ẩm $70 \pm 5%$), bọ đuôi kìm Chelisoches sp. có vòng đời trung bình là 71,0 ± 3,56 ngày. Giai đoạn ấu trùng trải qua 4 tuổi với 3 lần lột xác trước khi lột xác lần thứ 4 để hóa thành trùng.

4. Khả năng sinh sản và tuổi thọ của bọ đuôi kìm Chelisoches sp. đạt các chỉ số cụ thể nào?
Thành trùng cái có thời gian đẻ trứng kéo dài trung bình 63,0 ± 10,23 ngày, đẻ trung bình 5,8 ± 0,47 trứng/ngày và tổng số trứng đẻ tích lũy trong toàn bộ chu trình sống đạt 358,8 ± 29,08 trứng/cá thể. Tuổi thọ của thành trùng cái đạt 101,7 ± 7,07 ngày (cao gần gấp đôi so với con đực là 53,2 ± 4,42 ngày), tỷ lệ hóa thành trùng đạt 97,37% với tỷ lệ giới tính cái:đực là 62,16% : 37,84%.

5. Đặc điểm phân biệt hình thái giữa bọ đuôi kìm thành trùng đực và cái là gì?
Thành trùng cái có kích thước lớn hơn (dài 24,7 mm, rộng 4,1 mm), bụng có 8 đốt và đuôi kìm dài đối xứng cong nhẹ vào trong. Thành trùng đực có kích thước nhỏ hơn (dài 21,4 mm, rộng 3,8 mm), bụng có 10 đốt và đuôi kìm có hai dạng (dạng ngắn và dạng dài) với các gai lớn rất phát triển ở mặt trong gọng kìm.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Phạm Ngọc Châu đã phản ánh thực trạng gây hại nghiêm trọng của dịch sâu đầu đen Opisina arenosella trên các vườn dừa tại thành phố Bến Tre với chỉ số hại trung bình đạt 50,1% và tỷ lệ cây nhiễm bệnh lên tới 98,6%. Công trình đã xác định bọ đuôi kìm Chelisoches sp. là loài thiên địch ăn mồi bản địa chiếm ưu thế với tần suất xuất hiện 60% ngoài tự nhiên. Đồng thời, nghiên cứu đã thiết lập thành công hệ thống dữ liệu sinh học - hình thái học của Chelisoches sp. khi nuôi bằng ấu trùng sâu đầu đen, chứng minh loài thiên địch này có tỷ lệ vũ hóa cao (97,37%), khả năng sinh sản tốt (358,8 trứng/cái) và tuổi thọ kéo dài (101,7 ngày ở con cái), tạo tiền đề khoa học vững chắc cho các nghiên cứu ứng dụng phòng trừ sinh học sâu đầu đen hại dừa tại Đồng bằng sông Cửu Long.