Tổng quan nghiên cứu
Lưới điện phân phối khu vực thành phố Quy Nhơn hiện đang quản lý khối lượng tài sản kỹ thuật lớn gồm 202 km đường dây trung thế 22kV, 315 km đường dây hạ thế 0,4kV cùng 832 trạm biến áp, bao gồm 375 trạm công cộng và 457 trạm chuyên dùng. Hệ thống nguồn được cấp điện trực tiếp từ 4 trạm biến áp 110kV gồm Quy Nhơn 1 (E21), Quy Nhơn 2 (E20), Nhơn Hội và Sông Cầu 1, chuẩn bị bổ sung thêm 2 trạm 110kV Đống Đa và Cảng để phục vụ nhu cầu phụ tải của khoảng 71.500 khách hàng trên địa bàn thành phố và các xã đảo lân cận như Nhơn Châu, Nhơn Lý, Nhơn Hải.
Thực tế vận hành cho thấy các sự cố ngắn mạch và sự cố thoáng qua trên lưới trung áp diễn ra với tần suất cao. Mặc dù quy mô từng điểm sự cố không quá lớn nhưng công tác dò tìm, khoanh vùng thủ công gây mất nhiều thời gian, làm gián đoạn cung cấp điện trên diện rộng và gia tăng áp lực lên chỉ tiêu độ tin cậy cung cấp điện. Nguyên nhân chính bắt nguồn từ việc Tổ trực điện và thao tác tại đơn vị thiếu công cụ giám sát trực tiếp, phụ thuộc hoàn toàn vào thông tin truyền đạt gián tiếp từ Phòng Điều độ Công ty Điện lực Bình Định.
Mục tiêu cốt lõi của nghiên cứu là xây dựng hệ thống miniSCADA tích hợp giám sát tập trung các thông số vận hành thời gian thực từ 24 bộ máy cắt tự đóng lại Recloser, 79 dao cắt phụ tải có tải LBS và 43 tủ RMU trên lưới điện trung áp. Đề tài tập trung giải quyết bài toán thu thập thông số dòng điện, điện áp và công suất để phán đoán chính xác điểm sự cố trong phạm vi quản lý của Điện lực Quy Nhơn. Kết quả nghiên cứu mang lại ý nghĩa kinh tế kỹ thuật sâu sắc, giúp giảm bán kính mất điện, rút ngắn thời gian xử lý sự cố từ hàng giờ xuống dưới 15 phút, cải thiện rõ rệt các chỉ số SAIDI, SAIFI và nâng cao năng suất lao động cho toàn đơn vị.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Nghiên cứu ứng dụng lý thuyết tính toán dòng ngắn mạch không đối xứng trong hệ thống điện ba pha trung áp 22kV để xác định vị trí sự cố đường dây. Cơ sở tính toán dựa trên phương pháp thành phần đối xứng nhằm phân tích các dạng sự cố phổ biến như ngắn mạch một pha chạm đất, ngắn mạch hai pha và ngắn mạch ba pha. Giá trị tổng trở đường dây được xác định chi tiết dựa trên thông số điện trở và điện kháng đơn vị trên 1 km chiều dài của từng chủng loại dây dẫn thực tế, ví dụ như cáp ngầm XLPE 150 mm2 có điện trở 0,211 ôm/km và điện kháng 0,36 ôm/km, hay dây nhôm trần lõi thép AC 240 mm2 có điện trở 0,146 ôm/km và điện kháng 0,36 ôm/km.
Bên cạnh đó, đề tài ứng dụng lý thuyết điều khiển tự động và thu thập dữ liệu phân tán miniSCADA theo các tiêu chuẩn truyền thông quốc tế IEC 60870-5-101, IEC 60870-5-104 và Modbus. Mô hình nghiên cứu làm rõ các khái niệm kỹ thuật chuyên ngành then chốt bao gồm máy cắt tự đóng lại Recloser với chu trình tác động Close-Open, thiết bị phân đoạn có tải LBS-C tích hợp modem đo xa, giá trị dòng điện sự cố tức thời Last Current ghi nhận tại rơ le bảo vệ, cùng phương thức vận hành mạch vòng kín nhưng vận hành hở linh hoạt N-1 nhằm đảm bảo khả năng chuyển tải nhanh chóng giữa các xuất tuyến liên kết.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng phương pháp khảo sát toàn thể trên cỡ mẫu gồm toàn bộ 24 bộ Recloser, 79 bộ LBS và 43 tủ RMU phân bố trên 10 xuất tuyến 22kV trọng điểm như xuất tuyến 471, 472, 473, 474, 481, 482 trạm Quy Nhơn 2. Phương pháp chọn mẫu toàn diện được áp dụng vì mọi điểm đóng cắt trên lưới trung áp đô thị đều đóng vai trò mắt xích phân đoạn quan trọng trong việc bảo vệ chọn lọc và cô lập sự cố.
Nguồn dữ liệu thực nghiệm được trích xuất trực tiếp từ nhật ký vận hành Sequence of Events và Event Log của các tủ điều khiển số Form 6 Cooper, NOJA và Nulec, kết hợp cùng hệ thống thu thập dữ liệu đo xa MDMS. Kênh truyền dữ liệu hiện trường sử dụng chuẩn nối tiếp RS232 ghép nối modem PSTN tốc độ truyền từ 300 đến 33.600 bit/giây và mạng viễn thông GPRS.
Lý do lựa chọn phần mềm SmartHMI Studio kết hợp phần mềm mô phỏng tính toán Recloser là vì giải pháp này có khả năng số hóa trực quan sơ đồ nguyên lý đơn tuyến, xử lý dữ liệu thời gian thực mượt mà và chuyển đổi linh hoạt giữa các giao thức truyền thông mà không đòi hỏi chi phí đầu tư phần cứng đắt đỏ. Toàn bộ chuỗi số liệu được thu thập và kiểm chứng thực tế trong suốt năm 2020.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Nghiên cứu đã xây dựng thành công hệ thống giám sát miniSCADA kết nối đồng bộ 100% dữ liệu đo xa từ 24 Recloser và hơn 66% thiết bị LBS-C hiện hữu về máy chủ đặt tại Tổ trực điện và thao tác. Nhân viên vận hành có thể theo dõi trực tiếp dòng điện, điện áp ba pha và công suất P, Q liên tục 24/7 với độ trễ truyền dẫn tín hiệu chỉ tính bằng mili-giây.
Hệ thống rút ngắn thời gian phát hiện và khoanh vùng sự cố trung bình từ 45 - 60 phút xuống còn 10 - 15 phút, giảm hơn 70% thời gian xử lý so với phương pháp kiểm tra thủ công truyền thống. Điểm sự cố được định vị chuẩn xác đến từng khoảng cột nhờ thuật toán đối soát giá trị dòng ngắn mạch Last Current với cơ sở dữ liệu trở kháng đường dây đã lập trình sẵn.
Hiệu quả tính toán được kiểm chứng cụ thể qua sự cố thực tế ngày 28/08/2020 tại máy cắt xuất tuyến 473 trạm Nhơn Hội (473/NHO). Khi máy cắt nhảy sự cố F79 không thành công, hệ thống ghi nhận dòng sự cố và tính toán phân đoạn xảy ra ngắn mạch tại nhánh rẽ C94/65. Kết quả kiểm tra hiện trường phát hiện chính xác điểm phóng sứ vỡ cách điện và đứt dây tại vị trí cột C94/65 với độ sai lệch dòng tính toán dưới 5%.
Trong tháng 08/2020, việc áp dụng hệ thống giám sát đã đóng góp trực tiếp vào việc hoàn thành vượt mức các chỉ tiêu độ tin cậy cung cấp điện của Điện lực Quy Nhơn, kéo giảm đáng kể số lần mất điện thoáng qua MAIFI và giảm chỉ số thời gian mất điện trung bình SAIDI trên toàn thành phố.
Thảo luận kết quả
Khả năng định vị sự cố chính xác đạt được là nhờ sự kết hợp chặt chẽ giữa việc trích xuất tức thời thông số dòng Last Current từ tủ rơ le và mô hình tính toán ngắn mạch đa phân đoạn trên SmartHMI Studio. Khi xảy ra sự cố, phần mềm tự động đối chiếu dòng điện ngắn mạch ghi nhận được với cơ sở dữ liệu trở kháng của từng phân đoạn đường dây.
Dữ liệu vận hành được hiển thị trực quan thông qua bảng tính chi tiết các thông số trở kháng r0, x0 của từng loại dây dẫn và biểu đồ phân bố dòng ngắn mạch theo chiều dài xuất tuyến. Đồng thời, trạng thái đóng cắt của các thiết bị được biểu diễn sinh động trên sơ đồ không gian đơn tuyến, đổi màu cảnh báo tức thì khi xuất hiện hiện tượng quá dòng hoặc mất kết nối truyền thông.
So với các giải pháp quản lý phân tán trước đây vốn đòi hỏi công nhân phải đi tuần tra dọc tuyến hàng chục cây số đường dây, việc giám sát tập trung tại chỗ giúp tối ưu hóa việc phân chia phụ tải theo phương thức N-1. Các phân đoạn không bị sự cố được khôi phục cấp điện nhanh chóng qua các liên kết vòng như phân đoạn Vĩnh Sơn, Suối Trầu hay Hồ Le, đảm bảo an toàn cấp điện liên tục cho hơn 71.500 khách hàng trong khu vực.
Đề xuất và khuyến nghị
Thứ nhất, tiến hành số hóa và tích hợp SCADA cho 100% các thiết bị đóng cắt còn lại trên lưới. Phòng Kế hoạch Kỹ thuật Điện lực Quy Nhơn cần chủ trì phối hợp với Đội quản lý vận hành lắp đặt bổ sung modem truyền thông và cơ cấu đóng cắt điều khiển từ xa cho toàn bộ 25 bộ dao cắt LBS-O và 38 tủ RMU còn lại, hướng tới mục tiêu hoàn thành phủ kín tự động hóa lưới phân phối trong thời gian 12 tháng.
Thứ hai, triển khai lắp đặt hệ thống cảnh báo sự cố thông minh SFRI tại các nhánh rẽ xung yếu. Đơn vị cần trang bị thí điểm 20 bộ cảnh báo SFRI có khả năng phát tín hiệu đèn LED tại chỗ và gửi tin nhắn SMS cảnh báo tự động về máy chủ cho các nhánh rẽ đường dây dài có địa hình phức tạp như nhánh rẽ Nhơn Lý và xã đảo Nhơn Châu, thời gian thực hiện trong vòng 6 tháng nhằm rút ngắn thêm 30% thời gian xác định nhánh rẽ chạm đất.
Thứ ba, nâng cấp hạ tầng mạng truyền thông viễn thông chuyên dụng. Điện lực Quy Nhơn cần kiến nghị Công ty Điện lực Bình Định đầu tư chuyển đổi toàn diện phương thức truyền tin từ modem PSTN analog sang hệ thống cáp quang luồng STM-1 tốc độ 2 Mbit/s kết hợp đường truyền vô tuyến số và mạng di động 4G/5G chuyên dùng. Đội Viễn thông và Công nghệ thông tin chịu trách nhiệm triển khai trong 2 quý tới nhằm đưa độ trễ truyền dữ liệu về dưới 1 giây.
Thứ tư, hoàn thiện cơ chế phân quyền điều khiển đóng cắt từ xa trong xử lý sự cố. Đơn vị cần đề xuất Ban Giám đốc Công ty Điện lực Bình Định phê duyệt quy trình cho phép Tổ trực điện và thao tác T21 được quyền chủ động thao tác đóng cắt các phân đoạn LBS-C và Recloser trên lưới sau khi đã cô lập điểm sự cố, giúp giảm thời gian tái lập cấp điện cho các vùng không bị ảnh hưởng xuống dưới 5 phút, lộ trình thực hiện hoàn tất trong 9 tháng.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Kỹ sư điều độ và nhân viên vận hành tại các đơn vị điện lực quận, huyện: Luận văn cung cấp giải pháp thực tiễn về việc tự xây dựng hệ thống miniSCADA chi phí thấp, tối ưu hóa công tác giám sát dòng áp thời gian thực và xử lý nhanh sự cố phân đoạn mạch vòng N-1.
Cán bộ quản lý kỹ thuật tại các Công ty Điện lực trực thuộc Tổng công ty Điện lực: Tài liệu mang lại góc nhìn chiến lược về phương pháp quản lý độ tin cậy cung cấp điện, phương án giảm tổn thất điện năng và giải pháp số hóa toàn diện hạ tầng thiết bị đóng cắt trên lưới trung áp đô thị.
Học viên cao học, nghiên cứu sinh và giảng viên chuyên ngành Kỹ thuật điện: Đề tài là nguồn tài liệu tham khảo giá trị về mô hình tính toán ngắn mạch đường dây trung thế phức tạp, giải thuật định vị sự cố dựa trên dữ liệu Last Current và phương pháp ứng dụng phần mềm SmartHMI Studio trong tự động hóa trạm và đường dây.
Các đơn vị tư vấn thiết kế và doanh nghiệp tích hợp hệ thống tự động hóa lưới điện: Cung cấp đầy đủ cấu hình kỹ thuật, yêu cầu giao thức truyền thông chuẩn hóa IEC và giải pháp kết nối phần cứng từ thiết bị ngoại vi hiện trường về máy chủ điều khiển trung tâm.
Câu hỏi thường gặp
Hệ thống miniSCADA trong nghiên cứu có điểm gì khác biệt so với hệ thống SCADA tại Trung tâm Điều độ cấp tỉnh?
Hệ thống miniSCADA đặt tại Điện lực Quy Nhơn tập trung thuần túy vào chức năng giám sát, thu thập thông số dòng, áp và cảnh báo sự cố từ 24 Recloser và 79 LBS theo thời gian thực nhằm phục vụ khoanh vùng sự cố nhanh, không can thiệp vào quyền điều khiển đóng cắt vốn thuộc thẩm quyền của Điều độ viên cấp tỉnh.
Phần mềm SmartHMI Studio đóng vai trò gì trong việc xác định điểm sự cố lưới điện?
SmartHMI Studio đóng vai trò là giao diện người - máy HMI trực quan hóa toàn bộ 202 km đường dây 22kV theo sơ đồ đơn tuyến, tiếp nhận dữ liệu đo xa qua các giao thức IEC 60870-5-104 và Modbus, đồng thời tự động phát tín hiệu cảnh báo màu sắc và âm thanh khi có biến động dòng ngắn mạch.
Làm thế nào để xác định chính xác vị trí ngắn mạch chỉ dựa vào thông số dòng Last Current?
Giá trị dòng Last Current ghi nhận tại thời điểm cắt của Recloser được nhập vào mô hình tính toán của phần mềm để so sánh với đường đặc tính phân bố dòng ngắn mạch lý thuyết tính theo tổng trở dây dẫn r0, x0, từ đó chỉ ra chính xác đoạn đường dây hoặc nhánh rẽ bị sự cố.
Giải pháp này giúp cải thiện các chỉ số độ tin cậy cung cấp điện SAIDI và SAIFI ra sao?
Nhờ giảm thời gian tìm kiếm sự cố từ 60 phút xuống 10 - 15 phút và hỗ trợ chuyển phụ tải nhanh chóng qua các phân đoạn liên kết, thời gian mất điện bình quân một khách hàng (SAIDI) và tần suất mất điện thoáng qua (MAIFI) trong tháng 08/2020 trên địa bàn thành phố Quy Nhơn đã giảm rõ rệt.
Hệ thống có khả năng ứng dụng hiệu quả cho các vùng xa xôi như xã đảo Nhơn Châu không?
Hệ thống hoàn toàn đáp ứng tốt nhờ tích hợp truyền thông đa phương thức qua cáp quang, modem vô tuyến UHF và mạng di động công cộng, cho phép giám sát Recloser nhánh rẽ Nhơn Châu thuộc xuất tuyến 477/SCA từ xa với độ ổn định tín hiệu cao và dữ liệu cập nhật liên tục.
Kết luận
- Đã thiết lập hoàn chỉnh hệ thống miniSCADA giám sát thời gian thực cho 24 Recloser, 79 dao cắt LBS và 43 tủ RMU trên 202 km lưới trung áp 22kV tại Điện lực Quy Nhơn.
- Ứng dụng thành công phần mềm SmartHMI Studio kết hợp thuật toán tính toán dòng ngắn mạch không đối xứng dựa trên thông số trở kháng dây dẫn thực tế.
- Rút ngắn thời gian phát hiện và khoanh vùng điểm sự cố từ 60 phút xuống còn 10 đến 15 phút, với độ chính xác cao được kiểm chứng qua sự cố cột C94/65 ngày 28/08/2020.
- Nâng cao đáng kể chỉ số độ tin cậy cung cấp điện SAIDI, SAIFI và đảm bảo cấp điện an toàn, liên tục cho khoảng 71.500 khách hàng trên địa bàn thành phố Quy Nhơn.
- Đặt nền móng vững chắc cho lộ trình hiện đại hóa lưới điện thông minh Smart Grid tại Công ty Điện lực Bình Định.
Đóng góp lớn nhất của luận văn là đưa ra giải pháp công nghệ có tính ứng dụng thực tiễn cao, tận dụng tối đa cơ sở hạ tầng thiết bị hiện có để giải quyết bài toán vận hành lưới điện phân phối mà không làm phát sinh chi phí đầu tư quá lớn. Kế hoạch tiếp theo trong 6 đến 12 tháng tới là mở rộng kết nối SCADA cho 100% thiết bị đóng cắt còn lại, nâng cấp kênh truyền dẫn cáp quang tốc độ cao và tích hợp thêm các cảm biến cảnh báo sự cố SFRI. Các đơn vị quản lý vận hành lưới điện phân phối trên toàn quốc nên chủ động nghiên cứu và nhân rộng mô hình này nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh điện năng và tối ưu hóa năng suất lao động.