CHƯƠNG I. TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ CƠ SỞ KHOA HỌC 1. Tổng quan sản xuất ngô trên thế giới và ở Việt Nam 1. Tình hình sản xuất và sử dụng giống ngô trên thế giới Sản xuất ngô trên thế giới luôn được quan tâm và ngày càng phát triển nhờ vị trí vai trò quan trọng trong nền kinh tế.
Mặc dù trong những năm gần đây diện tích trồng ngô trên toàn cầu không tăng mạnh như cuối thế kỷ XX do diện tích canh tác có giới hạn nhưng sản lượng ngô trên thế giới vẫn liên tục tăng trưởng, nguyên nhân chính là do năng suất ngô ngày càng được cải thiện nhờ áp dụng các giống ngô lai và các biện pháp kỹ thuật canh tác tiên tiến vào sản xuất. Theo số liệu của Tổ chức Nông Lương Thế Giới (FAO), năm 2020 diện tích trồng ngô trên thế giới đạt 201,983 triệu ha và sản lượng đạt trên 1.162 triệu tấn, sản xuất ngô trở thành một trong những ngành hàng quan trọng của nền kinh tế thế giới với tổng lượng ngô xuất khẩu lên tới 192 triệu tấn năm 2020 [57]. Tình hình sản xuất ngô trên thế giới giai đoạn 2009-2020 Năm Diện tích (triệu ha) Sản lượng (triệu tấn) 2009 159 821 2010 165 852 2011 172 887 2012 180 876 2013 187 1.162 Nguồn: FAO, 2020 [57] Qua bảng 1.1 cho thấy rằng diện tích trồng ngô trên thế giới tăng nhanh qua các năm, trong năm 2009 diện tích trồng ngô là 159 triệu ha đến Tieu luan 7 năm 2020 là 201 triệu ha, sản lượng ngô tăng từ 821 triệu tấn năm 2009 lên 1. Tổ chức Nông Lương Thế Giới khuyến cáo, trong tương lai sản xuất lương thực sẽ cần phải tăng 75% mới có thể cung cấp đủ lương thực cho 9,7 tỷ người vào năm 2050.
Áp lực trong sản xuất nông nghiệp của thế giới về nhu cầu lúa mì, lúa nước và ngô tăng mạnh, FAO dự kiến sản lượng ngũ cốc cần toàn cầu trong năm 2021 cần khoảng 2,8 tỷ tấn (trong đó nhu cầu về ngô sẽ tăng lên 50-60%). Nhu cầu ngô tăng do dân số phát triển nhanh, thu nhập bình quân đầu người được cải thiện nên việc tiêu thụ thịt, cá, trứng, sữa tăng mạnh, dẫn đến lượng ngô dùng cho chăn nuôi tăng. Thách thức đặt ra là gần 90% sự gia tăng sản lượng ngô hàng năm tập trung ở các nước đang phát triển chủ yếu để làm nguyên liệu sản xuất thức ăn chăn nuôi, trong khi đó chỉ khoảng 10% sản lượng ngô từ các nước công nghiệp có thể xuất sang các nước này, nhu cầu tăng từ 55% từ năm 2005 - 2007 lên đến 68% năm 2050 [56]. Từ năm 1981 đến 2008, sản lượng ngô hàng năm trên toàn thế giới tăng từ 1,7–1,8%, tuy nhiên có sự khác biệt đáng kể giữa các khu vực [69].
Năng suất ngô trung bình của thế giới là 5,7 tấn/ha và sản lượng 1.148 triệu tấn trong niên vụ 2019 và tốc độ tăng năng suất ngô trung bình chỉ đạt gần 1,5%, trong khi nhu cầu sử dụng ngô hạt của thế giới trong thời gian tới cần khoảng 1,65 đến 1,98 tỷ tấn [57]. Việc cải thiện năng suất ngô có tầm quan trọng lớn đối với an ninh lương thực thế giới, đặc biệt là trong điều kiện biến đổi khí hậu toàn cầu và hạn hán nghiêm trọng thường xuyên xảy ra [94]. Các nhà khoa học CIMMYT dự báo từ năm 2011 đến 2050, nhu cầu về ngô ở các nước đang phát triển sẽ tăng gấp đôi và khi đến năm 2025 ngô sẽ trở thành cây trồng có nhu cầu sản xuất lớn nhất trên toàn cầu và đặc biệt ở các nước đang phát triển [31]. Như vậy, cây ngô có một vai trò quan trọng trong sản xuất nông nghiệp trên thế giới, phục vụ nhu cầu chăn nuôi, công nghiệp, lương thực Tieu luan 8 và xuất khẩu.
Vì vậy, công tác chọn tạo giống ngô lai phục vụ sản xuất phải liên tục được cập nhật, cải tiến để nâng cao năng suất, tăng sản lượng. Vấn đề này đòi hỏi phải sử dụng hiệu quả hơn các nguồn gen, cùng với sự hiểu biết sâu sắc và đánh giá toàn diện hơn về cơ sở di truyền của ngô trong các môi trường, ở những vùng trồng ngô cụ thể. Từ đó phát triển những giống ngô phù hợp với từng vùng sinh thái là yếu tố quyết định cho sản xuất nông nghiệp trong giai đoạn tới. Tình hình sản xuất và sử dụng giống ngô ở Việt Nam Cùng với sự phát triển ngô trên toàn thế giới, năng suất ngô tại Việt Nam cũng thay đổi liên tục với mức độ khác nhau trong những năm qua.
Ở Việt Nam ngô đã được trồng khá lâu đời và nó trở thành cây lương thực quan trọng đứng thứ hai sau cây lúa và là cây màu số một về năng suất. Trong khoảng 20 năm từ 1961 – 1980, năng suất ngô Việt Nam gần như không tăng, năng suất năm 1961 đạt 11,2 tạ/ha với diện tích khoảng 260,2 nghìn ha và sản lượng là 292,2 nghìn tấn, tới năm 1980 năng suất chỉ đạt 11,0 tạ/ha trên tổng diện tích 389,6 nghìn ha và sản lượng là 428,8 nghìn tấn [57]. Năng suất trong giai đoạn này gần như là không tăng là do chúng ta vẫn sử dụng các ngô địa phương với kỹ thuật canh tác lạc hậu. Từ năm 1980 - 1990 diện tích ngô tăng chậm từ 389,6 - 431,8 nghìn ha, nhưng năng suất tăng đến 15,5 tạ/ha (năm 1990) nhờ có sự hợp tác cùng với Trung tâm Cải tạo Ngô và Lúa mì quốc tế (CIMMYT), nhiều giống ngô thụ phấn tự do được cải tiến đưa vào trồng ở nước ta góp phần đưa năng suất ngô Việt Nam tăng lên.
Từ 1990 đến nay, sản xuất ngô Việt Nam có những bước tiến vượt bậc về diện tích, năng suất và sản lượng, nhờ việc nghiên cứu chọn tạo, sử dụng giống ngô lai cho sản xuất, cùng với đó là việc áp dụng các kỹ thuật canh tác hiện đại, phù hợp với yêu cầu của các giống mới. Tieu luan 9 Bảng 1. Diện tích, năng suất và sản lượng ngô của Việt Nam giai đoạn 1990-2020 Năng suất Năng suất ngô Diện tích Tỷ lệ trung bình Sản lượng Năm (nghìn giống lai (Ta/ha)* % ngô (nghìn tấn) ha) Tạ/ha (%) thế giới Thế giới 1980 389,6 11,0 34,92 428,8 0,0 31,5 1990 431,8 15,5 42,12 671,0 0,0 36,8 2000 730,2 27,5 63,66 2.590,0 >95 56,4 Nguồn: Tổng cục Thống kê (2020) [8]; FAO (2020) [57] Số liệu bảng 1.2 cho thấy, năm 1990 diện tích sử dụng giống ngô lai là 0% trong tổng số hơn 431,8 nghìn ha, năm 2000 giống ngô lai đã chiếm đến 60% trên diện tích 730,2 nghìn ha và từ năm 2014 đến nay giống ngô lai đã chiếm hơn 95% trong tổng số 1.179 nghìn ha diện tích. Trong khoảng 40 năm qua, năng suất ngô Việt Nam đã tăng nhanh liên tục so với trung bình thế giới.
Nếu như năm 1980, năng suất ngô Việt Nam chỉ bằng gần 35% so với năng suất trung bình thế giới (11/31,5), năm 1990 bằng 42% (15,5/36,8), năm 2000 bằng 63% (27,4/43,2) và năm 2020 đã đạt 85% (48,3/56,4). Năm 2000, sản lượng ngô Việt Nam vượt qua ngưỡng 2 triệu tấn, năm 2010 vượt ngưỡng 4 triệu tấn và năm 2014 sản lượng vượt qua ngưỡng 5 triệu tấn với diện tích hơn 1 triệu ha và năng suất trung bình đạt 44,1 tạ/ha. Tieu luan 10 Mặc dù sản lượng ngô ở nước ta tăng khá nhanh, song nhu cầu nguyên liệu để chế biến thức ăn chăn nuôi tăng với tốc độ cao hơn nên nước ta từ một nước xuất khẩu ngô (250 nghìn tấn năm 1996) đã trở thành nước nhập khẩu ngô kể từ năm 2005 nhập 300 nghìn tấn. Theo số liệu của Bộ Nông nghiệp và PTNT, năm 2013 Việt Nam nhập khẩu tổng cộng 2,26 triệu tấn ngô hạt với kim ngạch đạt 690 triệu USD, tăng 9,7% về lượng và 38% về giá trị so với năm 2012.
Năm 2020, nhập khẩu khô của Việt Nam chính thức vượt qua mốc 12 triệu tấn và con số này được kỳ vọng có thể đạt mức 14 triệu tấn trong cả năm 2021. Lượng nhập khẩu ngô của Việt Nam qua từ 2015 -2020 Việt Nam được dự báo sẽ trở thành quốc gia nhập khẩu ngô lớn nhất khu vực Đông Nam Á và lớn thứ năm thế giới trong niên vụ 2021 [101]. Hoạt động gia tăng mạnh nhập khẩu ngô thường gắn với sự tăng lên về tiêu thụ các sản phẩm chứa protein có nguồn gốc từ động vật như thịt lợn, thịt bò và thịt gia cầm. Ngô là nguyên liệu quan trọng, chiếm tỷ trọng cao nhất trong phối trộn, sản xuất thức ăn chăn nuôi gia súc.
Trong những năm gần đây, tăng trưởng quy mô ngành chăn nuôi của Việt Nam ở mức 5% - 6%/năm. Ngành sản xuất thức ăn chăn nuôi của Việt Nam luôn được mở Tieu luan 11 rộng và phát triển ấn tượng với mức tăng trưởng trung bình đạt 13- 15%/năm, kéo theo đó là nhu cầu tăng cao đối với nguồn ngô nguyên liệu. Tuy nhiên, sản lượng và diện tích trồng ngô của Việt Nam lại có xu hướng sụt giảm sâu kể từ năm 2015 đến nay khiến nguồn cung ngô nội địa chỉ có thể đạt tối đa 4,5 – 5 triệu tấn ngô hạt. Nguyên nhân do giá ngô nhập khẩu có mức giá tương đối rẻ hơn giá ngô nội địa khiến người nông dân có xu hướng thu hẹp diện tích canh tác, chuyển đổi sang các loại cây trồng khác.
Đồng thời, do năng suất của các giống ngô lai ở Việt Nam còn thấp so với năng suất trung bình của thế giới, đặc biệt là năng suất của các nước phát triển. Một trong những nguyên nhân chính làm giảm năng suất ngô ở Việt Nam là do ngô chủ yếu được trồng trên đất dốc (> 60% diện tích). Sản xuất ở những vùng này phụ thuộc chủ yếu vào nước trời, trong đó hạn hán là yếu tố chính làm giảm năng suất ngô. Theo tác giả Feiyun Zhao và cộng sự (2016), năng suất ngô trồng ở các vùng thường xuyên phải chịu nắng nóng và hạn hán, mỗi năm có thể làm giảm năng suất 30% [68], [115].
Số liệu Tổng cục thống kê cho thấy giai đoạn 1980 – 1990 có tới 10 vụ Đông - Xuân gieo trồng gặp hạn. Đặc biệt vào thời kỳ 1997 - 1998 có tới 56.000 ha bị hạn và 1.500 ha bị mất trắng. Theo Nguyễn Đình Ninh (Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn, 2007) từ năm 1960 đến 2006 có tới 34/46 năm bị hạn. Như vậy, bên cạnh những khó khăn về sản xuất, thị trường thì những tác động của biến đổi khí hậu cũng đang đe dọa tiến bộ về sản xuất, đặc biệt ở các vùng sản xuất ngô nhờ nước trời.