MỞ ĐẦU Dân số thế giới tăng nhanh cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế toàn cầu. Điều đó đòi hỏi lượng hàng hoá phải sản xuất nhiều để đáp ứng yêu cầu tiêu dùng. Vì vậy, việc khai thác khoáng sản ngày càng được đẩy mạnh. Khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên là một trong những nhân tố để thúc đẩy nền kinh tế quốc dân của mỗi quốc gia trên thế giới.
Nước ta là một trong những nước có trữ lượng tài nguyên khoáng sản vào loại lớn và đa dạng trên thế giới. Tuy nhiên lượng khoáng sản này lại nằm rải rác trong các khu vực với trữ lượng nhỏ nên không kinh tế trong việc khai thác. Đồng thời, việc khai thác khoáng sản đã và đang để lại những hệ lụy về môi trường, một phần lý do là do quy mô khai thác nhỏ khiến cho việc đầu tư công nghệ không lớn, dẫn đến hiệu suất khai thác thấp mà môi trường bị ảnh hưởng nặng nề. Bên cạnh việc đổ thải ra một lượng chất rắn khổng lồ thì vấn đề ô nhiễm bởi các kim loại nặng và các tác nhân hoá học là một vấn đề hết sức nghiêm trọng hiện nay.
Trong tự nhiên có khoảng hơn 70 kim loại nặng, đó là các kim loại có tỉ khối lớn hơn 5 gam/cm3. Kim loại nặng có hầu hết trong các mỏ khoáng sản với hàm lượng khác nhau, tuỳ thuộc vào từng loại khoáng sản và từng vùng địa chất khác nhau. Trong các kim loại nặng thì chỉ có một số nguyên tố là cần thiết cho các sinh vật ở một ngưỡng nào đấy, chúng là các nguyên tố vi lượng như: Cu, Zn, Mn, Mo….Đa số các kim loại nặng với đặc tính bền vững trong môi trường, khả năng gây độc ở liều lượng thấp và tích luỹ lâu dài trong chuỗi thức ăn, được thế giới xem là một chất thải nguy hại. Tuy nhiên khả năng gây độc của các kim loại nặng hoàn toàn phụ thuộc vào trạng thái tồn tại của chúng.
Trong hoạt động khai thác khoáng sản, con người đã làm biến đổi trạng thái tồn tại của các kim loại nặng, chuyển chúng thành các dạng ion tự do đi vào môi trường nước hoặc các hạt bụi có kích thước nhỏ bé trong không khí đã và đang làm suy giảm chất lượng môi trường. Do năng lực có hạn, khai thác phần lớn là thủ công, nên đa số các mỏ hiện nay chỉ lấy được phần quặng giàu nhất, bỏ đi toàn bộ các phần quặng nghèo và 1 z khoáng sản đi cùng, dẫn đến không tận thu. Như vậy, thiệt hại về kinh tế là đáng kể. Nhưng lo ngại hơn, với quặng nghèo không được tận thu, theo thời gian nó sẽ ảnh hưởng xấu đến môi trường xung quanh, ảnh hưởng đến sức khoẻ của con người và động thực vật.
Với những lý do đó, chúng tôi lựa chọn đề tài “Nghiên cứu khả năng giải phóng kim loại nặng từ các bãi thải, đuôi quặng nghèo đồng sulfua”. Đặc điểm chung Hiện nay, số lượng các khoáng vật sulfua và các hợp chất tương tự được tìm thấy lên tới 350. Theo tính toán của Vernadsky, chúng chiếm 0,15% trọng lượng toàn bộ vỏ Trái đất. Các kim loại đặc trưng trong sulfua là Fe, Cu, Pb, Zn, Sb, Ag, Bi, Co, Ni, trong đó Fe đóng vai trò quan trọng.
Một số kim loại trong sulfua có số phối trí 6, như Fe trong khoáng vật pyrotin Fe1-nS; có số phối trí 3 như Pb trong galenit PbS; Hg, Cu, Ag có số phối trí 4, đôi khi có số phối trí 2, trong trường hợp này sẽ tạo nên mạch xoắn; còn As, Sb, Bi có số phối trí 3. Trong những sulfua tồn tại liên kết cộng hoá trị - phân tử, các nguyên tố thường có cùng số phối trí, ví dụ trong realgar (As4S4) Sulfua có thể là những hợp chất đơn giản, nhưng các sulfua đơn giản có thể tạo thành hợp chất kép; hoặc những hợp chất chứa nhiều nguyên tố khác nhau gọi là sulfo – muối. Sulfua kép Sulfo – muối Covelin Cu2S.CuS2 Pyrargyrit Ag3SbS3 Chalcopyrit Cu2S.Fe2S3 Burnonit PbCuSbS3 Trong một số sulfua, lưu huỳnh bị mất đi khi nung nóng, như pyrit (FeS2), arsenopyrit (FeAsS). Vernadsky coi chúng là các hợp chất của H2S2.
Đa số khoáng vật sulfua đều kết tinh ở các hệ tinh thể hạng cao, trừ một số khoáng vật và sulfo – muối kết tinh ở các hệ tinh thể hạng thấp. Khoáng vật sulfua thường có dạng tinh thể đẹp, đặc biệt là sulfua và disulfua – (sulfua sắt, niken, coban, kẽm, chì). Các loại sulfo - muối và sulfua của nguyên tố bán kim loại thường có dạng tập hợp hạt, sợi, vảy. Đối với sulfua thường gặp các loại song tinh đa hợp, liên tinh song song, liên tinh của các khoáng vật khác nhau – liên tinh của pyrit – marcasit, tetrahedrit – sphalerit, tetrahedrit – chalcopyrit.
3 z Hầu hết khoáng vật sulfua có màu và đó là đặc điểm để xác định khoáng vật. Các sulfua coban, niken (ít Fe) có màu trắng bạc hoặc xám trắng. Sulfua sắt (ít Cu) có màu vàng. Sulfua bạc, chì có màu xám chì.
Sulfua thuỷ ngân có màu đỏ đặc trưng. Trong thành phần khoáng vật sulfua nếu có Cu2+ thì có màu xanh, tím đỏ… Khoáng vật sulfua thường không trong suốt. Nhưng khoáng vật trong suốt chiếm lượng không đáng kể, như sphelarit, cinabar, realgar, auripigment… Đa số khoáng vật sulfua với mối liên kết cộng hoá trị – kim loại có ánh kim, tính dẫn điện cao, có tính bán dẫn. Sulfua có cấu trúc lớp, cấu trúc dải có độ cứng thấp từ 1 – 2,5.
Sulfua đơn với cấu trúc phối trí có độ cứng trung bình từ 2 – 4. Còn disulfua và hợp chất tương tự có độ cứng từ 6 – 6,5. Sulfua đơn với mối liên kết cộng hoá trị, cấu trúc phối trí (sphalerit), cấu trúc mạch (cinabar), mối liên kết phân tử, cấu trúc lớp (auripigment), mối liên kết phân tử, cấu trúc đảo (realgar) và cấu trúc đảo (proustit) có ánh kim cương, bán trong suốt, có màu rực rỡ, tính giòn cao, độ cứng từ thấp đến trung bình. Đa số khoáng vật có tỉ trọng cao (tới 8,5), trừ sulfua của arsen.
Sulfua chủ yếu có nguồn gốc nhiệt dịch. Điều này chứng tỏ các kim loại nặng được di chuyển dưới dạng các chất bốc. Khi nhiệt độ và áp suất hạ thấp thì chúng tạo nên nhiệt dịch từ đó kết tinh sulfua. Thực nghiệm đã chứng minh các kim loại nặng di chuyển dưới dạng hợp chất phức tạp với Cl, F, Br… Ngoài ra, sulfua còn được thành tạo trong quá trình magma, đôi khi trong điều kiện ngoại sinh, trong đới làm giàu sulfua thứ sinh và trong trầm tích.
Sulfua còn có mặt trong thiên thạch và đá Mặt Trăng. Trong điều kiện trên mặt đất sulfua và các hợp chất tương tự của chúng không bền vững và dễ bị phá huỷ. Trong quá trình oxi hoá, chủ yếu chuyển thành sulfat dễ hoà tan. Từ đó, tạo thành nên một loạt khoáng vật thứ sinh: oxit, cacbonat, sulfat, arsenat, silicat và các kim loại tự sinh.
Hướng chung của quá trình phong hoá khoáng vật sulfua là dẫn tới giải phóng lưu huỳnh. Do đó, trong các mỏ sulfua thấy có sự phân đới rõ ràng. Bắt đầu từ đới oxi hoá: RS + 2O2 → RSO4 R – kim loại 4 z Ở phần dưới đới oxi hoá, do H2SO4 và một số muối hoà tan tác dụng với đá vây quanh, tạo nên một loạt khoáng vật mới và kim loại tự sinh. Phổ biến hơn cả là các phản ứng sau: 1.
2CuSO4 + 2CaCO3 + 5H2O → Cu2(OH)2[CO3] + 2Ca[SO4]2H2O + CO2 Malachit Thạch cao 2. CuSO4 + 2FeSO4 → Fe2(SO4)3 + Cu 3. ZnSO4 + CaCO3 + 2H2O → Zn[CO3] + Ca[SO4]2H2O Smisthonit Thạch cao 4. Ag2SO4 + 2FeSO4 → Fe2(SO4)3 + 2Ag Các dung dịch H2SO4 và RSO4 thấm sâu xuống đến đới quặng nguyên sinh (thấp hơn mực nước ngầm), ở đây sẽ xuất hiện H2S, và chúng sẽ tác dụng với quặng nguyên sinh để tạo sulfua thứ sinh.
Phản ứng chung của quá trình thành tạo sulfua thứ sinh có thể viết như sau: MSO4 + RS → RSO4 + MS (R, M là kim loại) Phản ứng tạo thành một số sulfua thứ sinh 14CuSO4 + 5FeS2 + 12H2O → 12H2SO4 + 5FeSO4 + 7Cu2S Chalcosin CuSO4 + H2S → H2SO4 + CuS (Covenlin) Ag2SO4 + Cu2S → Cu2SO4 + Ag2S (Argentit) Do đó ở mỏ sulfua, tại ranh giới với quặng nguyên sinh có một đới làm giàu quặng bởi hàm lượng lớn các kim loại và sulfua thứ sinh, đới này có giá trị lớn. Một số nguyên tố như Ag, Cu tập trung trong đới làm giàu quặng nhiều hơn trong đới quặng nguyên sinh. Một số quặng đồng sulfua 1. Chalcosin Chalcosin có hàm lượng Cu 79,8%.
Trong thành phần thường có tạp chất Ag và Fe. Biến thể nhiệt độ thấp có xếp cầu sáu phương biến dạng của S, nguyên tử Cu và số phối trí 2. Biến thể nhiệt độ cao của chalcosin có cấu trúc gần với cấu trúc ngược của flourit (Benlov, Grigoriew, 1948) và đặc trưng bởi sự thiếu hụt Cu. 5 z Thành phần của chúng tương ứng với công thức Cu2-nS, có tên gọi là digenit (một phần Cu+ được thay thế bởi Cu2+) Chalcosin có tính dẻo, dẫn điện tốt, độ cứng và độ dẻo thấp.
Chalcosin thành tạo trong đới làm giàu quặng thứ sinh của mỏ đồng. Đôi khi chalcosin được thành tạo trong qúa trình nhiệt dịch, cộng sinh với bornit – Cu5FeS4, quặng đồng xám, covelin, chalcopyrit và một số sulfua khác. Trong quá trình oxi hoá chalcosin bị biến thành malachit Cu2[CO3](OH)2, cuprit Cu2O, đồng tự sinh và khoáng vật khác. Ở Việt Nam, chalcosin có ở mỏ đồng Bản Xang, Bản Phúc, gần Tạ Khoa (Sơn La), mỏ Sinh Quyền (Lào Cai).
Chalcopyrit CuFeS2 Chalcopyrit có hàm lượng Cu – 34,6%. Chalcopyrit thường chứa tạp chất đồng hình Au, Ag. Cấu trúc gần giống với cấu trúc của sphalerit, trong đó ô mạng cơ sở gấp đôi lên và vị trí Zn được thay thế bằng Cu, Fe. Trong biến thể lập phương talnakhit, sự phân bố Fe và Cu không trật tự.
Chalcopyrit có màu vàng đồng thau, có vết vạch đen hoặc đen xanh, ánh kim. Chalcopyrit thường có màu sặc sỡ do bị oxi hoá, chalcopyrit khác pyrit về màu sắc và độ cứng thấp. Chalcopyrit có nguồn gốc magma, trong đá mafic, cộng sinh với pyrotin, pentlandit. Trong skarn, chalcopyrit cộng sinh với pyrit, pyrotin, sulfua chì, kẽm, đồng.
Ngoài ra chalcopyrit còn có trong các thành tạo ngoại sinh, trong đá trầm tích. Trong đới oxi hoá, chalcopyrit bị biến đổi, tạo nên đồng tự sinh, chalcosin, covelin, cuprit, malachit, azurit, crysocola. Chalcopyrit có mặt ở Bản Xang, Bản Phúc (Sơn La), mỏ đồng Sinh Quyền (Lào Cai) gần Tạ Khoa. Chalcopyrit là quặng đồng quan trọng.
Cùng với Cu còn có Ag, In và một số nguyên tố khác.