CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Tình hình nghiên cứu 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu về marketing xã hội 1.1 Tổng quan nghiên cứu về marketing xã hội ở Việt Nam Luận án của Ngô Thị Hồng Nhung (2021) đo lường ảnh hưởng của các yếu tố marketing xã hội đến thái độ và hành vi của người tham gia giao thông đường bộ tại Hà Nội dựa trên sự vận dụng lý thuyết về hành vi dự định TPB (Icek Aen, 2016) làm cơ sở để xây dựng mô hình nghiên cứu. Nghiên cứu làm rõ các ảnh hưởng tích cực của 7 yếu tố thuộc marketing xã hội hỗn hợp bao gồm giá, phân phối, xúc tiến, sản phẩm, đối tác, công chúng và nguồn lực tới thái độ, hành vi của người tham gia giao thông. Luận án cũng bổ sung thêm các yếu tố mới như biến điều tiết bao gồm yếu tố hiệu lực, thời tiết và biến kiểm soát bao gồm yếu tố tuổi, trình độ học vấn. Từ dữ liệu 377 phiếu khảo sát hợp lệ thu được từ bảng khảo sát trực tuyến người dân tham gia giao thông trên địa bàn Hà Nội trong khoảng thời gian 6-7/2020, tác giả đã tiến hành phân tích nhân tố, kiểm định mô hình hồi quy SEM.
Kết quả phân tích chỉ ra rằng yếu tố đối tác có tác động lớn nhất tới thái độ của người tham gia giao thông, trong khi yếu tố về tuổi có tác động mạnh nhất tới hành vi tham gia giao thông của người dân. Dựa trên kết quả, tác giả cũng đề xuất một số hàm ý, khuyến nghị cho các nhà quản lý và hoạch định chính sách trong việc kiểm soát hành vi của người dân khi tham gia giao thông đường bộ một cách hiệu quả theo cách tiếp cận marketing xã hội. Nghiên cứu của Nguyễn Thanh Thảo (2016) về sự ảnh hưởng của marketing vì mục đích xã hội đến ý định mua và mua lại của người tiêu dùng tại thành phố Hồ Chí Minh đã sử dụng kết hợp chủ yếu hai phương pháp là phương pháp định tính và phương pháp định lượng cùng sử dụng thang đo Likert 5 mức để đo lường. Tác giả tiến hành thu thập dữ liệu nhiều đối tượng và yếu tố khác nhau thông qua bảng câu hỏi khảo sát trực tuyến với sự tham gia của 363 người tiêu dùng trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh.
Kết quả nghiên 9 cứu xác định mối quan hệ tuyến tính giữa các thành phần của marketing vì mục đích xã hội bao gồm sự gần gũi của chương trình, tính chất quan trọng của chương trình, sự thích hợp giữa sản phẩm và chương trình, mức độ tham gia của người tiêu dùng, sự phù hợp giữa thương hiệu và chương trình với ý định mua và mua lại của người tiêu dùng thành phố Hồ Chí Minh. Kết quả cũng cho thấy sự liên kết giữa marketing vì mục đích xã hội và ý định mua và mua lại có sự khác biệt giữa các nhóm đối tượng khác nhau về giới tính, độ tuổi và trình độ học vấn. Từ đó, nghiên cứu khuyến khích các nhà quản trị doanh nghiệp cần sử dụng, xây dựng các chương trình marketing vì mục đích xã hội để tăng tương tác với khách hàng và tạo ra giá trị cho khách hàng, đồng thời đưa ra các chiến lược phù hợp để nâng cao lợi nhuận.2 Tổng quan nghiên cứu về marketing xã hội trên thế giới Nghiên cứu của Ade Octavia (2018) nhằm mục đích phân tích tính hiệu quả của các thông điệp xã hội và tính chính xác trong việc sử dụng các phương tiện truyền thông của chính phủ khi truyền tải thông điệp tới cộng đồng về HIV/AIDS. Bên cạnh đó, bài nghiên cứu cũng phân tích tác động của marketing xã hội đối với hành vi của đối tượng mục tiêu.
Tác giả đã sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính kết hợp định lượng để xem xét và đo lường mối quan hệ giữa tiếp thị hỗn hợp (SMM), tin nhắn hiệu quả (ME), hành vi của đối tượng mục tiêu (TAB). Đơn vị mẫu được lựa chọn bao gồm các nhóm cộng đồng như học sinh trung học, sinh viên đại học, bà nội trợ/phụ nữ đi làm, người trụ cột trong gia đình, nhà lãnh đạo/học giả cộng đồng, các nhà giáo dục/học giả và học viên/doanh nghiệp. Tổng số mẫu tham gia vào nghiên cứu là 176 người. Kết quả điều tra cho thấy có sự ảnh hưởng đáng kể giữa marketing xã hội và hành vi của đối tượng mục tiêu.
Có 3 trong 4 nhân tố thuộc marketing xã hội ảnh hưởng tích cực đến hành vi, trong khi nhân tố về giá cả không ảnh hưởng đến hành vi xã hội. Ngoài ra, các yếu tố của marketing xã hội có tác động gián tiếp đến hành vi của đối tượng mục tiêu thông qua hiệu quả của thông điệp quảng cáo. Phát hiện của nghiên cứu cũng cho rằng chương trình chiến dịch marketing xã hội có thể làm giảm mức tiêu thụ của mọi người đối với các sản 10 phẩm không lành mạnh. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất một số hàm ý chính sách trong việc xây dựng chiến dịch phòng chống HIV/AIDS bằng các chương trình marketing xã hội.
Nghiên cứu của Rebecca Firestone (2016) đã xem xét và phân loại các ấn phẩm khoa học liên quan đến hiệu quả của marketing xã hội ở các nước có thu nhập thấp và trung bình, tập trung vào các lĩnh vực đầu tư chính cho sức khỏe toàn cầu: HIV, sức khỏe sinh sản, sự sống còn của trẻ em, bệnh sốt rét và bệnh lây truyền. Trên các lĩnh vực y tế, có 97 nghiên cứu báo cáo về sự thay đổi hành vi và 42 nghiên cứu báo cáo về kết quả sức khỏe. Hầu hết các nghiên cứu đều chỉ ra rằng các chương trình marketing xã hội đều có kết quả tích cực, ý nghĩa thống kê và có nhiều khả năng thúc đẩy thay đổi hành vi. Bài nghiên cứu cũng khẳng định marketing xã hội có thể ảnh hưởng đến hành vi sức khỏe và kết quả sức khỏe trong y tế toàn cầu; tuy nhiên các đánh giá đến nay vẫn còn tương đối hạn chế.
Nghiên cứu của Teuku Tahlil (2022) đã phân tích và đánh giá hiệu quả của marketing xã hội trong việc nâng cao kiến thức của sinh viên về hút thuốc. Tác giả đã sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng, thu thập dữ liệu từ câu hỏi khảo sát trực tuyến với 152 sinh viên hút thuốc được chọn làm người tham gia. Các em được chia thành 2 nhóm bằng nhau, với 76 học sinh ở nhóm đối chứng và 76 học sinh ở nhóm can thiệp. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng sự can thiệp của marketing xã hội đã làm tăng kiến thức và thái độ của thanh thiếu niên, trong khi các yếu tố khác không có ảnh hưởng đáng kể.
Từ đó, tác giả đưa ra kết luận về tính hiệu quả của marketing xã hội trong việc mở rộng hiểu biết của sinh viên về hút thuốc, cải thiện thái độ đối với việc cai thuốc lá và giảm hành vi hút thuốc của họ. Nghiên cứu đề xuất giải pháp để nâng cao hiệu quả của marketing xã hội, các sinh viên cũng được khuyến khích thiết kế thông điệp truyền thông thú vị về lợi ích của việc thay đổi hành vi và lối sống lành mạnh. Tuy nhiên, một hạn chế của nghiên cứu này là các nhà nghiên cứu đã không quan sát trực tiếp cường độ hành vi hút thuốc của sinh viên thông qua số điếu thuốc họ hút. 11 Nghiên cứu Martine Stead và cộng sự (2007) đã đánh giá hiệu quả của các can thiệp marketing xã hội trong việc tác động đến hành vi cá nhân và mang lại những thay đổi ở cấp độ môi trường và chính sách liên quan đến rượu, thuốc lá, ma túy bất hợp pháp và hoạt động thể chất.
Qua việc tổng hợp 54 tài liệu nghiên cứu, bằng chứng có liên quan, tác giả đã chỉ ra rằng các biện pháp can thiệp áp dụng nguyên tắc marketing xã hội có thể có hiệu quả đối với nhiều hành vi, với nhiều nhóm mục tiêu, trong các bối cảnh khác nhau và có thể ảnh hưởng đến chính sách và thực hành nghề nghiệp cũng như các cá nhân. Bài nghiên cứu khẳng định marketing xã hội có thể tạo thành một khuôn khổ hiệu quả cho các can thiệp về thay đổi hành vi và có thể cung cấp một “bộ công cụ” hữu ích cho các tổ chức đang cố gắng thay đổi hành vi tự nguyện của đối tượng mục tiêu nhằm cải thiện sức khỏe và xã hội. Tuy nhiên, điểm hạn chế của bài nghiên cứu này là một số tài liệu nghiên cứu được tác giả tổng hợp chỉ báo cáo kết quả tổng quan chưa thực sự phân tích và so sánh cụ thể. Nghiên cứu của Angeliki N.
Menegaki (2011) xem xét tiềm năng của marketing xã hội đối với hành vi tiêu dùng các nguồn năng lượng tái tạo ở châu Âu dựa trên các tài liệu và các cuộc khảo sát, phỏng vấn về sở thích của người tiêu dùng. Đặc biệt, tác giả đã sử dụng mô hình SWOT nhằm xem xét đánh giá tổng thể về điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của ngành RES (năng lượng tái tạo). Mặc dù khu vực địa lý mà nghiên cứu này quan tâm là Châu Âu nhưng các nghiên cứu từ các quốc gia bên ngoài Châu Âu cũng được đưa vào. Các nghiên cứu này cung cấp câu trả lời về tất cả các nhân tố cần thiết cho chương trình marketing xã hội nói riêng và kế hoạch tiếp thị nói chung.
Các vấn đề chính mà nghiên cứu đề cập tới bao gồm marketing xã hội là điều kiện tiên quyết cho giai đoạn đầu tiên (giới thiệu) trong vòng đời của sản phẩm này. Ngoài ra, vì marketing xã hội tìm cách tác động đến hành vi xã hội và mang lại lợi ích cho toàn xã hội chứ không chỉ nhà tiếp thị, nên nó là một công cụ hữu ích cho các cơ quan và tổ chức nhà nước. Kết quả từ bài nghiên cứu cho thấy sự cần thiết marketing xã hội trong việc tiếp 12 cận các nhóm khách hàng cụ thể như người lớn tuổi và/hoặc người nghèo hơn, những người ít tiếp cận thông tin và giáo dục, thể chế. Nghiên cứu của Ross Gordon (2012) xem xét vai trò của mô hình 4Ps trong marketing xã hội và đánh giá lại về mô hình 4Ps trong lĩnh vực marketing chính thống và marketing xã hội.
Trong đó, mô hình marketing 4Ps có hạn chế khi xem xét liên quan đến lĩnh vực marketing xã hội. Bởi lẽ các mô hình marketing hỗn hợp khiến ngân sách tập trung vào hiệu quả và đo lường các tác động ngắn hạn của tiếp thị, thường là bán hàng.