Chương 1. Cơ sở lý luận về thương hiệu thương hiệu làm bố cục. Nó thường được dùng chữ tắt hoặc các ký hiệu, hình ảnh được cấu trúc một cách nghiêm ngặt, tạo thành một bố cục mang tính tượng trưng cao. Khẩu hiệu (Slogan): slogan trong kinh doanh được hiểu là một thông điệp truyền tải ngắn gọn nhất đến khách hang bằng từ ngữ dễ nhớ, dé hiểu, có sức hút cao về ý nghĩa, âm thanh.
Slogan là sự cam kết về mặt giá trị, chất lượng, sản phẩm của thương hiệu với khách hàng. Dé hình thành một slogan cho công ty, cho thương hiệu nào đó không phải chuyện một sớm một chiều mà đòi hỏi phải có một quy trình chọn lựa, thấu hiểu sản phẩm, các lợi thế cạnh tranh, phân khúc thị trường, mức độ truyền tải thông điệp khi đã chọn khâu hiệu đó dé định vị trong tâm trí của khách hang bat cứ lúc nao. Khẩu hiệu được xem như một tài sản vô hình của công ty dù răng nó chỉ là một câu nói. Hệ thống nhận dạng thương hiệu: ngoài việc nhận biết được thương hiệu thông qua các phương tiện truyền thông, một thương hiệu còn có thé được nhận biết thông qua các yêu tố ứng dụng sau: - Đồ dùng văn phòng: tất cả các đồ dùng văn phòng như giấy viết thư, phong bì, công văn, danh thiếp, cặp tài liệu.
đều cần thống nhất về bố cục, màu sắc, tỷ lệ các tổ hợp hình và chữ. - Ngoại cảnh của doanh nghiệp: bao gồm biểu hiện, pano, cặp quảng cáo, biéu ngữ, các tín hiệu trên đường di,. trong hệ thống thiết kế thị giác của doanh nghiệp. - Bên trong doanh nghiệp: cách thiết kế các bảng hiệu, các thiết bị, nội ngoại thất của phòng ốc, thiết kế ánh sáng.
- Phương tiện giao thông: cách thiết kế phổ biến nhất là sử dụng biểu trưng, chữ và màu làm hình thức trang trí nên các phương tiện giao thông nhằm mục đích tuyên truyền lưu động. - Chứng chỉ dịch vụ: huy chương, cờ thẻ, trang phục của nhân viên. - Các hình thức tuyên truyền trực tiếp: gồm thiết kế thư mời, tặng phẩm, vật kỉ niệm, bài giới thiệu danh mục sản phẩm, tạp chí, bao bì, nhãn hiệu, các hình thức trưng bày giới thiệu sản phẩm, quảng cáo trên báo chí và truyền hình.4 Mô hình nghiên cứu 1.1 Những nghiên cứu liên quan Hoàng Thị Ngọc Ảnh 2015. Đánh giả mức độ nhận biết thương hiệu trà rau ma Quảng Thọ của hợp tác xã nông nghiệp Quảng Thọ II trên địa bàn Thừa Thiên Huế.
Khóa luận tốt nghiệp, trường Đại học Kinh tế Huế. Trong đề tài nghiên cứu này, tác giả tập trung nghiên cứu về mức độ nhận biết thương hiệu trà rau má Quảng Thọ của khách hàng trên địa bàn thành phố Huế. Các yếu tố giúp khách hàng nhận biết được thương hiệu trong nghiên cứu nay là: tên gọi, Nguyễn Thị Lan Anh — DI7CQTT02-B 20 Khóa luận tốt nghiệp đại học Chương 1. Cơ sở lý luận về thương hiệu màu sắc, logo, quảng cáo, bao bì, mùi vi.
Đối chiếu với nghiên cứu về mức độ nhận biết thương hiệu BAEMIN thì các yếu tố như: tên gọi, mau sắc, logo, quảng cáo có thé áp dụng vào mô hình nghiên cứu này. Huỳnh Thị Thanh Tâm 2020. Đánh giá mức độ nhận biết của khách hàng đối với thương hiệu đông phục Bici tại thành phố Đà Nẵng. Khóa luận tốt nghiệp, tường Dai học Kinh tế Huế.
Đề tài này chỉ ra các yếu tố giúp khách hàng nhận biết được thương hiệu sau khi nghiên cứu là: tên thương hiệu, logo, đồng phục nhân viên, giá cả, sản phẩm, quảng cáo thương hiệu. Đối chiếu với nghiên cứu về mức độ nhận biết thương hiệu BAEMIN thì các yếu té như: tên thương hiệu, logo, đồng phục nhân viên, slogan, quảng cáo thương hiệu có thé áp dụng vào mô hình nghiên cứu này. Nghiên cứu, tham khảo trong đề tài của một nhóm trường đại học kinh tế Huế thực hiện: Danh giá về mức độ nhận thức thương hiệu Beeline của sinh viên khóa 45 trường đại học kinh tê Hué, 2011. Đề tài tập trung nghiên cứu về mức độ nhận biết của thương hiệu đối với sinh viên, dựa trên những yếu tố liên quan đến quá trình nhận thức dé phân tích.
Sau quá trình nghiên cứu và phân tích dữ liệu qua phương pháp phân tích nhân tố khám pha EFA thì mô hình nghiên cứu trong dé tài này bao gồm những yếu tố: tính đôi mới sản phẩm dịch vụ, sản phẩm dịch vụ nha mạng cung ứng, thái độ của nhân viên, chat lượng mạng viễn thông, hình anh logo, cảm nhận sản phẩm dich vu, xúc tiễn thương hiệu. Đối chiếu với nghiên cứu về mức độ nhận biết thương hiệu BAEMIN thì yếu tố nhận biết thương hiệu như: hình ảnh logo, cảm nhận sản phẩm dịch vụ, thái độ nhân viên (tài xế) có thê áp dụng vào mô hình nghiên cứu.2 Mô hình nghiên cứu chính thức Dựa trên cơ sở lý thuyết Quản trị thương hiệu hàng hóa lý thuyết và thực tiễn của Trương Đình Chiến (2005) [5] về các yếu tố nhận biết thương hiệu và hệ thống nhận diện thương hiệu như đã trình bày ở trên, áp dụng đối với tình hình thực tế của thương hiệu Baemin, tác giả đề xuất mô hình dự kiến bao gồm các yếu tô sau: “Kênh truyền thông dễ nhận biết thương hiệu” và “mức độ nhận biết các thành phần thương hiệu”. Trong đó, tác giả dự kiến các kênh truyền thông dé nhận biết thương hiệu bao gồm: truyền hình, báo chi; internet; truyền miệng; băng rôn, poster, biển hiệu, pano. Còn mức độ nhận biết thương hiệu dự kiến gồm các thành phan: tén thương hiệu, hình ảnh logo, màu sắc thương hiệu, quảng cáo thương hiệu, dong phục thương hiệu, slogan thương hiệu.
Thông qua hình thức gọi điện trực tiếp, tiến hành phỏng vấn sâu 5 sinh viên tại PTIT đã từng sử dụng ứng dụng giao đồ ăn trực tuyến BAEMIN theo dạng câu hỏi mở được chuẩn bị trước (bảng hỏi định tính) dựa trên tài liệu thứ cấp và theo mô hình nghiên cứu dự kiến dé xác định các yếu tô nhận biết thương hiệu đặc trưng nhất. Nguyễn Thị Lan Anh — DI7CQTT02-B 21 Khóa luận tốt nghiệp đại học Chương 1. Cơ sở lý luận về thương hiệu Kết quả: Sau khi tiến hành nghiên cứu định tính thì các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ nhận biết thương hiệu dự kiến ban đầu sẽ bỏ đi thành phần “dong phục thương hiệu ”, “slogan thương hiệu ”.Theo nhận định của 5 sinh viên thì yếu tổ “slogan thương hiệu” không ảnh hưởng đến việc họ biết đến thương hiệu BAEMIN. Đồng thời cả 5 người đều cho răng cần loại bỏ đồng phục thương hiệu bởi chủ yêu mọi người nhận biết được đồng phục thương hiệu thông qua yếu tố “màu sắc thương hiệu ”.
Về kênh truyền thông dễ nhận biết, có 4/5 sinh viên đồng ý với các kênh truyền thông như: “trwyén hình, báo chí; internet; truyén miệng; băng rôn, poster, biển hiệu, pano” và chỉ có duy nhất một sinh viên đề xuất loại bỏ kênh “truyén miệng” với ly do đây không phải là kênh “truyén miệng” giúp người phỏng van dễ nhận biết. Về cơ bản, sau khi tác giả tiễn hành phân tích các câu trả lời của 5 sinh viên, và đưa ra mô hình nghiên cứu chính thức. Sau đó tiễn hành trao đổi lại với 5 sinh viên và nhận được ý kiến “đồng ý” với mô hình dưới đây.2: Mô hình nghiên cứu Đo lường mức độ nhận biết thương hiệu TỶ — —m—, Kênh truyền thông dễ nhận biết Do lường mức độ nhận biết thương hiệu Truyền hình, báo chí Tên thương hiệu Internet Hinh anh logo — Truyền miệng Manu sắc thương hiệu a Băng rôn, poster, bién hiệu, Quang cao thương hiệu pano Trong mô hình nghiên cứu chính thức, việc đo lường mức độ nhận biết thương hiệu được thực hiện các yếu tố sau: Về kênh truyền thông dễ nhận biết thương hiệu, lựa chọn 4 kênh là “7ituyên hình, bao chi; Internet; Tiruyen miệng; Băng ron, poster, biển hiệu, pano”, về đo lường mức độ nhận biết thông qua các yếu tố là “tén thuong hiệu, hình ảnh logo, màu sắc thương hiệu, quảng cáo thương hiệu ”. Nguyễn Thị Lan Anh — DI7CQTT02-B 22 Khóa luận tốt nghiệp đại học Chương 2.
Thực trạng mức độ nhận biết của sinh viên PTIT về thương hiệu BAEMIN CHƯƠNG2: THỰC TRẠNG MỨC ĐỘ NHANBIET CUA SINH VIÊN PTIT VE THƯƠNG HIỆU BAEMIN 2.1 Tổng quan về thương hiệu BAEMIN BAEMIN tại thị trường Hàn Quốc BAEMIN là ứng dụng đặt đồ ăn hàng dau tại Hàn Quốc, được vận hang bởi tập đoàn Woona Brother Corp có trụ sợ chính tại Soul. Vào năm 2010, Woowa Brothers chính thức cho ra mắt ứng dụng “Bae-dal-e-min-jok” (viết tắt là BAEMIN) với tam nhìn “Sv dung sức mạnh của Công nghệ thông tin dé phát triển ngành Công nghiệp giao hàng ”. Sự ra đời của Baemin đã đem đến trải nghiệm mới cho ngành giao nhận đồ ăn trực tuyến, biến nó trở thành hoạt động tương tác hai chiều giữa người tiêu dùng và cửa hàng cung cấp. Có thé nói BAEMIN tại thị trường Hàn Quốc là một trong những thương hiệu đi đầu trong lĩnh vực giao đồ ăn trực tuyến.
Vào năm 2020, nền tảng giao đồ ăn Beadal Minjok của Woowa Brothers đang dẫn đầu thị trường Hàn Quốc, chiếm hơn 50% thị phần trong nước, mặc dù phải cạnh tranh với hơn 40 đối thủ tại xứ kim chi. Sau khi gia nhập nhóm “ky lân” thế giới khi ^ nhận đã đưa mức định giá của công ty lên đến 2,6 tỉ USD [24]. BAEMIN tại thị trường Việt Nam Cuối năm 2018, tập đoàn Woona Brother đã tuyên bố kế hoạch ra mắt tại thị trường Việt Nam trong nửa đầu năm 2019. Ngày 10/6/2019, công ty chính thức thâu tóm thành công ứng dụng đặt đồ ăn trực tuyến Vietnammm.com thuộc tập đoàn Takeaway dé gia nhập thị trường Việt Nam.
Ứng dụng giao đồ ăn trực tuyến Vietnamm.com là một một trong những dịch vụ tiên phong ở thị trường giao món ăn trực tuyến Việt Nam tuy nhiên do thị trường ngày cảng cạnh tranh với sự xuất hiện của các thương hiệu đến sau đã chi phối thị trường như Now, GrabFood dẫn đến Vietnamm.com không còn chỗ đứng trong thị trường. Nhờ đó, BAEMIN đã chính thức mua lại được nền tảng ứng dụng này và gia nhập vào thị trường Việt Nam. Mô hình kinh doanh của BAEMIN Mô hình hiện tại của Baemin tại Việt Nam hoàn toàn được lay nén tang từ ứng dụng “Bae-dal-e-min-jok” tại Hàn Quốc. Nhìn chung, BAEMIN cũng tương tự như các ứng dụng giao đồ ăn trực tuyến khác như Now hay GoFood, tính năng chính đều là đặt đồ ăn trực tuyến bằng app trên thiết bị đi động.
Với vai trò là trung gian giữa người mua và người bán.