mở đầu cho một cặp thoại, làm cơ sở cho sự xuất hiện tham thoại thứ hai của người đối thoại. Tham thoại hồi đáp là tham thoại có chức năng phản hồi lại chức năng ở lời dẫn nhập. “Tham thoại hồi đáp đóng vai trò kết thúc cặp thoại. Điều quan trọng của sự.
hồi đáp là phải chỉ ra mức độ đáp ứng hay không đáp ứng các yêu cầu do tham thoại dẫn nhập đặt ra. Nếu tham thoại hồi đáp đáp ứng tham thoại dẫn. nhập thì tham thoại đó được gọi là tham thoại hồi đáp tích cực. Ngược lại gọi là tham thoại hồi đáp tiêu cực.
Dựa vào cấu tạo, ta có tham thoại đơn và tham thoại phứ. Tham thoại đơn là tham thoại chỉ có một hành động đó là chủ hướng. Tham thoại phức là tham thoại có từ hai hành động trở lên, trong đó có một chủ hướng và một hoặc một số hành động phụ thuộc. Hành động ngôn ngữ Đơn vị tối thiểu tạo nên tham thoại là một hành động ngôn ngữ.
Trong một phát ngôn có thể có một hành động ngôn ngữ nhưng cũng có thể có một số hành động ngôn ngi (7) - Nữ: Ủa, hồng lề trên anh hồng có?' ~ Nam: Chắc tại người đánh bột khéo tay nên tưi mới nhớ hoài. (Bánh bông lan) 'Về vấn đề hành động ngôn ngữ chúng tôi sẽ trình bày ở mục 1. Các nguyên tắc hội thoại. Hội thoại diễn tiến theo những quy tắc nhất định.
Để cho cuộc thoại vận động như mong muốn, những người tham gia hội thoại phải tôn trọng các nguyên tắc hội thoại. Các nguyên tắc hoại thường được các nhà nghiên cứu đề cập đến là: nguyên tắc công tác, nguyên tắc lịch sự, nguyên tắc luân phiên lượt lời, nguyên tắc thương lượng, nguyên tắc liên kết. “Trong để tài này, chúng tôi chủ yếu tìm hiểu 2 nguyên tắc: nguyên tắc cộng tác và nguyên tắc lịch sự. Nguyên tắc cộng tác hải góp phần của mình (về ¡, về nội dung) để đạt tới đích cuộc thoại.
Nguyên tắc công tác bao trùm bốn phạm trù mà H.P Grice gọi tên là phạm trù lượng, phạm trù chất, phạm trù quan hệ, phạm trù cách thức. Mỗi phạm trù đó tương ứng với một “tiểu nguyên tắc” mà H.P Grice gọi là phương. Ông tách nguyên tắc cộng tác thành bốn phương châm nhỏ: ~ Phương châm về lượng. + Hãy làm cho phần đóng góp của anh có lượng tin đúng như đòi hỏi của đích cuộc thoại + Đừng làm cho lượng tin của anh lớn hơn yêu cầu mà nó được đòi hỏi ~ Phương châm về chất + Đừng nói điều mà anh tin rằng không đúng.
+ Đừng nói điều gì mà anh không có đủ bằng chứng ~ Phương châm quan hệ (còn được gọi là phương châm quan yếu) + Hãy làm cho phần đóng góp của anh quan yếu, tức có dính líu đến câu chuyện xây ra ~ Phương châm cách thức + Tránh lối nói tối nghĩa. + Tránh lối nói mập mờ, mơ hồ vẻ nghĩa + Hãy nói ngắn gọn. + Hãy nói có trật tự Nguyên tắc công tác và các phương châm của Grice đúng cho những cuộc hội thoại chân thực, trong đó, những nhân vật tham gia giao tiếp muốn làm cho nó đạt hiệu quả một cách tường minh, trực tiếp. Nguyên tắc lịch sự “Trong quá trình giao tiếp, tính tế nhị, lịch sự là một trong những yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến sự thành công hay that bai của cuộc giao tiếp.
Cho nên, bên cạnh nguyên tắc cộng tác thì nguyên tắc lịch sự là một trong những nguyên tắc cực kỳ quan trọng. Chuẩn nguyên lý lịch sự chính là những chuẩn lịch sự xã hội cần phải được tuân theo trong giao tiếp ngôn ngữ. ‘Tir lau, lịch sự đã trở thành mối quan tâm lớn và thường xuyên của ngữ dụng học. Tiêu biểu là quan điểm của R.Lakoff (1972) đã đưa ra ba quy tắc về phép lịch sự là: Quy tắc 1: Không áp đặt Quy tắc 1 được đùng trong phép lịch sự qui thức và thích hợp với những trường hợp khác nhau về quyền lực, địa vị của những người tham gia giao tiếp.
Người nói thể hiện lịch sự theo quy tắc không áp đặt sẽ tránh hoặc. làm giảm nhẹ sự áp đặt khi yêu cầu người nghe làm việc gì đó. Quy tắc 2: Để ngỏ sự lựa chọn. Quy tắc 2 là quy tắc được dùng trong phép lịch sự phi quy thức và thích.
hợp với trường hợp trong đó người tham dự có một sự bình đẳng, gần nhau về quyền lực và địa vị nhưng không có quan hệ gần gũi. Với quy tắc này, người nói có thể dùng các yếu tố rào đón hay thông qua cách nói gián tiếp, hàm an để tạo cơ hội cho người nghe có thể lảng tránh hồi đáp nếu người nghe không. muốn chấp nhận đích mà người nói đưa ra. Quy tắc 3: Tăng cường tình cảm bằng hữu.
Quy tắc 3 của R.Lakoff là quy tắc về phép lịch sự dùng trong bối cảnh. bạn bè hay giữa những người có quan hệ thân hữu và thích hợp khi người nói và người nghe có quan hệ thân mật, riêng tư với nhau. Ở quy tắc này, ngưi nói không cần sử dụng lối nói gián tiếp hay làm ẩn, lịch sự xã giao giữa những người có quan hệ gần gũi như bạn thân, người yêu, vợ chồng.Leech trong cuốn Principle of pragmatics (Những nguyên lý của dụng hoc) lại quan niệm lịch sự là sự bù đắp những hao tổn, thiệt thoi do hành. động nói năng của người nói gây ra cho người đối thoại.
Lý thuyết lịch sự của ông dựa trên khái niệm thiệt và lợi gây ra cho người nói và người nghe và nội dung khái quát của nó nằm ở quy tắc tối thiểu hóa những lối nói bắt lịch sự và. tăng tối đa những lỗi nói lịch sự. Nội dung của nguyên lý lịch sự đối với G.Leech cy thé hóa trong 6 phương châm lịch sự là: khéo léo, hào hiệp, tấn thưởng, khiêm tốn, tán đồng, cảm động. 20 Theo ông, mức độ lich sự của một hành động ở lời phụ thuộc vào ba nhân tố: ~ Bản chất của hành động nói được thực hiện.
- Hình thức ngôn từ thể hiện hành động nói đó. ~ Mức độ quan hệ giữa người nói và người nghe. Như vậy, về nội dung, ta thấy sáu phương châm của G. quan hệ chặt chẽ với ba quy tắc của R.
Nhưng nếu ba quy tắc của.Lakoff chủ yếu chỉ hướng về phía người nghe nhưng có tính đến bối cảnh giao tiếp thì sáu phương châm của G.Leech hướng cả về người nói và người nghe. Tuy nhiên, khi cuốn Politeness - Some Universals in language usage (Lịch sự - một vài phổ niệm trong sử dụng ngôn ngữ) ra đời năm 1978 và sửa. chửa bổ sung vào năm 1987 thì lý thuyết về phép lịch sự mới được coi là hoàn. chỉnh và nhất quán.
Xuất phát điểm quan trọng của lý thuyết lịch sự này là. khái niệm thể diện.Levinson đã mượn khái niệm thể diện của E.Goffiman để xây dựng nên lý thuyết lịch sự của mình. Định nghĩa của Brown va Levinson về thể diện là cái “hình ảnh ta trước công chúng”. Đồng thời, Brown và Levison cũng đã phân biệt hai phương diện của thể diện: thể diện dương tính và thê diện âm tính.
Thể diện đương tính được Brown và Levinson xác định như là sự mong muốn "thân hữu”, tức là “mong muốn của mỗi thành viên rằng những mong muốn của mình đồng thời cũng là những. mong muốn ít ra là của mốt số người khác". Nói cách khác, đây là mong muốn hình ảnh cái tôi của mình được người khác xác nhận, bênh vực, ủng hộ. “Thể diện âm tính được Brown và Levinson định nghĩa “là sự tự do hành.
Nói cách khác, đây là mong muốn tôn trọng lãnh địa riêng tư, quyền tự. chủ, quyền tự do hành động và từ chối.Levinson đã tổng kết những chiến lược dùng để giữ thể diện nhằm đạt được hai loại lịch sự trong giao đó là lịch sự dương tính nhằm bù đắp cho thể diện dương tính của người nghe và lịch sự âm tính nhằm. bù đắp cho thể diện âm tính của ngt nghe. Hai ông cho rằng đại bộ phận hành động các ngôn ngữ đều tiềm tàng khả năng làm tồn hại thể diện của cả người nhận và người thực hiện và gọi đó là hành động đe dọa thẻ diện, viết tắt là FTA.Levinson đã phân loại các hành động de dọa thể diện theo bốn nhóm sau: - Hành động đe dọa thé điện âm tính của người thực hiện như: tặng, hia hen, cam kết.
~ Hành động đe dọa thể diện dương tính của người thực hiện như: thú nhận, xin lỗi, trách, cảm ơn. ~ Hành động đe dọa thể diện âm tính la người tiếp nhận như: hỏi (hỏi những cái thuộc vẻ riêng tu), khuyên nhủ, sai khiến, nghiêm cắm. ~ Hành động đe dọa thể diện dương tính của người tiếp nhận như: phê bình, chê bai, chửi, lăng mạ. Tuy nhiên, một hành động đe doa thể diện không chi de dọa một loại thể diện mà nó đồng thời đe dọa một số hoặc cả bốn thể diện nói trên.
Chẳng hạn như hành động hứa. Khi thực hiện hành 1g hứa, người hứa hẹn bị de doa thé điện âm tính vì phải chịu trách nhiệm cá nhân về lời hứa, mắt tự do khi buộc phải thực hiện lời hứa nhưng có thể gia tăng thể diện dương tính vì người hứa tỏ ra hào hiệp, luôn vì người khác. Người nhận lời hứa hẹn cũng bị rang buộc vì lời hứa và như vậy thể diện âm tính của người nhận cũng bị de dọa. Trong trường hợp người nhận từ chối tiếp nhận lời hứa thì khi thực hiện.
một hành động ở lời nào đó được xem là có khả năng làm. mất thể diện của. đối tác, người nói phải tìm cách làm dịu tác động đe dọa thể diện của đối tác bing nhimg hanh vi ma Brown và Levinson goi là cứu văn thể diện. 22 ‘Tuy nhién, trong thuc té sir dung ngôn ngữ, bên cạnh những hành động đe dọa thê diện còn có các hành động khi thực hiện lại có hiệu qua, lam gia tăng sự tôn trọng thể diện của người tiềp nhận và người nói.Orecchioni trong cuốn La Conversation đã đề xuất khái niệm Hành.
vi tôn vinh thể điện - Face Flattering Acts, viết tắt là FFA. Những hành động như khen ngợi, cảm ơn là những hành động tôn vinh thể Có thể nói, đe dọa và tôn vinh thể diện là hai mặt tác đông của hành động ngôn ngữ đối với thể hiện của các đối tác trong giao tiếp. Nhìn chung, trong giaotiếp chúng ta có khuynh hướng giảm thiểu các FTA và tang cường các FFA. Tóm lại, phép lịch sự là tập hợp những phương tiện mà người nói vận dụng để điều phối các thể diện khi giao tiếp.
Lí thuyết hành động ngôn ngữ 1.