Chương 1: Tổng quan Chương 2: Thực nghiệm và phương pháp nghiên cứu Chương 3: Kết quả và thảo luận LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 CHƢƠNG 1. Tổng quan về vật lý plasma 1. Plasma là gì? Cơ sở của ngành vật lý plasma có công đóng góp rất lớn của hai nhà vật lý Stark và Langmuir. Năm 1902, nhà Vật lý học người Đức Jonhannes Stark đã cho ra đời cuốn sách lý thuyết vật lý đầu tiên đầy đủ nhất về khí tích điện (Die Elektrizitaet in Gasen) và nhờ đó ông được nhận giải Nobel vật lý năm 1919 [10].
Sau đó đến năm 1923, nhà bác học Irving Langmuir (1881-1957) khám phá ra “dao động Plasma” trong chất khí bị ion hóa và đến năm 1928 ông là người đầu tiên chính thức đưa ra thuật ngữ “Plasma” cho ngành Vật lý [11]. Jonhannes Stark Hình 1. Irving Langmuir Trong trạng thái plasma đa số phân tử hay nguyên tử chỉ còn lại hạt nhân. Các electron không còn liên kết chặt chẽ với hạt nhân nữa nên chuyển động tương đối tự do giữa các hạt nhân.
Plasma không phải là vật chất phổ biến trên Trái đất nhưng các nghiên cứu cho thấy 99% vật chất đã phát hiện trong vũ trụ tồn tại dưới dạng plasma. Plasma được coi là trạng thái đầu tiên của vật chất trong vũ trụ [11]. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Các trạng thái và quá trình chuyển hóa trạng thái của vật chất Khi cung cấp năng lượng cho một chất rắn, sự chuyển động của những nguyên tử hoặc phân tử tăng lên làm vật chất chuyển sang trạng thái lỏng, sau đó thành trạng thái khí.
Nếu tiếp tục cung cấp năng lượng cao hơn nữa thì quá trình va chạm giữa các hạt trong vật chất trở nên đủ mạnh khiến các hạt vỡ thành từng phần tạo thành các hạt mang điện tích là các electron và ion. Trạng thái này được gọi là plasma hay “trạng thái thứ tư” của vật chất, ba trạng thái trước đó lần lượt là rắn, lỏng và khí. Plasma xét trên toàn thể là hệ trung tính về điện tích vì trong tổng thể khối plasma có số lượng cân bằng nhau giữa điện tích âm và điện tích dương. Một đặc trưng đáng kể đến đầu tiên của plasma là các hạt tích điện và có năng lượng cao.
Do đó môi trường plasma có thể phát ra ánh sáng từ bức xạ hồng ngoại với bước sóng vài trăm micromet tới bước sóng ngắn nằm trong vùng tử ngoại. Plasma ở nhiệt độ cao thậm chí còn có thể bức xạ một số bức xạ bước sóng ngắn hơn cả tia tử ngoại [11]. Các ứng dụng cơ bản của plasma Plasma sinh ra một cách tự nhiên nhưng cũng có thể tạo ra được trong phòng thí nghiệm và trong công nghiệp nhờ hệ thống thiết bị máy móc hiện đại, tạo cơ hội cho việc ứng dụng vào rất nhiều lĩnh vực như tổng hợp nhiệt hạch, điện tử, laser, đèn huỳnh quang, chữa bệnh hoặc trong phẫu thuật cắt mô bệnh và nhiều ứng dụng khác. Rất nhiều các bộ phận của thiết bị điện tử hiện đại ngày nay được sản xuất dựa trên công nghệ plasma.
Nói chung, plasma có ba đặc tính quan trọng để đưa vào ứng dụng: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 (i) Nhiệt độ và mật độ năng lượng của một vài thành phần hạt trong plasma có thể vượt quá khả năng của công nghệ tạo nhiệt thông thường. Nhiệt độ của plasma có thể dễ dàng vượt qua mức 10.000 K nên trong một số lĩnh vực sản xuất công nghiệp đòi hỏi môi trường nhiệt độ cao duy trì liên tục thì plasma là lựa chọn có thể nghĩ đến đầu tiên [11]. Ví dụ, làm gốm tan chảy cần cung cấp cho lớp bề mặt gốm nhiệt độ trên 3000 K, không có lựa chọn nào hợp lý hơn sử dụng nhiệt tạo ra từ plasma. Trong lĩnh vực y học, plasma với nhiệt độ cao và mật độ năng lượng lớn có thể dễ dàng đốt cháy và cắt các mô bệnh mà không làm chảy máu.
Trong thực tế hiện nay ứng dụng đặc tính nhiệt độ cao và mật độ năng lượng lớn là phổ biến trong công nghệ, nghiên cứu khoa học và y học. (ii) Bên trong plasma có các phần tử hoạt chất (electron, các ion dương và âm, các nguyên tử và gốc tự do, các nguyên tử và phân tử bị kích thích, cũng như các photon có dải quang phổ rộng) với mật độ lớn và nồng độ cao. Mật độ lớn và nồng độ cao các hoạt chất là vô cùng cần thiết cho các ứng dụng plasma đóng vai trò nguồn để sinh ra tia lửa điện và đốt cháy, sinh ra ozon để làm chất ô xi hóa [11]. Trong y tế, việc tạo ra nồng độ cao các chất có thể hữu ích cho việc khử trùng các bề mặt mô sống, không khí và nước [3].
(iii) Trạng thái của môi trường plasma có thể khác xa so với trạng thái cân bằng nhiệt động lực học. Do đó, nó có thể cho phép một nồng độ rất cao các thành phần hoạt chất có trong plasma mà vẫn duy trì nhiệt độ cỡ nhiệt độ phòng. Đặc tính này là riêng biệt của plasma. Đặc tính này được sử dụng trong các ngành công nghiệp vi điện tử và bán dẫn.
Đa số các linh kiện của máy tính, điện thoại di động, tivi, đèn ánh sáng lạnh được sản xuất dựa trên công nghệ plasma lạnh. Đặc tính này của plasma cũng được ứng dụng trong việc xử lý bề mặt polyme. Trong y học, plasma tạo ra môi trường hoạt chất hóa học nồng độ rất cao khi vẫn duy trì nhiệt độ phòng có thể hữu ích cho việc điều trị đông máu không nhiệt, điều trị những thành phần và tính chất của máu; khử khuẩn da và LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 các mô sống khác; chữa lành vết thương; điều trị những bệnh mà trước đây điều trị không có hiệu quả bằng các phương pháp thông thường [11-13]. Ba đặc tính trên đã mở rộng phạm vi và số lượng các lĩnh vực, các ngành có thể ứng dụng plasma.
Trong thực tế hiện nay ứng dụng của plasma vẫn đang tiếp tục được phát triển sang các ngành sản xuất khác và tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong nghiên cứu y học. Tổng hợp các vật liệu nano bằng phƣơng pháp thông thƣờng Vật liệu nano (nano-materials) là một trong những lĩnh vực nghiên cứu đỉnh cao sôi động nhất trong thời gian gần đây. Điều đó được thể hiện bằng số các công trình khoa học, số các bằng phát minh sáng chế, số các công ty có liên quan đến khoa học, công nghệ nano gia tăng theo cấp số nhân. Con số ước tính về số tiền đầu tư vào lĩnh vực này lên đến 8,6 tỷ đô la vào năm 2004 và tăng lên hơn 100 tỷ đô la vào năm 2015 (Hình 1.4) và theo dự đoán sẽ vượt lên 125 tỷ đô la vào năm 2025 [14].
Vậy thì tại sao vật liệu nano lại thu hút được nhiều đầu tư về tài chính và nhân lực đến vậy? Hình 1. Tổng số tiền tài trợ cho nghiên cứu công nghệ nano tính tới năm 2015 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Tính chất thú vị của vật liệu nano bắt nguồn từ kích thước của chúng rất nhỏ bé có thể so sánh với các kích thước tới hạn của nhiều tính chất hóa lí của vật liệu. Chỉ là vấn đề kích thước thôi thì không có gì đáng nói, điều đáng nói là kích thước của vật liệu nano đủ nhỏ để có thể so sánh với các kích thước tới hạn của một số tính chất. Vật liệu nano nằm giữa tính chất lượng tử của nguyên tử và tính chất khối của vật liệu.
Đối với vật liệu khối, độ dài tới hạn của các tính chất rất nhỏ so với độ lớn của vật liệu, nhưng đối với vật liệu nano thì điều đó không đúng nên các tính chất khác lạ bắt đầu từ nguyên nhân này. Do kích thước thấp và diện tích bề mặt lớn, vật liệu nano thể hiện các tính chất độc đáo so với vật liệu khối, khiến chúng trở nên linh hoạt và hấp dẫn cho các ứng dụng bao gồm xúc tác cảm biến, phân phối thuốc, hiện ảnh sinh học, lưu trữ dữ liệu hay năng lượng và y sinh [15, 16]. Trong vài thập kỷ qua, đã có nhiều nỗ lực cho việc chế tạo vật liệu nano với kích thước, hình dạng và cấu trúc có thể điều khiển được, nhằm mục đích để tìm hiểu làm thế nào các tham số đó ảnh hưởng đến tính chất của hạt nano, và cuối cùng, để điều chỉnh chúng cho các ứng dụng cụ thể. Mặt khác, các nghiên cứu sâu rộng như vậy cũng dẫn đến một loạt các phương pháp mới hoặc đã được thiết lập tốt để tổng hợp vật liệu nano.
Nhìn chung, chúng có thể được chia thành ba loại: + Loại thứ nhất, bao gồm các phương pháp vật lý như bay hơi /ngưng tụ, phún xạ, tán nghiền và ăn mòn laser. + Loại thứ hai, bao gồm các phương pháp hóa học như keo tụ, sol-gel, vi nhũ tương và thủy nhiệt. + Loại thứ ba, là tổng hợp vật liệu nano nhờ phương pháp khử sinh học, giống như khử nhờ vi sinh vật, phương pháp tổng hợp xanh nhờ dịch chiết từ cây cối. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Tuy nhiên, phương pháp tiếp cận vật lý luôn thực hiện các quy trình tiêu tốn thời gian /năng lượng và phản ứng cần thực hiện trong môi trường khí trơ, đòi hỏi thiết bị và chi phí vận hành đáng kể.
Ngược lại, phương pháp hóa học tương đối đơn giản, hoạt động ở nhiệt độ thấp và dễ dàng được kiểm soát. Sản phẩm chất lượng tốt có thể thu được khi nguyên liệu ban đầu được chọn đúng và quy trình được kiểm soát tốt. Một vấn đề không thể tránh khỏi là việc đưa vào hoặc tạo ra các sản phẩm phụ (ví dụ: chất hoạt động bề mặt, chất khử và chất ổn định) đòi hỏi các bước tinh chế tiếp theo sau quá trình tổng hợp. Trong một số trường hợp, các phương pháp xử lý sau như nung hoặc ủ được yêu cầu để cải thiện sản phẩm tinh thể.
Hơn nữa, phần lớn các kỹ thuật hóa học hiện nay là các quy trình xử lý theo quy mô phòng thí nghiệm, trong khi việc nâng cao sản xuất công nghiệp với chất lượng sản phẩm giữ lại thể hiện nhiệm vụ rất khó khăn [17]. Về tổng hợp vật liệu nano bằng phương pháp khử sinh học, do quá trình phức tạp và thời gian phản ứng dài khó kiểm soát và điều chỉnh các thuộc tính của sản phẩm. Trong khi đó, các sản phẩm thu được có độ đồng đều thấp, vì nguồn gốc của thực vật / vi sinh vật là độc lập và có ảnh hưởng đáng kể đến các đặc tính của hạt nano.