chương 1, luận văn tập trung nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về hành vi - pháp luật, bao gồm: khái niệm, các yếu tố cấu thành của hành vi pháp luật, cơ chế xác lập và thực hiện hành vi pháp luật, các loại hành vi pháp luật và các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình hình thành hành vi pháp luật. KHÁI NIỆM HÀNH VỊ PHÁP LUẬT 1. Khái niệm hành vi trong một sô ngành khoa học xã hội Hành vi nói chung là một khái niệm được nhiều ngành khoa học xã hội nghiên cứu. Đặc biệt, trong một số ngành khoa học xã hội như ngôn ngữ học, triết học, xã hội hoc, tâm lý học, nhân chung học, dân tộc học v., khái niệm hành vi hiện diện vừa với tư cách là đối tượng nghiên cứu, đồng thời vừa với tư cách là công cụ nghiên cứu của những ngành khoa học này.
Để hiểu được khái niệm hành vi pháp luật trong khoa học pháp lý, trước hết cần phải tiếp cận khái niệm hành vi từ một số góc độ của các ngành khoa học xã hội khác nhau. e Về phương điện ngôn ngữ hoc Hành vi là một từ Hán Việt, được tạo thành bởi một kết hợp ngang của hai âm tiết hành và vi, mà ngữ nghĩa chính của từ này nằm ở âm tiết thứ nhất - hành, theo đó, hành không có biểu hiện đứng độc lập để làm một từ đơn tiết độc lập có nghĩa (trừ nghĩa thứ yếu của hành trong từ hành tdi - có nghĩa là làm cho khổ sở) [41, tr. Về mặt ngôn ngữ, nó chỉ có thể tạo nên các từ đa âm tiết có quan hệ với nhau do ngữ nghĩa của nó. Các kết hợp đa âm tiết của từ hành có hai nghĩa gốc, nghĩa thứ nhất là di (chẳng hạn trong các kết hop hành khách, hành lý, hành dinh.) và nghĩa thứ hai là /m (chang han trong các kết hợp thi hành, hành lễ, ban hành.
Hanh trong hành vi là kết hợp ngang của nghĩa gốc là /am. Tương tự như vậy, vi cũng không có biểu hiện đứng độc lập để làm một từ đơn tiết độc lập có nghĩa (phân biệt với chữ vi có nghĩa là rất nhỏ bé, như vi trong từ vi sinh vật và chữ vi có nghĩa là làm trái, như vi trong từ vi minh là làm trái lời thé). Vi trong từ hành vi cũng có nghĩa là làm hoặc hành động (tương tự như vi trong từ vô vi là không làm gì hoặc trong từ vi sinh là kiếm sống). Kết hợp ngang hành vi chi "toàn bộ những biểu hiện của con người trong moi cách đốt xứ" [41, tr.
Trong các cuốn từ điển tiếng Việt, thì hành vi là “toàn bộ nói chung những phản ứng, cách cư xử biểu hiện ra ngoài của một người trong một hoàn cảnh cụ thể nhất định” [84, tr.407], hoặc là “cách ứng xu trong một hoàn cảnh nhất dinh dược biểu hiện bằng lời nói, cử chỉ, hành động nhất định” [3, tr. Ngoài ra, trong các ngôn ngữ của các nước khác, hành vi cũng được hiểu tương tự. Chang hạn trong tiếng Anh, hành vi (behavior) được định nghĩa là “cách thức mà con người xu sự trong những tình huống cụ thé” [90, tr.106] hoặc trong tiếng Pháp, hành vi (conduite) là “việc một người lam và bằng cách đó thực hiện một ý định cua minh” [92, tr. e Vé phuong dién triét hoc Dưới lăng kính triết hoc, thế giới được tạo thành từ nhiều yếu tố, song suy cho cùng bao gồm ba yếu tố cơ bản là giới tự nhiên, con người và xã hội, trong đó con người giữ vi trí trung tam.
Con người (và xã hội) tồn tại trong lòng giới tự nhiên, cải tạo giới tự nhiên, biến giới tự nhiên thành đối tượng của minh để tái sản xuất ra các điều kiện sinh hoạt của mình: “súc vat chỉ tái sản xudt ra bản thân minh, còn con người thi tái sản xuất ra toàn bộ tự nhiên ” [12, tr. Con người là những thực thể cấu thành nên xã hội, mọi quá trình xã hội đều là quá trình hoạt động của chính con người. Không có con người thì không có xã hội, như C. Mác đã nhận định: “xd hội là sản phẩm của sự tác động lần nhau giữa người và người ” (11, tr.
Mối quan hệ giữa con người và tự nhiên, con người và xã hội lại phụ thuộc vào trình độ phát triển của những hoạt động lao động của con người. Lao động một mặt gắn bó con người với tự nhiên, một mặt tạo ra xã hội - nấc thang phát triển cao nhất của các hệ thống sống, là hình thức phát triển lịch sử của hoạt động sống của con người. Nhờ các hoạt động lao động mà những lực lượng vật chất chủ yếu và những quan hệ xã hội (trước hết là quan hệ sản xuất) của cộng đồng người được hình thành. Tuỳ theo trình độ phát triển của lịch sử, quá trình hoạt động lao động của con người đòi hỏi phải được tiến hành trong những hình thức tổ chức nhất định.
Cùng với sự phát triển của lịch sử loài người, cơ cấu của quá trình lao động ngày càng trở nên phức tap, cũng như nhu cầu và khả năng mở rộng giao tiếp là cơ sở của sự hình thành các quan hệ xã hội khác: quan hệ chính trị, pháp quyền, đạo đức. và chỉ trong những quan hệ xã hội đó mới có xã hội. Như vậy, sự hình thành con người và qua đó là sự hình thành xã hội chính là những hoạt động thực tiễn cải tạo hiện thực của con người; hơn nữa, nó cũng chính là phương thức cơ bản của sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người. Thực tiễn nói ở đây được hiểu là “những hoạt động vật chất cảm tính, có tính mục đích, có tính lịch sử— xã hội của con người, nhằm cải tạo tự nhiên và xã hội” [30, tr.
Có nghĩa rằng, thực tiễn và hành vi của con người trong thực tiễn không phải chỉ là những hoạt động vái chất, có ý thức, trên cơ so cảm tính của từng người cá biệt, mà thực tiễn và các hành vi của con người là dạng hoạt động cơ bản của loài người trong sự phát triển lịch sử của mình. Do vậy, xét từ nội dung cũng như từ hình thức thực hiện, chúng mang tinh xã hội. 10 Hình thức dau tiên của các hành vi trong thực tiên là hoạt động san xuất vật chất. Hình thức này là tiền đề xuất phát để hình thành những mối quan hệ của con người với thế giới, giúp cho con người vượt ra khỏi khuôn khổ tồn tại của loài vật và là cơ sở của tất cả các dạng thức khác của hoạt động sống của con người.
Hình thức cơ bản tiếp theo là hoạt động cải tạo xã hội, bao gồm các hành vi hoạt động trong các lĩnh vực chính trị — xã hội, nhằm phát triển và hoàn thiện các thiết chế xã hội cùng các quan hệ xã hội. Những hoạt động thực nghiệm khoa học cũng là một dạng đặc biệt của hành vi trong thực tiễn. Tóm lại, tiếp cận từ góc độ triết học thì hành vi là một dạng vật chất có ý thức, mang tính xã hội. Thực tiễn và các hành vi của con người là cơ sở hình thành và phát triển của con người và xã hội loài người.
Trong mối quan hệ biện chứng với hoạt động nhận thức, thực tiễn và các hành vi trong thực tiễn của con người giữ vai trò là cơ sở, động lực, mục đích của nhận thức và là tiêu chuẩn của chân lý. e Vé phương diện tam lý hoc Đối tượng nghiên cứu của tam lý hoc là đời sống nội tâm của con người như xúc cảm, tình cảm, cảm giác, tri giác, trí nhớ, tư duy, tưởng tượng, ý chí, năng lực. và cơ chế sinh lý của các hiện tượng tâm lý đó. Do vậy, khi đề cập tới hành vi, tâm lý học chủ vếu nghiên cứu cấu trúc tâm lý của hành vi con người.
Tuy vậy, khái niệm hành vi lần đầu tiên được sử dụng trong tâm lý học lại không bao gồm: các yếu tố tâm lý - ý thức. Trong bai báo “Tam lý học dưới con mắt của hành vi” được công bố năm 1913, nhà tâm lý học Mỹ Watson (1878-1958) cho rằng, hành vi của con người chỉ bao gồm các cử động cụ thể, có thể quan sát được của cơ thể nhằm thích ứng với môi trường bên ngoài. Theo đó, hành vi của con người là hoàn toàn máy móc, cơ học và không có sự tham gia của ý thức, con người trở thành những cái máy phản ứng theo mô hình hành vi: Stimul (tác nhân) > Reaction (phản ứng). Quan niệm này về li hành vi không lý giải được đời sống tâm lý của con người với tư cách là hoạt động có ý thức, mục đích.
Quan điểm của nền tâm lý học mác- xít được xây dựng trên cơ sở các học thuyết mác- xít về con người cho rằng, hoạt động của con người và lý luận về ý thức đã khẳng định vai trò của các yếu tố tâm lý - ý thức trong hành vi của con người. Khái niệm hành vi theo tâm lý học mác- xit không tách rời với khái niệm “hành động ý chí” - là các hành động có định hướng, có sự lựa chọn phương tiện, phương thức thực hiện, có sự theo dõi, kiểm tra và điều chỉnh để khác phục những khó khăn, trở ngại, nhằm đạt được mục đích. Về mặt cấu trúc, nó bao gồm các yếu tố: - Mục đích của hành vi - là kết quả tương lai của hành vi, do chủ thể nhận thức và mong muốn đạt đến. Nó tồn tại dưới dạng các biểu tượng trong ý thức của chủ thể; - Động cơ thúc đẩy chủ thể thực hiện hành vi, đó có thể là nhu cầu, mong muốn, lý tưởng.
của con người; - Các thao tác diễn ra theo một tổ chức nhất định với tư cách là phương thức thực hiện hành vi; - Kết quả thực tế của hành vi - là sự hiện thực hoá mục đích của hành vi trong thực tế. Theo cách hiểu này, hành vi là những hành động có tính mục đích, được đề ra một cách có ý thức từ trước, có sự tham gia tích cực của tư duy và những nỗ lực của ý chí. e Về phương diện xã hội học Hành vi xã hội và hành động xã hội là hai khái niệm rất thường gặp trong các tài liệu xã hội học và có thể được dùng thay thế cho nhau. Đề cập và nghiên cứu nhiều hơn cả về hành vi trong xã hội học là “Lý thuyết hành vi” (Behaviorism) rất phát triển ở Mỹ.
Thuyết này cho rằng, không thể nghiên cứu được những cái mà con người không thể trực tiếp quan sát được.