Luận án tiến sĩ: Đặc điểm nông sinh học của giống ngô lai chịu hạn tại Sơn La

Luận án tiến sĩ phân tích nghiên cứu đặc điểm nông sinh học của một số giống ngô lai mới có khả năng chịu hạn và năng suất, xây dựng cơ sở lý luận, kiểm chứng thực nghiệm, đóng

Trường đại học

Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

Chuyên ngành

Khoa học cây trồng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2016

76
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Giới thiệu về nghiên cứu giống ngô lai chịu hạn và năng suất cao tại Sơn La

Nghiên cứu này tập trung vào việc đánh giá đặc điểm nông sinh học của các giống ngô lai mới có khả năng chịu hạnnăng suất cao tại tỉnh Sơn La. Sơn La là một tỉnh miền núi phía Tây Bắc Việt Nam, nơi mà nông nghiệp đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế địa phương. Biến đổi khí hậuhạn hán kéo dài đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là cây ngô. Do đó, việc phát triển các giống ngô lai có khả năng thích ứng với điều kiện khí hậu khắc nghiệt là một yêu cầu cấp thiết.

1.1. Mục đích và yêu cầu của nghiên cứu

Mục đích chính của nghiên cứu là lựa chọn 1-2 giống ngô lainăng suất caokhả năng chịu hạn tốt, phù hợp với điều kiện đất đai và khí hậu của Sơn La. Nghiên cứu yêu cầu đánh giá khả năng chịu hạn của các giống ngô trong giai đoạn cây con, theo dõi các giai đoạn sinh trưởng chính, và đánh giá các yếu tố cấu thành năng suất ngô. Kết quả nghiên cứu sẽ là cơ sở khoa học để phát triển nông nghiệp bền vững tại Sơn La.

1.2. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Nghiên cứu này có ý nghĩa khoa học quan trọng trong việc xác định các giống ngô lai phù hợp với điều kiện sinh thái của Sơn La. Đồng thời, nghiên cứu cũng mang lại giá trị thực tiễn cao khi cung cấp các giống ngô có năng suất caokhả năng chịu hạn tốt, giúp hỗ trợ nông dân trong việc tăng cường sản xuất và cải thiện thu nhập.

II. Tổng quan về tình hình sản xuất ngô trên thế giới và Việt Nam

Ngô là một trong ba cây ngũ cốc quan trọng nhất trên thế giới, đứng thứ hai về diện tích nhưng đứng đầu về sản lượng. Tình hình sản xuất ngô trên thế giới đã có sự tăng trưởng đáng kể trong những năm gần đây, đặc biệt là ở các nước phát triển như Mỹ, Trung Quốc và Brazil. Tại Việt Nam, ngô là cây lương thực quan trọng thứ hai sau lúa, đóng vai trò chính trong ngành chăn nuôi và công nghiệp chế biến.

2.1. Tình hình sản xuất ngô trên thế giới

Theo số liệu từ FAOSTAT (2016), diện tích trồng ngô trên thế giới đạt 183,32 triệu ha, với sản lượng khoảng 1.038,28 triệu tấn. Châu Mỹ là khu vực có năng suất ngô cao nhất thế giới, đạt 76,97 tạ/ha, trong khi Châu Phi có năng suất thấp nhất do điều kiện khí hậu khắc nghiệt và trình độ thâm canh thấp.

2.2. Tình hình sản xuất ngô tại Việt Nam

Tại Việt Nam, diện tích trồng ngô đã tăng từ 1.126,4 nghìn ha năm 2010 lên 1.178,5 nghìn ha năm 2014. Tuy nhiên, năng suất ngô của Việt Nam vẫn thấp hơn mức trung bình thế giới, chỉ đạt 44,35 tạ/ha năm 2013. Trung du và miền núi phía Bắc là vùng có diện tích trồng ngô lớn nhất nhưng năng suất thấp nhất do điều kiện đất đai và khí hậu khó khăn.

III. Phương pháp nghiên cứu và kết quả đạt được

Nghiên cứu sử dụng phương pháp đánh giá khả năng chịu hạn của các giống ngô lai trong giai đoạn cây con, kết hợp với theo dõi các giai đoạn sinh trưởng và đánh giá năng suất ngô tại Sơn La. Kết quả nghiên cứu cho thấy một số giống ngô lai có khả năng chịu hạn tốt và năng suất cao, phù hợp với điều kiện đất đai và khí hậu của địa phương.

3.1. Đánh giá khả năng chịu hạn của các giống ngô

Các giống ngô lai được đánh giá khả năng chịu hạn thông qua tỷ lệ cây không héo và tỷ lệ cây phục hồi sau giai đoạn gây hạn nhân tạo. Kết quả cho thấy một số giống có khả năng chịu hạn vượt trội, đặc biệt là trong điều kiện khí hậu khắc nghiệt của Sơn La.

3.2. Đánh giá năng suất và hiệu quả kinh tế

Các yếu tố cấu thành năng suất ngô như số bắp, chiều dài bắp và trọng lượng hạt được đánh giá. Kết quả cho thấy một số giống ngô lai có năng suất cao, đạt từ 7-8 tấn/ha, mang lại hiệu quả kinh tế cao cho nông dân.

IV. Kết luận và đề xuất

Nghiên cứu đã xác định được các giống ngô laikhả năng chịu hạn tốt và năng suất cao, phù hợp với điều kiện đất đai và khí hậu của Sơn La. Những giống này có tiềm năng lớn trong việc cải thiện sản xuất ngô tại địa phương, góp phần vào phát triển nông nghiệp bền vững.

4.1. Đề xuất ứng dụng vào sản xuất

Các giống ngô lai được lựa chọn nên được nhân rộng và đưa vào sản xuất đại trà tại Sơn La. Đồng thời, cần tăng cường hỗ trợ nông dân trong việc áp dụng các kỹ thuật trồng ngô tiên tiến để tối ưu hóa năng suất và hiệu quả kinh tế.

4.2. Hướng nghiên cứu trong tương lai

Cần tiếp tục nghiên cứu để phát triển các giống ngô lai mới có khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu và các điều kiện bất lợi khác. Đồng thời, cần đánh giá tác động của các giống ngô mới đến thị trường ngô và nền kinh tế địa phương.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ nghiên cứu đặc điểm nông sinh học của một số giống ngô lai mới có khả năng chịu hạn và năng suất cao tại sơn la

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.Cơ sở khoa học của đề tài Tình trạng biến đổi khí hậu toàn cầu, hạn hán kéo dài, lượng mưa không đều ở các vùng là một khó khăn lớn cho sản xuất nông nghiệp ở nhiều châu lục như châu Á, châu phi, Nam Mỹ….Ngoài tác động trực tiếp lên quá trình canh tác, biến đổi khí hậu còn làm thu hẹp diện tích sản xuất nông nghiệp. Việt Nam có khoảng 75% là đồi núi, đất dốc nên thường xuyên khan hiếm về nguồn nước gây khó khăn cho canh tác đối với nhiều loại cây trồng nói chung và cây ngô nói riêng. Do vậy, ngoài việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật tiên tiến trong thâm canh thì việc chọn giống ngô có khả năng chống chịu với điều kiện ngoại cảnh bất lợi nói chung, chịu hạn nói riêng là hết sức cần thiết mang tính thời sự trên thế giới cũng như ở Việt Nam. Khả năng chịu hạn là sự thích nghi có bản chất di truyền, biểu hiện của sự đa dạng về đặc điểm hình thái, sinh lý và hóa sinh.

Do đó để đánh giá được khả năng chống chịu hạn ở thực vật nói chung và cây ngô nói riêng một cách toàn diện cần phải có trang thiết bị hiện đại, chi phí lớn. Tuy nhiên năng suất và khả năng chống chịu có mối quan hệ nhất định với một số đặc điểm nông sinh học, dựa vào mối quan hệ này ở các giai đoạn sinh trưởng như giai đoạn cây con, giai đoạn trỗ cờ, tung phấn, phun râu…. Có thể đánh giá nhanh khả năng chịu hạn làm cơ sở cho quá trình chọn giống. Do vậy chúng tôi đã tiến hành đánh giá nhanh khả năng chịu hạn của các giống ngô lai thời kỳ cây con theo phương pháp của Lê Trần Bình và Lê Thị Muội 1998 [2].

Tình hình sản xuất ngô trên thế giới và Việt Nam 1. Tình hình sản xuất ngô trên thế giới Hiện nay ngô là cây lương thực đứng thứ 3 trên thế giới sau lúa mì và lúa nước, năm 2014, diện tích trồng ngô khoảng 183,32 triệu ha, sản lượng 5 khoảng 1038,28 triệu tấn (FAOSTAT,9/ 2016) [33]. Trong những năm gần đây nhờ vào sự phát triển của khoa học kỹ thuật việc áp dụng những công nghệ mới vào sản xuất đã làm tăng năng suất và sản lượng ngô.Tình hình sản xuất ngô trên thế giới trong 5 năm gần đây được trình bày ở bảng 1.1: Tình hình sản xuất ngô trên thế giới giai đoạn 2010 – 2014 Năm Diện tích Năng suất Sản lượng (triệu ha) (tạ/ha) (triệu tấn) 2010 164,05 51,89 851,27 2011 171,38 51,77 887,13 2012 179,06 48,89 875,49 2013 186,02 54,71 1.038,28 (Nguồn:FAOSTAT,9/2016) [33] Số liệu bảng 1.1 cho thấy sản xuất ngô của thế giới trong những năm gần đây tăng đáng kể tăng cả về diện tích, năng suất và sản lượng. Diện tích trồng ngô từ 164,05 triệu ha (năm 2010 ) đến 183,32 triệu ha (năm 2014).

Năng suất tăng không đáng kể từ 51,89 tạ/ha (năm 2010) đến 56,64 tạ/ha (2014). Do diện tích tăng cho nên sản lượng vẫn có xu hướng tăng qua các năm. Có được kết quả này, trước hết là nhờ ứng dụng rộng rãi lý thuyết ưu thế lai trong chọn tạo giống, đồng thời không ngừng cải thiện các biện pháp kỹ thuật canh tác. Hiện nay trên thế giới có khoảng 140 nước trồng ngô, trong đó có 38 nước là các nước phát triển còn lại là các nước đang phát triển.

Do sự khác nhau về điều kiện tự nhiên, tập quán canh tác và trình độ khoa học kỹ thuật nên có sự chênh lệch về năng suất ngô ở các châu lục. Tình hình sản xuất ngô ở một số châu lục năm 2014 được trình bày ở bảng 1.1: Tình hình sản xuất ngô ở một số châu lục năm 2014 Khu vực Diện tích Năng suất Sản lượng (triệu ha) (tạ/ha) (triệu tấn) Châu Mỹ 68,40 76,97 526,45 Châu Á 59,10 51,47 304,14 Châu Âu 18,75 69,02 129,43 Châu Phi 37,00 20,98 77,62 (Nguồn: FAOSTAT, 9/2016) [33] Số liệu bảng 1.2 cho thấy châu Mỹ là khu vực có diện tích, năng suất và sản lượng ngô lớn nhất thế giới. Năm 2014, năng suất ngô châu lục này đạt 76,97 tạ/ha, cao hơn năng suất trung bình của thế giới (55,2 tạ/ha) là 20,83 tạ/ha. Sản lượng đạt 526,45 triệu tấn chiếm 50,7% sản lượng ngô toàn thế giới.

Châu Á là châu lục có diện tích trồng ngô lớn thứ hai với 59,1 triệu ha nhưng năng suất ngô châu Á chỉ đứng thứ 3 (51,47 tạ/ha) sau châu Âu (69,02 tạ/ha). Mặc dù diện tích trồng ngô của châu Âu ít nhất (18,97 triệu ha) so với 4 châu lục nhưng năng suất ngô cao thứ hai trên thế giới. Do Châu Mỹ và Châu Âu, ngô được trồng ở các nước phát triển, trình độ thâm canh cao nên năng suất ngô 2 vùng này đạt cao nhất thế giới. Châu Phi là khu vực có diện tích trồng ngô đứng thứ 3 thế giới (37 triệu ha), nhưng vùng này có điều kiện khí hậu khắc nghiệt, chưa có điều điều kiện thâm canh nên năng suất ngô đạt thấp nhất (20,98 tạ/ha).Tình hình sản xuất ngô ở Việt Nam Ở Việt Nam, cây ngô đã được trồng cách đây khoảng 300 năm và được trồng trên những điều kiện sinh thái khác nhau của cả nước.

Là cây lương thực quan trọng thứ hai sau cây lúa và là cây trồng chính để phát triển ngành chăn nuôi. Năng suất ngô ở nước ta trước đây rất thấp so với năng suất ngô thế giới, do sử dụng giống ngô địa phương và áp dụng khoa học kỹ thuật vào 7 sản xuất còn hạn chế. Sản xuất ngô ở Việt Nam đã trải qua nhiều bước thăng trầm và đến nay đã đạt được những thành tựu lớn. Tình hình sản xuất ngô trên ở Việt Nam trong 5 năm gần đây được trình bày ở bảng 1.3: Tình hình sản xuất ngô tại Việt Nam giai đoạn 2010 - 2014 Diện tích Năng suất Sản lượng Năm (nghìn ha) (tạ/ha) (nghìn tấn) 2010 1.202,5 Nguồn:FAOSTAT,9/2016)[33] Trong 5 năm trở lại đây Việt Nam đã phát triển mạnh cây ngô trên cả 2 mặt năng suất và sản lượng.

Diện tích trồng ngô từ 1.126,4 nghìn ha (năm 2010), có chiều hướng tăng đến năm 2014 (1.178,5 nghìn ha), trong đó có khoảng 10% diện tích trồng ngô nếp, ngô ngọt và ngô rau. Năng suất ngô tăng dần qua các năm, từ 40,9 tạ/ha (năm 2010), đạt cao nhất năm 2013 (44,35 tạ/ha). Do diện tích và năng suất tăng nên sản lượng ngô tăng dần trong 5 năm gần đây, do nước ta đã chuyển đổi từ sản xuất quảng canh sang thâm canh, ứng dụng nhiều tiến bộ kỹ thuật và đưa giống mới vào sản xuất, đặc biệt là sử dụng các giống ngô lai năng suất cao, khả năng thích ứng rộng vào sản xuất đại trà. Tuy nhiên năng suất ngô của Việt Nam còn thấp so với năng suất trung bình của thế giới và những nước phát triển.

Điều này đặt ra cho ngành sản xuất ngô những thách thức và khó khăn to lớn, đặc biệt là trong xu thế hội nhập và phát triển như hiện nay. Đòi hỏi các nhà khoa học trong cả nước tiếp tục nghiên cứu tạo ra những giống ngô tốt và biện pháp kỹ thuật canh tác hiệu quả để năng cao năng suất, chất 8 lượng trong sản xuất ngô, góp phần vào sự phát triển của ngành nông nghiệp Việt Nam. Hiện nay sản xuất ngô ở nước ta đã từng bước phát triển nhưng vẫn còn thấp hơn so với sự phát triển chung của thế giới. Do sự khác biệt về điều kiện tự nhiên và trình độ thâm canh ngô giữa các vùng miền trong cả nước nên sản xuất ngô của nước ta có sự chênh lệch tương đối lớn giữa các vùng miền.Tình hình sản xuất ngô các vùng trong cả nước được thể hiện ở bảng 1.

Số liệu bảng 1.4 cho thấy vùng Trung du và miền núi phía Bắc có diện tích trồng ngô lớn nhất cả nước với 514,7 nghìn ha, chiếm 43,71% diện tích trồng ngô của cả nước, ngô được trồng chủ yếu trên nương rẫy có độ dốc lớn, phụ thuộc chủ yếu vào nước trời, khó thâm canh, việc áp dụng các kỹ thuật tiến bộ vào sản xuất còn hạn chế. Bên cạnh đó đây còn là vùng có điều kiện khí hậu khác nghiệt như hạn hán và rét kéo dài, lượng mưa phân bố không đều ở các vùng nên năng suất ngô trung bình thấp nhất trong cả nước (37,6 tạ/ha), chiếm 83,2% năng suất trung bình của cả nước. Tuy nhiên do diện tích lớn nên sản lượng ngô vùng này đứng thứ 2 trong cả nước (1.4: Tình hình sản xuất ngô của các vùng và cả nước năm 2014 Diện tích Năng suất Sản lượng Vùng (nghìn ha) (tạ/ha) (nghìn tấn) Đồng bằng Sông Hồng 88,7 47,2 418,9 Trung du và miền núi phía Bắc 514,7 36,7 1.891,0 Bắc Trung Bộ và Duyên Hải 207,9 41,1 861,0 Nam Trung Bộ Tây Nguyên 248,2 53,1 1.318,5 Đông Nam Bộ 80,0 59,5 475,7 Đồng bằng Sông Cửu Long 38,0 59,6 226,6 Nguồn: Tổng cục thống kê, năm 2016 [18] 9 1. Tình hình sản xuất ngô tại Sơn La Sơn La là một tỉnh miền núi cao thuộc phía Tây Bắc Việt Nam có tọa độ địa lý 20039’ vĩ độ Bắc và 105011’÷ 103002’ kinh độ Đông, phía Bắc giáp các tỉnh Yên Bái, Lào Cai về, Phú Thọ, Hòa Bình, phía Tây phía Đông giáp tỉnh Lai Châu, Điện Biên, phía Nam giáp tỉnh Thanh Hóa và có 250 km đường biên giới chung với nước CHDCND Lào.

Thành phố Sơn La cách thủ đô Hà Nội 300 km Do điều kiện khí hậu đất đai phù hợp với sinh trưởng, phát triển của cây ngô nên Sơn La là tỉnh có diện tích trồng ngô lớn nhất. Tình hình sản xuất ngô của tỉnh Sơn La trong 5 năm gần đây được trình bày ở bảng 1.5 Số liệu bảng 1.5 cho thấy diện tích trồng ngô của Sơn La tăng dần từ năm 2010 (132,7 nghìn ha), đạt cao nhất vào năm 2012 (168,74 nghìn ha), sau đó giảm nhẹ (2013 – 2014: 162,51 – 162,79 nghìn ha). Năng suất ngô tăng dần trong 5 năm gần đây, từ 31,45 tạ/ha (năm 2010) lên 40,4 tạ/ha (năm 2014), cao hơn năng suất trung bình của các tỉnh miền núi phía Bắc (37,6 tạ/ha). Do đó sản lượng ngô của Sơn La trong 3 năm gần đây đạt 592,92 – 667,4 nghìn tấn.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên cứu giống ngô lai chịu hạn và năng suất cao tại Sơn La" cung cấp cái nhìn sâu sắc về việc phát triển giống ngô lai có khả năng chịu hạn tốt, nhằm nâng cao năng suất cây trồng trong điều kiện khí hậu khắc nghiệt. Nghiên cứu này không chỉ giúp nông dân Sơn La cải thiện sản lượng nông nghiệp mà còn góp phần vào việc đảm bảo an ninh lương thực trong bối cảnh biến đổi khí hậu. Những lợi ích từ giống ngô lai này có thể mở ra cơ hội cho việc áp dụng các phương pháp canh tác bền vững hơn, từ đó nâng cao đời sống của người dân.

Để tìm hiểu thêm về các khía cạnh liên quan đến phát triển nông thôn và quản lý tài nguyên, bạn có thể tham khảo các tài liệu như Luận văn sự tham gia của người dân và các tổ chức xã hội trong xây dựng mô hình nông thôn mới ở xã Hải Đường, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định, nơi đề cập đến vai trò của cộng đồng trong phát triển nông thôn. Ngoài ra, Luận văn thạc sĩ chuyên ngành quản lý tài nguyên và môi trường tăng cường công tác quản lý rừng sản xuất trên địa bàn huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên cũng sẽ cung cấp thông tin hữu ích về quản lý tài nguyên thiên nhiên. Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về Luận văn một số giải pháp tiếp tục đẩy mạnh xây dựng nông thôn mới kiểu mẫu trên địa bàn thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh, để có cái nhìn tổng quát hơn về các giải pháp phát triển nông thôn. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức và hiểu rõ hơn về các vấn đề liên quan đến nông nghiệp và phát triển bền vững.