chương 1 đã làm nổi bật được sự cần thiết của chủ đề nghiên cứu và đồng thời mô tả được thiết kế các bước tiến hành của luận án, hướng tiếp cận để đạt được các mục tiêu cụ thể đã đặt ra. 14 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HÀNH VI GIAN LẬN BCTC CỦA CTNY VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG 2. Khái quát về hành vi gian lận BCTC của CTNY 2. Khái niệm gian lận và hành vi gian lận BCTC 2.
Khái niệm gian lận Trên thế giới, nhà nghiên cứu về tội phạm người Mỹ - Sutherland (1994) là người đã khai sinh ra thuật ngữ “white - collar crime”, để ám chỉ tới hành vi gian lận do những nhà quản trị cao cấp của công ty gây ra nhằm lường gạt công chúng. Các nghiên cứu sau này đều sử dụng thuật ngữ này để thay thế cho thuật ngữ gian lận thông thường. Theo KPMG Forensic Malaysia (2005), Gian lận là hành vi lập kế hoạch cố ý lừa dối và thực hiện trực tiếp hay gián tiếp với ý định tước đoạt tài sản của người khác để thu lợi cho mình. Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 240 (2012, 3) , “Gian lận là hành vi cố ý do một hay nhiều người trong Ban quản trị, Ban Giám đốc, các nhân viên hoặc bên thứ ba thực hiện bằng các hành vi gian dối để thu lợi bất chính hoặc bất hợp pháp”.
Trong phạm vi nghiên cứu, Luận án tập trung nghiên cứu đến hành vi gian lận dựa trên cơ sở hướng dẫn của chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 240 (VSA 240, 2012). Khái niệm hành vi gian lận BCTC Dựa trên thuật ngữ “white - collar crime” của Sutherland (1940) thì hành vi gian lận BCTC là hành vi gian lận thường do các nhà quản lý gây ra. Khái niệm gian lận BCTC được nhiều nhà nghiên cứu đề cập. Hành vi gian lận BCTC là hành vi gian lận cố ý làm sai lệch thông tin kinh tế, tài chính nhằm điều chỉnh kết quả kinh doanh do một hay nhiều người trong HĐQT, Ban giám đốc thực hiện làm ảnh hưởng đến BCTC, (Elliot & Willingham, 1980, VSA số 240; Albercht và cộng sự, 2012; Well, 2013; ACFE, 2016).
Hành vi gian lận BCTC là hành vi gian lận có chủ ý được thực hiện bởi nhà quản lý gây tổn hại tới nhà đầu tư và chủ nợ thông qua trình bày sai lệch trọng yếu các thông tin trên BCTC, (Elliot và Willingham, 1980). Hành vi gian lận BCTC là các hành vi cố ý như cố ý bỏ sót số liệu hoặc thông tin thuyết minh trên BCTC để lừa dối người sử dụng BCTC, đặc biệt nhà đầu tư và chủ nợ, (Well, 2013). 15 Như vậy, có thể thấy được những đặc điểm chung trong các khái niệm về hành vi gian lận BCTC như sau: Hành vi gian lận BCTC là hành vi có chủ ý của nhà quản lý nhằm làm sai lệch các thông tin trên BCTC gây tổn hại cho nhà đầu tư và chủ nợ. Phân biệt sai sót và gian lận BCTC Để củng cố thêm luận cứ về hành vi gian lận BCTC, cần phân biệt giữa sai sót BCTC và gian lận BCTC để thấy được mức độ tinh vi và tính trọng yếu của hành vi này.
Mặc dù về mặt khoa học sai sót và gian lận là khác xa nhau song trên thực tế đây là các khía cạnh dễ bị nhầm lẫn xuất phát từ quan niệm về các nhân tố ảnh hưởng. Sai sót và gian lận BCTC đều là những sai phạm tiềm ẩn trong BCTC của mỗi doanh nghiệp, ảnh hưởng đến kết quả trên BCTC, phản ánh sai lệch tình hình kinh doanh thực tế của doanh nghiệp. Sự khác nhau giữa sai sót và gian lận BCTC được thể hiện qua bảng sau: Bảng 2. Phân biệt sai sót và gian lận BCTC Chỉ tiêu Gian lận BCTC Sai sót BCTC so sánh Là hành vi cố ý, có tính toán, nhằm Là hành vi không có chủ ý, đôi khi chỉ là Về mặt mục đích tư lợi vô tình bỏ sót hoặc do năng lực hạn chế thiếu bản chất thận trọng trong công việc gây ra sai phạm.
Biểu hiện của gian lận là: Biểu hiện của sai sót: + Xuyên tạc, sửa đổi làm giả chứng từ, + Bỏ sót hoặc ghi sai các nghiệp vụ kế Về mặt tài liệu, cố ý tính sai về số học toán. Áp dụng các chuẩn mực, phương hình thức + Biển thủ tài sản pháp, nguyên tắc và chế độ kế toán sai biểu hiện + Cố ý che dấu thông tin, ghi chép không nhưng không cố ý đúng sự thật về các nghiệp vụ kinh tế + Tính toán số học sai hoặc ghi chép sai Là hành vi có chủ ý, người thực hiện Mức độ tinh vi thấp, dễ phát hiện vì Về mức độ thường có sự chuẩn bị một cách kỹ lưỡng nhiều khi do vô tình mà gây ra sai sót tinh vi nên mức độ tinh vi cao, khó phát hiện Về mức độ Tùy thuộc vào quy mô và tính nghiêm Luôn được coi là sai phạm trọng yếu trọng yếu trọng của sai sót Nguồn: VSA số 240,2012 Trong khuôn khổ của Luận án, tác giả đi sâu vào nghiên cứu hành vi gian lận BCTC do những ảnh hưởng mang tính chất lan tỏa của hành vi này đến các đối tượng tham gia TTCK và sự phát triển bền vững của CTNY trên TTCK. Các hình thức gian lận BCTC Hiệp hội các nhà điều tra về gian lận Mỹ (Association of Certified Fraud Examiners –ACFE) đã có nhiều công trình nghiên cứu về gian lận và tham ô qua các năm 2004, 2006, 2008. Theo đó, BCTC của CTNY thường xảy ra gian lận dưới các hình thức sau: - Ghi tăng hoặc giảm các khoản chi phí: Người lập BCTC có thể ghi tăng chi để giảm lợi nhuận doanh nghiệp, từ đó làm giảm thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp.
Ngược lại, người lập BCTC cũng có thể bỏ qua hoặc ghi giảm chi phí nhằm mục đích điều chỉnh lợi nhuận, khi đó lợi nhuận sẽ tăng đúng bằng chi phí hay nợ bị che giấu. - Ghi tăng hoặc giảm doanh thu: Ghi tăng hoặc ghi các khoản doanh thu không có thật để làm tăng lợi nhuận, ví dụ như lập hóa đơn bán hàng khống nhưng không giao hàng, mục đích của hành động này là làm “đẹp” BCTC. Ngược lại, người lập báo cáo ghi giảm doanh thu để trốn thuế thu nhập doanh nghiệp. - Định giá sai giá trị các tài sản: Thông thường phương pháp định giá sai này áp dụng nhiều với các khoản mục: (thường là hàng tồn kho, phải thu và tài sản dài hạn), tăng vốn hoá chi phí, hoặc giảm chi phí (như chi phí dự phòng, khấu hao,.), doanh nghiệp có thể báo cáo lợi nhuận và vốn chủ sở hữu cao hơn thực tế.
Một công ty có thổi phồng tài sản nhằm gia tăng lợi nhuận trong một kỳ; chẳng hạn ghi tăng tài sản và tăng vốn chủ sở hữu hoặc tăng doanh thu (thu nhập) tạo ra một khoản lợi nhuận phù phép. - Cung cấp thông tin không đầy đủ và không trung thực: Một trong những nguyên tắc của gian lận là luôn luôn che dấu gian lận. Các doanh nghiệp có gian lận luôn tìm cách che dấu vi phạm trong sổ kế toán. Một hình thức che dấu khác là che dấu thông tin công bố trong BCTC.
Bỏ sót công bố thông tin về nợ, các sự kiện quan trọng, giao dịch các bên có liên quan, giao dịch nội bộ,. có thể là cách thức che dấu gian lận. Công bố thông tin không thích hợp, không đầy đủ có thể là cách để che dấu bằng chứng gian lận. Cũng trong những công trình nghiên cứu của mình, ACFE chỉ ra rằng các các phương thức 1, 2, 3 được dùng nhiều để gian lận, chiếm đến 55% tổng số vụ gian lận.
- Ghi nhận sai thời gian: Kế toán viên ghi nhận các khoản doanh thu hay chi phí không đúng với kỳ phát sinh để thao túng thu nhập theo mong muốn. Kết quả nghiên cứu của COSO (2010), Ngô Thị Thu Hà (2007), ACFE (2012), Nguyễn Thị Hương Giang (2013), Lê Nguyễn Thế Cường (2013) đều cho thấy khai 17 khống lợi nhuận/tài sản là hình thức phổ biến trong các hành vi gian lận BCTC của các CTNY. Vì thế, Luận án tập trung nghiên cứu về hành vi gian lận BCTC phổ biến là hành vi khai khống lợi nhuận/tài sản. Cụ thể, Hành vi khai khống lợi nhuận/tài sản bao gồm các cách thức sau: Cách 1: Bóp méo doanh thu trong kỳ, Hành vi này có thể được thực hiện theo 2 cách khác nhau: giả mạo doanh thu và ghi nhận sớm doanh thu.
Ghi nhận sớm doanh thu là ghi nhận luôn doanh thu trong khi hàng hóa và dịch vụ chưa được chuyển giao hoặc chỉ được chuyển giao một phần cho khách hàng và khách hàng chưa chấp nhận thanh toán. Cụ thể là các hành vi như sau: - Thực hiện giao hàng khi việc bán hàng chưa được hoàn tất. - Thực hiện các giao dịch bất thường vào thời điểm ngay trước hoặc sau các kỳ báo cáo - Ghi nhận doanh thu bán chịu trước khi giao hàng cho khách hàng - Ghi nhận hoàn thành doanh thu khi chưa chắc chắn - Ghi doanh thu trong trường hợp hàng bị trả lại hoặc xuất hiện các khoản giảm trừ doanh thu - Hàng hoá đang trong quá trình hoàn thành và chuyển giao cho khách hàng là nhưng vẫn đươc ghi nhận doanh thu Giả mạo doanh thu là ghi nhận doanh thu không có thật vào sổ sách kế toán. Giả mạo doanh thu là hình thức gian lận phổ biến trong lập BCTC.
Các hình thức giả mạo doanh thu bao gồm: - Một là, thực hiện giao dịch bán hàng giả mạo với khách hàng giả mạo/các bên liên quan. Cụ thể, CTNY giả mạo nghiệp vụ mua tài sản với khách hàng ảo và các bên liên quan chấp nhận thanh toán nghiệp vụ đó. - Hai là, khai khống doanh thu thông qua khai khống giá trị của hóa đơn bán hàng. Cụ thể, CTNY lập hóa đơn khống như khai khống số lượng hàng bán và giá bán với đối với các khách hàng giao dịch.
Các thủ thuật tinh vi hơn bao gồm: Ghi doanh thu đối với hàng hóa không được khách hàng đặt trước hay đặt trước nhưng đã hủy bỏ đã hủy bỏ. Ghi doanh số bán hàng đối với hàng trong kho. Ghi tiền đặt cọc được các nhà cung cấp trả lại là doanh thu. Cách 2: Khai tăng tài sản thường thực hiện đối với TSCĐ, HTK, các KPT dưới cách thức giả mạo tài sản và khai khống giá trị tài sản.
18 Giả mạo tài sản là hành vi nhằm tăng tổng giá trị tài sản trong BCĐKT, tăng khả năng thanh toán. - Đối với TSCĐ, công ty thường sử dụng giấy tờ giả mạo liên quan mua sắm TSCĐ như hóa đơn mua sắm TSCĐ, biên bản giao nhận,.