Luận án tiến sĩ nghiên cứu sự gắn kết của người lao động với doanh nghiệp kinh doanh lưu trú ăn uống vùng duyên hải nam trung bộ

Luận án tiến sĩ nghiên cứu nghiên cứu sự gắn kết của người lao động với doanh nghiệp kinh doanh lưu trú ăn uống vùng duyên hải, phân tích chuyên sâu, xây dựng mô hình lý thuyết,

Trường đại học

Đại học Huế

Chuyên ngành

Quản trị kinh doanh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2019

270
2
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

1. MỤC LỤC

2. DANH MỤC BẢNG

3. DANH MỤC HÌNH

4. PHẦN I: TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

4.1. Các doanh nghiệp Việt Nam đang đứng trong kỷ nguyên của sự đổi mới – kỷ nguyên của cuộc cách mạng công nghiệp 4

4.2. Đặc trưng của cách mạng công nghiệp 4.0 là sự hợp nhất các loại công nghệ làm xóa nhòa ranh giới giữa lĩnh vực vật lý, kỹ thuật số và sinh học với trung tâm là phát triển trí tuệ nhân tạo, robot hóa, Internet vạn vật, khoa học vật liệu, sinh học, công nghệ di động không dây liên ngành sâu rộng cho tự động hóa sản xuất chế tạo

4.3. Tốc độ của những đột phá hiện chưa hề có tiền lệ trong lịch sử và đang phá vỡ hầu hết mọi ngành công nghiệp ở mọi quốc gia cả bề rộng lẫn chiều sâu

4.4. Những đột phá báo trước sự chuyển đổi toàn bộ hệ thống sản xuất, quản lý và quản trị của xã hội loài người

4.5. Do đó, vị thế doanh nghiệp vẫn rất quan trọng nhưng giờ đây không còn quan trọng như trước

4.6. Cạnh tranh ngày càng gay gắt trước sự chọn lọc tự nhiên

4.7. Sự hội nhập kinh tế đã xóa dần thị trường bảo hộ, theo đó việc dỡ bỏ điều tiết đã phá vỡ cơ chế độc quyền

4.8. Những khách hàng trở nên kém trung thành hơn bao giờ hết

4.9. Những công cụ tìm kiếm trực tuyến đã tạo ra một tầng khách hàng được cập nhật thông tin hoàn hảo hơn

4.10. Trong bối cảnh đó đòi hỏi các doanh nghiệp phải liên tục cập nhật, đổi mới phương thức hoạt động và cách thức quản lý, đặc biệt là quản lý nguồn nhân lực

4.11. Doanh nghiệp cần hơn những lao động có năng lực tiếp cận và sử dụng công nghệ mới trong việc nhận diện cơ hội, định hướng chiến lược và thực thi công việc

4.12. Những người lao động có năng lực thật sự yêu mến và nhiệt tình trong công việc, tin tưởng vào sự phát triển của doanh nghiệp và sẵn sàng nỗ lực hết mình dù doanh nghiệp đang hưng thịnh hay khó khăn là điều hết sức quan trọng

4.13. Sự gắn kết của người lao động với doanh nghiệp (Employee Engagement) được thể hiện ở cảm xúc tích cực với công việc, niềm tin vào sự phát triển của doanh nghiệp và hành vi nỗ lực vì mục tiêu của doanh nghiệp

4.14. Có nhiều nghiên cứu liên quan đến hành vi của người lao động trong tổ chức đã được thực hiện như nghiên cứu về động lực làm việc, sự hài lòng của người lao động với môi trường làm việc, hay mối quan hệ giữa sự hài lòng trong công việc, sự gắn kết và lòng trung thành của người lao động

4.15. Có những nghiên cứu liên quan đến sự gắn kết của người lao động nhưng tập trung vào tìm hiểu mối quan hệ giữa sự gắn kết và ý định rời bỏ tổ chức, doanh thu, lợi nhuận của doanh nghiệp

4.16. Những nghiên cứu điển hình về sự gắn kết của người lao động với tổ chức có thể nói đến như Kahn (1990), Perrin T

4.17. Đánh giá chung về các nghiên cứu này có thể nhận thấy có nhiều yếu tố tác động đến sự gắn kết nhưng các nghiên cứu hầu hết tập trung vào nghiên cứu các yếu tố trong doanh nghiệp như quản lý trực tiếp, bản chất công việc, điều kiện làm việc

4.18. Các nghiên cứu đề cập đến các yếu tố ngoài công việc như môi trường ngoài công việc, các yếu tố đặc điểm cá nhân và các yếu tố nhân khẩu học còn hạn chế

4.19. Ngoài ra, nhiều nghiên cứu nước ngoài tập trung vào ba thành phần của sự gắn kết: gắn kết cảm xúc, gắn kết nhận thức và gắn kết hành vi nhưng rất ít nghiên cứu trong nước đề cập đến tác động của các yếu tố đến 3 thành phần gắn kết cảm xúc, gắn kết nhận thức và gắn kết hành vi

4.20. Hơn nữa, các nghiên cứu trong nước thường tập trung xem xét ảnh hưởng của các yếu tố môi trường công việc nhưng chưa quan tâm nhiều đến các nhân tố thuộc quan hệ xã hội trong môi trường làm việc như sự phân biệt đối xử, hòa nhập xã hội, trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp

4.21. Duyên hải Nam Trung Bộ là vùng kinh tế lớn của miền Trung với nhiều lợi thế về tài nguyên

4.22. Những năm gần đây, với định hướng phát triển du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn, vùng Duyên hải Nam Trung Bộ đã thu hút một lượng lớn lao động trong lĩnh vực kinh doanh dịch vụ lưu trú, ăn uống

4.23. Tính đến 31/12/2017, toàn vùng có 70.447 lao động làm việc ở 3.173 doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực này

4.24. Với đặc điểm của hàng hóa là dịch vụ, quá trình sản xuất và quá trình tiêu thụ diễn ra đồng thời nên chất lượng dịch vụ phụ thuộc rất lớn vào năng lực, thái độ và hành vi phục vụ của người lao động

4.25. Mặc dù đã có nhiều nỗ lực trong việc đào tạo, đào tạo lại nhưng năng suất lao động vẫn chưa có chuyển biến tích cực, thái độ làm việc của người lao động còn nhiều bất cập, tinh thần trách nhiệm và tự chịu trách nhiệm còn rất hạn chế

4.26. Bên cạnh đó, sự tăng trưởng với tốc độ nhanh về số lượng doanh nghiệp kinh doanh lưu trú, ăn uống tạo ra một làn sóng cạnh tranh mạnh mẽ đối với lao động ở lĩnh vực này

4.27. Nhiều lao động có tay nghề cao được săn đón và sự gắn kết giữa họ với doanh nghiệp dễ dàng bị phá bỏ dẫn đến một sự mất ổn định trong việc quản lý và sử dụng lao động ở các doanh nghiệp kinh doanh lưu trú, ăn uống

4.28. Đó cũng là vấn đề khó khăn của các doanh nghiệp kinh doanh lưu trú, ăn uống vùng Duyên hải Nam Trung Bộ

4.29. Làm sao để xây dựng được một đội ngũ nhân sự nòng cốt thật sự gắn kết với doanh nghiệp: yêu mến công việc, có niềm tin và sẵn sàng nỗ lực làm việc vì các mục tiêu của doanh nghiệp, đó luôn là vấn đề trăn trở của các nhà quản trị trong các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ lưu trú, ăn uống vùng Duyên hải Nam Trung Bộ

4.30. Các nhà quản trị thấy rõ những hệ lụy trực tiếp của sự thiếu gắn kết người lao động với doanh nghiệp: nhân viên chán nản, năng suất lao động thấp, mất bí quyết công nghệ, tiến độ công việc không đảm bảo, thông tin bị rò rỉ, mất khách hàng, doanh thu sụt giảm

4.31. Vì vậy, nghiên cứu sự gắn kết của người lao động với doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ lưu trú, ăn uống vùng Duyên hải Nam Trung Bộ là vấn đề hết sức cấp thiết trong giai đoạn hiện nay

5. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

5.1. Ý nghĩa khoa học

5.1.1. Luận án thực hiện nghiên cứu sự gắn kết người lao động với doanh nghiệp, trong đó thang đo sự gắn kết và các nhân tố ảnh hưởng đến sự gắn kết được kế thừa và phát triển cho phù hợp với bối cảnh nghiên cứu mới

5.1.2. Luận án sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính để nhận diện thang đo về các thành phần sự gắn kết người lao động với doanh nghiệp và các nhân tố ảnh hưởng đến các thành phần của sự gắn kết, đồng thời dùng phương pháp định lượng để kiểm định thang đo và đo lường mức độ ảnh hưởng của các nhân tố thuộc môi trường công việc ảnh hưởng đến các thành phần sự gắn kết, kiểm định có hay không sự khác nhau về mức độ ảnh hưởng đó theo các nhóm lao động có đặc điểm nhân khẩu học khác nhau và có cảm nhận về môi trường ngoài công việc khác nhau

5.1.3. Sự gắn kết được xem xét đa hướng gồm các thành phần gắn kết nhận thức, gắn kết cảm xúc và gắn kết hành vi

5.2. Ý nghĩa thực tiễn

5.2.1. Sự gắn kết người lao động với doanh nghiệp không phải là vấn đề mới nhưng sự gắn kết được nhìn nhận đa hướng gồm gắn kết nhận thức, gắn kết cảm xúc và gắn kết hành vi là cách tiếp cận mới đối với sự gắn kết người lao động trong các doanh nghiệp kinh doanh lưu trú, ăn uống ở Việt Nam

5.2.2. Quá trình thu thập tài liệu, tác giả chưa thấy có nghiên cứu nào về sự gắn kết của người lao động với doanh nghiệp vùng Duyên hải Nam Trung Bộ

5.2.3. Nghiên cứu này có ý nghĩa thực tiễn lớn đối với các nhà quản trị vì kết quả đã phản ánh khá toàn diện và khách quan về mức độ gắn kết của người lao động với doanh nghiệp kinh doanh lưu trú, ăn uống vùng Duyên hải Nam Trung Bộ

5.2.4. Nghiên cứu ảnh hưởng của các nhân tố đến sự gắn kết trong bối cảnh khác nhau với cách tiếp cận mô hình nghiên cứu khác nhau sẽ giúp cho các nhà quản trị nhân lực có cái nhìn toàn diện hơn trong việc hoạch định chính sách về nhân lực

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI CỦA LUẬN ÁN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tính cấp thiết của đề tài

Nghiên cứu sự gắn kết của người lao động với doanh nghiệp lưu trú và ăn uống tại Duyên Hải Nam Trung Bộ là một vấn đề cấp thiết trong bối cảnh hiện nay. Sự gắn kết này không chỉ ảnh hưởng đến hiệu suất làm việc mà còn tác động đến sự phát triển bền vững của doanh nghiệp. Trong kỷ nguyên công nghiệp 4.0, doanh nghiệp cần những nhân viên có năng lực, yêu thích công việc và sẵn sàng cống hiến. Sự gắn kết của người lao động được thể hiện qua cảm xúc tích cực, niềm tin vào sự phát triển của doanh nghiệp và hành vi nỗ lực vì mục tiêu chung. Nghiên cứu này sẽ giúp các nhà quản lý nhận diện rõ hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến sự gắn kết, từ đó đưa ra các giải pháp phù hợp để nâng cao sự gắn kết của nhân viên.

1.1. Ý nghĩa khoa học

Luận án này không chỉ kế thừa mà còn phát triển các thang đo về sự gắn kết của người lao động với doanh nghiệp. Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần làm phong phú thêm lý thuyết về sự gắn kết và các nhân tố ảnh hưởng đến nó. Phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng được áp dụng để kiểm định thang đo và đo lường mức độ ảnh hưởng của các nhân tố môi trường công việc đến sự gắn kết. Điều này giúp tạo ra một cái nhìn toàn diện về sự gắn kết trong bối cảnh cụ thể của Duyên Hải Nam Trung Bộ.

1.2. Ý nghĩa thực tiễn

Nghiên cứu này có ý nghĩa thực tiễn lớn đối với các nhà quản trị trong lĩnh vực lưu trú và ăn uống. Kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp thông tin hữu ích về mức độ gắn kết của người lao động, từ đó giúp các nhà quản lý xây dựng các chính sách nhân sự hiệu quả. Việc hiểu rõ các nhân tố ảnh hưởng đến sự gắn kết sẽ giúp doanh nghiệp cải thiện môi trường làm việc, nâng cao sự hài lòng và động lực làm việc của nhân viên, từ đó tăng cường hiệu suất và sự phát triển bền vững.

II. Đặc điểm địa bàn và phương pháp nghiên cứu

Duyên Hải Nam Trung Bộ là một vùng kinh tế quan trọng với nhiều lợi thế về tài nguyên và phát triển du lịch. Đặc điểm của vùng này là sự gia tăng nhanh chóng về số lượng doanh nghiệp kinh doanh lưu trú và ăn uống, tạo ra một môi trường cạnh tranh khốc liệt. Nghiên cứu sử dụng phương pháp định tính và định lượng để thu thập dữ liệu từ các doanh nghiệp trong khu vực. Phương pháp định tính bao gồm phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm, trong khi phương pháp định lượng sử dụng bảng hỏi để thu thập ý kiến của người lao động. Kết quả từ hai phương pháp này sẽ được phân tích để đưa ra những nhận định chính xác về sự gắn kết của người lao động.

2.1. Đặc điểm địa bàn nghiên cứu

Vùng Duyên Hải Nam Trung Bộ có nhiều tiềm năng phát triển du lịch, với số lượng lao động trong lĩnh vực lưu trú và ăn uống ngày càng tăng. Tuy nhiên, sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp cũng ngày càng gay gắt, dẫn đến việc nhiều lao động có tay nghề cao dễ dàng rời bỏ doanh nghiệp. Điều này đặt ra thách thức lớn cho các nhà quản lý trong việc duy trì sự gắn kết của nhân viên với doanh nghiệp.

2.2. Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu áp dụng phương pháp định tính để nhận diện các yếu tố ảnh hưởng đến sự gắn kết, kết hợp với phương pháp định lượng để kiểm định các giả thuyết. Dữ liệu được thu thập từ các bảng hỏi và phỏng vấn trực tiếp với người lao động và quản lý doanh nghiệp. Phân tích dữ liệu sẽ giúp xác định mức độ gắn kết và các nhân tố tác động đến nó, từ đó đưa ra các khuyến nghị cho doanh nghiệp.

III. Kết quả nghiên cứu sự gắn kết người lao động

Kết quả nghiên cứu cho thấy sự gắn kết của người lao động với doanh nghiệp kinh doanh lưu trú và ăn uống tại Duyên Hải Nam Trung Bộ chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố, bao gồm môi trường làm việc, sự hài lòng với công việc và mối quan hệ giữa các đồng nghiệp. Mức độ gắn kết của người lao động được đánh giá thông qua các thành phần như gắn kết cảm xúc, gắn kết nhận thức và gắn kết hành vi. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng sự gắn kết này có sự khác biệt rõ rệt giữa các nhóm lao động khác nhau về đặc điểm nhân khẩu học.

3.1. Các thành phần của sự gắn kết

Sự gắn kết của người lao động được chia thành ba thành phần chính: gắn kết cảm xúc, gắn kết nhận thức và gắn kết hành vi. Gắn kết cảm xúc thể hiện qua sự yêu thích công việc và niềm tin vào doanh nghiệp. Gắn kết nhận thức liên quan đến sự hiểu biết về mục tiêu và giá trị của doanh nghiệp. Gắn kết hành vi thể hiện qua sự nỗ lực và cống hiến của nhân viên cho doanh nghiệp.

3.2. Nhân tố ảnh hưởng đến sự gắn kết

Nghiên cứu xác định nhiều nhân tố ảnh hưởng đến sự gắn kết của người lao động, bao gồm điều kiện làm việc, sự hỗ trợ từ quản lý và mối quan hệ đồng nghiệp. Những nhân tố này không chỉ tác động đến sự hài lòng của nhân viên mà còn ảnh hưởng đến quyết định ở lại làm việc lâu dài. Việc cải thiện các yếu tố này sẽ góp phần nâng cao sự gắn kết và hiệu suất làm việc của nhân viên.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1. Cơ sở lý luận về sự gắn kết của người lao động với doanh nghiệp kinh doanh lưu trú, ăn uống Chương 2. Đặc điểm địa bàn và phương pháp nghiên cứu Chương 3. Kết quả nghiên cứu sự gắn kết của người lao động với doanh nghiệp kinh doanh lưu trú, ăn uống vùng Duyên hải Nam Trung Bộ Chương 4.

Bàn luận kết quả nghiên cứu và hàm ý chính sách Phần IV. 6 luan an PHẦN II. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ SỰ GẮN KẾT CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG VỚI DOANH NGHIỆP 1. Tổng quan các nghiên cứu trên thế giới 1.

Quan điểm nghiên cứu về sự gắn kết Sự gắn kết người lao động (Employee engagement) là một vấn đề quan trọng trong lý thuyết và thực hành quản lý. Các nghiên cứu tiếp cận ở hướng khác nhau đưa ra quan điểm khác nhau. Tổng quan các nghiên cứu trước đây cho thấy có 2 hướng nghiên cứu về sự gắn kết của người lao động các nhà nghiên cứu tập trung đó là: (1) sự gắn kết người lao động với tổ chức [59][74][76] và (2) sự gắn kết người lao động với công việc [51][62][78]. Nghiên cứu này hướng đến sự gắn kết người lao động với tổ chức, vì vậy tổng quan sẽ tập trung vào những nghiên cứu liên quan đến sự gắn kết theo hướng này.

(1990) [59], sự gắn kết là trạng thái tâm lý mà người lao động đưa toàn bộ nhận thức, thể chất và tình cảm vào công việc của mình. Quan điểm này nói đến mối quan hệ tích cực với tổ chức khiến người lao động luôn sẵn sàng đầu tư công sức để đóng góp cho sự thành công và phát triển của tổ chức. Do vậy, sự gắn kết không chỉ xuất phát từ niềm tin và lời nói của nhân viên mà còn từ hành động thiết thực trong công việc. Cùng quan điểm này, nghiên cứu của Lawler E.(1992) [68] cho rằng sự gắn kết là cảm xúc tích cực như sự hài lòng của người lao động khiến họ có thái độ tích cực trong công việc và làm cho người lao động gắn kết hơn với tổ chức.

Gần đây, các nghiên cứu quan niệm sự gắn kết là thái độ tích cực của người lao động đối với công việc, giá trị và hoạt động của doanh nghiệp. Người lao động nhận thức bối cảnh kinh doanh và làm việc với các đồng nghiệp để cải thiện hiệu quả công việc vì lợi ích của doanh nghiệp. Ngược lại, các doanh nghiệp phải nuôi dưỡng, duy trì và phát triển sự gắn kết người lao động vì sự gắn kết đòi hỏi một mối quan hệ hai chiều giữa doanh nghiệp và người lao động [74][76][105][106]. Các hướng tiếp cận sự gắn kết người lao động với doanh nghiệp Có hai hướng tiếp cận về sự gắn kết trong các nghiên cứu trên thế giới được xác định: (1) sự gắn kết người lao động là một cấu trúc đơn hướng: gắn kết cảm xúc 7 luan an hoặc gắn kết nhận thức hoặc gắn kết hành vi; và (2) sự gắn kết người lao động là một cấu trúc đa hướng gồm cả ba thành phần: gắn kết nhận thức, gắn kết cảm xúc và gắn kết hành vi.

Những nghiên cứu về thành phần của sự gắn kết là đơn hướng như Lee và cộng sự (2015), Seema Mehta (2010) [69][102], các nghiên cứu này cho rằng sự gắn kết đi kèm với nhận thức về công việc và tổ chức. Nghĩa là người lao động luôn có quan điểm tích cực về công việc và cuộc sống, họ ý thức rằng đối với công việc cần phải chủ động, có tinh thần trách nhiệm và có đạo đức nghề nghiệp. Ở khía cạnh này, lòng trung thành được xem là thước đo mức độ gắn kết và là gắn kết về mặt nhận thức. Các nghiên cứu khác xác định gắn kết như một tình cảm gắn bó với doanh nghiệp.

Nghĩa là người lao động có cảm xúc tích cực với công việc ở doanh nghiệp, họ yêu mến và hài lòng với công việc ở doanh nghiệp. Vì vậy, các nghiên cứu xem xét ảnh hưởng của các yếu tố đến khía cạnh gắn kết cảm xúc của người lao động. Ở khía cạnh này, sự hài lòng được xem là thước đo mức độ gắn kết và là gắn kết về mặt cảm xúc [39][48][49][51][55]. Bên cạnh đó, nghiên cứu quan niệm gắn kết như là sự đồng nhất cá nhân với tổ chức, xem tổ chức như là ngôi nhà thứ hai của mình.

Điều này có nghĩa rằng người lao động ở lại làm việc cho doanh nghiệp với tinh thần tự nguyện, nỗ lực hết mình, sẵn sàng phối hợp và cống hiến vì mục tiêu của doanh nghiệp chứ không phải vì mức tiền lương hay cơ hội thăng tiến. Vì vậy, các nghiên cứu xem xét ảnh hưởng của các nhân tố đến khía cạnh gắn kết hành vi của người lao động [68][55]. Ngoài những nghiên cứu về thành phần của sự gắn kết người lao động với doanh nghiệp là đơn hướng thì sự gắn kết là một cấu trúc đa hướng gồm cả ba thành phần: gắn kết cảm xúc, gắn kết nhận thức, gắn kết hành vi được sử dụng phổ biến trong nhiều nghiên cứu [58][74][76][105][106]. Sự khác biệt của hướng tiếp cận này so với hướng tiếp cận thứ nhất là nó đã tích hợp cả ba quan điểm đại diện cho tư duy khác nhau đặc trưng cho mỗi chiều hướng của sự gắn kết.

Từ đó, các nghiên cứu tìm hiểu mối quan hệ giữa các thành phần của sự gắn kết với doanh thu, lợi nhuận và hiệu quả thực hiện công việc. Các nhân tố ảnh hưởng đến sự gắn kết của người lao động với tổ chức trong các nghiên cứu trên thế giới Thống kê ở Bảng 1 cho thấy các nhân tố ảnh hưởng đến sự gắn kết của người lao động trong các nghiên cứu được chia thành bốn nhóm nhân tố: (1) nhân tố thuộc môi trường công việc, (2) nhân tố cá nhân, (3) nhân tố nhân khẩu học và (4) nhân tố môi trường ngoài công việc. Nhóm nhân tố thuộc môi trường công việc là những nhân tố bên trong tổ chức mà nhà quản trị có thể kiểm soát, điều chỉnh bao gồm các nhân tố tổ chức và nhân tố công việc như: tiền lương, đánh giá thực hiện công việc, điều kiện làm việc, đặc điểm công việc, …. Nhóm nhân tố cá nhân bao gồm các nhân tố thuộc cá nhân người lao động như: văn hóa, tâm lý, tính cách,… của người lao động.

Nhóm nhân tố nhân khẩu học gồm các nhân tố thuộc đặc điểm nhân khẩu học của người lao động như: giới tính, độ tuổi, trình độ, tình trạng hôn nhân, thu nhập, …. Nhóm nhân tố thuộc môi trường ngoài công việc gồm các nhân tố thuộc môi trường sống của người lao động như: tình trạng giao thông, ô nhiễm môi trường, dịch vụ y tế, tệ nạn xã hội, …. Các nhân tố ảnh hưởng sự gắn kết người lao động với doanh nghiệp trong các nghiên cứu trên thế giới STT Tác giả Các nhóm nhân tố ảnh hưởng Nhân tố môi trường công việc 1 Kahn (1990, 1992) Nhân tố cá nhân Nhân tố môi trường ngoài công việc 2 Harter và cs. (2002) Nhân tố môi trường công việc 3 Hewitt Associates (2004) Nhân tố môi trường công việc Nhân tố môi trường công việc 4 May và cs.

(2004) Nhân tố cá nhân 5 Lockwood N. (2007) Nhân tố môi trường công việc 6 Ellis C. (2007); Nhân tố môi trường công việc 7 Macey W. (2008) Nhân tố môi trường công việc Nhân tố môi trường công việc 8 Berry M.

(2010) Nhân tố nhân khẩu học 9 Sundaray K. Một số mô hình nghiên cứu sự gắn kết người lao động với doanh nghiệp Nghiên cứu sự gắn kết người lao động với doanh nghiệp trong các nghiên cứu trước thường tập trung vào ba nội dung: (1) các thành phần sự gắn kết; (2) các nhân tố ảnh hưởng đến sự gắn kết và (3) ảnh hưởng của sự gắn kết đến các kết quả đầu ra của doanh nghiệp. Tùy vào hướng tiếp cận và mục tiêu nghiên cứu mà các tác giả xây dựng các mô hình nghiên cứu khác nhau. Dưới đây là một số mô hình nghiên cứu được kế thừa trong nhiều nghiên cứu khác.

Mô hình nghiên cứu của Macey W. Gắn kết nhận thức Gắn kết cảm xúc Gắn kết hành vi Quan điểm tích cực (Cảm giác về năng (Hành vi ngoài nhiệm về cuộc sống và công lượng, sự hấp thụ) vụ) việc Sự hài lòng Hành vi công dân tổ Tính cách chủ động chức (OCB) Sự gắn bó Sáng kiến cá nhân Ảnh hưởng tích cực Sự đồng nhất Mở rộng vai trò Khả năng kiểm soát Trao quyền Phối hợp với những người khác (nhóm, lãnh Lương tâm đạo) Niềm tin Thuộc tính công việc Đa dạng Biến đổi Thử thách Lãnh đạo Quyền tự chủ (Nguồn: Macey W. Mô hình nghiên cứu của Macey W. Mô hình nghiên cứu của Macey W.

(2008) [76] (Hình 1) tiếp cận theo hướng đa hướng với ba thành phần của sự gắn kết: gắn kết nhận thức, gắn kết cảm xúc và gắn kết hành vi. Trong đó, gắn kết nhận thức thể hiện qua các dấu hiệu của những người lao động có tính gắn kết cao bao gồm: quan điểm tích cực về cuộc sống và công việc, chủ động trong công việc, có những tác động tích cực, có khả năng kiểm soát tốt và đạo đức trong công việc. Gắn kết cảm xúc là những cảm 10 luan an xúc tích cực về công việc biểu hiện qua các dấu hiệu: cảm giác tràn đầy năng lượng khi làm việc, hài lòng với công việc, đồng nhất với tổ chức và sẵn sàng khi được trao quyền. Gắn kết hành vi thể hiện ở sự nỗ lực tự nguyện vì các mục tiêu của tổ chức được biểu hiện ở sự luôn sẵn sàng vì mục tiêu của doanh nghiệp, chủ động đưa ra các sáng kiến cải tiến công việc, thực hiện nhiều hơn những gì được mong đợi, phối hợp và hỗ trợ hết mình với đồng nghiệp và những người khác vì doanh nghiệp.

Mô hình nghiên cứu của Berry M. Mô hình nghiên cứu của Berry M. (2010) xem sự hài lòng của người lao động như là một biến trung gian trong mối quan hệ giữa sự gắn kết người lao động và ý định rời bỏ doanh nghiệp. Tuy nhiên kết quả nghiên cứu lại cho thấy sự hài lòng với công việc không thể giải quyết mối quan hệ giữa sự gắn kết của người lao động và ý định rời bỏ doanh nghiệp.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài luận án tiến sĩ mang tiêu đề "Nghiên cứu sự gắn kết của người lao động với doanh nghiệp kinh doanh lưu trú và ăn uống tại Duyên Hải Nam Trung Bộ" của tác giả Nguyễn Thị Kim Ánh, dưới sự hướng dẫn của PGS. Nguyễn Thị Minh Hòa và PGS. Đỗ Ngọc Mỹ, tập trung vào việc phân tích mối quan hệ giữa người lao động và doanh nghiệp trong lĩnh vực lưu trú và ăn uống tại khu vực Duyên Hải Nam Trung Bộ. Nghiên cứu này không chỉ làm rõ các yếu tố ảnh hưởng đến sự gắn kết của người lao động mà còn đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nguồn nhân lực trong ngành này. Độc giả sẽ tìm thấy những thông tin quý giá về cách thức cải thiện môi trường làm việc và tăng cường sự hài lòng của nhân viên, từ đó góp phần vào sự phát triển bền vững của doanh nghiệp.

Nếu bạn quan tâm đến các khía cạnh khác liên quan đến quản lý và phát triển nguồn nhân lực, bạn có thể tham khảo thêm bài viết "Luận văn tốt nghiệp: Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tại công ty cổ phần thiết bị và tự động An Phát", nơi nghiên cứu về việc cải thiện chất lượng nguồn nhân lực trong một doanh nghiệp cụ thể. Bên cạnh đó, bài viết "Nghiên cứu tác động của văn hóa doanh nghiệp đến động lực làm việc và lòng trung thành của người lao động tại Tổng công ty Lắp máy Việt Nam" cũng sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc về ảnh hưởng của văn hóa doanh nghiệp đến sự gắn kết của nhân viên. Cuối cùng, bài viết "Nghiên cứu tạo động lực cho người lao động trong lĩnh vực thăm dò và khai thác dầu khí của Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam" sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các phương pháp tạo động lực cho người lao động trong ngành công nghiệp năng lượng. Những tài liệu này sẽ mở rộng thêm kiến thức của bạn về sự gắn kết và động lực làm việc trong các lĩnh vực khác nhau.