MỞ ĐẦU Sự gia tăng nhanh chóng nồng độ khí nhà kính trong khí quyển gồm CO2, CH4, N2O, HFCs, PFCs, FS6, trong đó chủ yếu là khí CO2, được coi là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến sự biến đổi khí hậu. Nguồn gây phát sinh khí nhà kính chủ yếu do việc sử dụng năng lượng từ việc đốt cháy nhiên liệu, sản xuất công nghiệp (khai thác khoáng sản, sản xuất hóa chất,…), sản xuất nông lâm nghiệp (sử dụng phân bón,…), hoạt động giao thông vận tải và các nguyên nhân khác (cháy rừng, công nghiệp làm lạnh.) Nhằm hạn chế sự gia tăng khí nhà kính và sự ấm lên của trái đất, Công ước khung của Liên Hiệp Quốc về biến đổi khí hậu (UNFCCC) đãđược soạn thảo và thông qua tại Hội nghị Liên Hiệp Quốc về Môi trường và Phát triển năm 1992 và chính thức có hiệu lực vào tháng 3/1994. Tính đến tháng 5/2004, có 188 quốc gia đã phê chuẩn Công ước này. Để thực hiện công ước này, Nghị định thư Kyoto đãđược soạn thảo và thông qua năm 1997.
Nghị định này là cơ sở pháp lý cho thực hiện việc cắt giảm khí nhà kính thông qua các cơ chế khác nhau, trong đó cơ chế phát triển sạch(CDM) là cơ chế „mềm dẻo‟ nhất và có liên quan trực tiếp tới các nước đang phát triển. Tính đến ngày 31/10/2012, có 4.920 dự án Cơ chế phát triển sạch đã được Ban chấp hành quốc tế về CDM (EB) cho đăng ký, bao gồm các dự án về năng lượng chiếm 71,71%, các dự án xử lý chất thải chiếm 12,41%, các dự án về trồng rừng và tái trồng rừng chiếm 0,71% và các loại dự án khác chiếm 15,17%. Tổng tiềm năng giảm phát thải ước tính của các dự án này khoảng 2,17 tỷ tấn CO2. Chứng chỉ giảm phát thải khí nhà kính được chứng nhận (CERs) từ các dự án trên đã được EB cấp cho các nước đang phát triển, được cụ thể trong Chỉ thị số 2009/29/EC ngày 23/04/2009.
Theo Chỉ thị này Liên minh Châu Âu sẽ chỉ mua CERs của các dự án CDM thực hiện tại các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam đã được đăng ký thành công trước ngày 31/12/2012. 1 Hiện nay, ở Việt Nam đã có nhiều các hoạt động dự án CDM được EB cho đăng ký, phân loại theo lĩnh vực như: Sản xuất năng lượng (nguồn năng lượng tái tạo/nguồn năng lượng không tái tạo) có 152 dự án, xử lý loại bỏ rác thải 21 dự án, các lĩnh vực công nghiệp chế tạo, phát thải từ nhiên liệu (nhiên liệu rắn, dầu và khí), nông nghiệp, trồng rừng và tái trồng rừng mới chỉ có 1 dự án. Trong đó, hoạt động trồng rừng và tái trồng rừng được coi là các hoạt động sử dụng đất phù hợp nhất trong CDM. Tuy nhiên một trong những yêu cầu nghiêm ngặt trong các dự án trồng rừng/tái trồng rừng theo cơ chế phát triển sạch (CDM) là phải xác định được đường các bon cơ sở (thực chất là trữ lượng các bon của các trạng thái thảm thực vật trước khi trồng rừng/tái trồng rừng) nhằm đưa ra các cơ sở khoa học để chứng minh được „lượng CO2 được hấp thụ tăng thêm so với lượng CO2 thu nạp được bởi các dự án CDM‟.
Do vậy việc nghiên cứu trữ lượng các bon trong sinh khối thảm tươi cây bụi - một trong những bể chứa các bon chủ yếu được tiến hành nhằm cung cấp cơ sở khoa học cho việc xác định đường các bon cơ sở trong việc thiết kế và triển khai các dự án CDM ở Việt Nam. Ở Thái Nguyên, hầu hết các nghiên cứu về lâm học và sinh thái học chỉ tập trung vào nghiên cứu đặc điểm cấu trúc và tái sinh tự nhiên của thảm thực vật; khả năng hấp thụ CO2 của một số loại rừng trồng và rừng tự nhiên, đề xuất giải pháp trồng rừng, tái trồng rừng tối ưu. Tuy nhiên, cho đến nay, chưa có công trình nào nghiên cứu về đường các bon cơ sở. Xuất phát từ thực tế đó, chúng tôi thực hiện đề tài “Xây dựng đường các bon cơ sở cho trạng thái thảm thực vật cây bụi có nguồn gốc sau canh tác nương rẫy ở huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên” nhằm cung cấp cơ sở khoa học cho việc xác định tính hiệu quả về mặt môi trường trong triển khai các dự án trồng rừng/tái trồng rừng ở huyện Phú Bình, tỉnhThái Nguyên.
2 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Một số khái niệm cơ bản liên quan đến sự hấp thụ các bon và dự án CDM trong Lâm nghiệp Cơ chế phát triển sạch - Clean Development Mechanism (CDM) Cơ chế phát triển sạch là một trong ba cơ chế được đề ra bởi Nghị định thư Kyoto gồm: Cơ chế đồng thực hiện; mua bán phát thải và cơ chế phát triển sạch. Theo IPCC, trong hai thập kỷ tới ước tính tổng mức phát thải khí nhà kính của các nước đang phát triển sẽ vượt tổng mức phát thải của các nước phát triển. Chính vì vậy ngoài việc đạt được mức giảm thải đã cam kết của các nước phát triển, làm thế nào để giảm được sự gia tăng phát thải khí nhà kính ở các nước đang phát triển là một vấn đề được đặc biệt quan tâm.
Cơ chế phát triển sạch cho phép các nước phát triển có được các mức giảm phát thải được chứng nhận từ việc thực hiện các dự án giảm phát thải khí nhà kính ở các nước đang phát triển. Mức giảm các bon được chứng nhận do các dự án CDM tạo ra, được gọi là đơn vị giảm phát thải được chứng nhận (CERs). Mục đích của cơ chế phát triển sạch là hỗ trợ các nước đang phát triển đạt được phát triển kinh tế bền vững trong khi vẫn đóng góp cho mục tiêu lớn lao của Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu, ngoài ra hỗ trợ các nước phát triển thực hiện được mục tiêu giảm phát thải khí nhà kính của mình. Nếu thực hiện cơ chế phát triển sạch không những đóng góp vào giảm phát thải khí nhà kính ở các nước đang phát triển mà còn tạo điều kiện cho các nước phát triển nhận được lợi ích từ các dự án CDM như: chuyển giao công nghệ tiên tiến, đầu tư tài chính giúp cho các nước đang phát triển đạt được sự phát triển bền vững.
Những lợi ích cho các bên tham gia dự án CDM ở nước chủ nhà là: Cơ hội có được nguồn tài chính bổ sung; cơ hội được chuyển giao công nghệ thân thiện với môi trường và tiết kiệm năng lượng; cơ hội phát triển nguồn nhân lực. 3 Lợi ích mà các bên tham gia dự án ở các nước đầu tư là: Có được các đơn vị giảm phát thải hoặc hấp thụ các bon (CERs); cơ hội tìm được những triển vọng đầu tư mới ở các nước đang phát triển; tạo ra thị trường cho các công nghệ tiến bộ và thân thiện với môi trường. Những lợi ích mà các nước đang phát triển có được khi tham gia dự án CDM: Đạt được phát triển bền vững nhanh ở khu vực dự án hoặc quốc gia; có được các lợi ích bổ sung như kiểm soát ô nhiễm môi trường; cải thiện hiệu quả sử dụng năng lượng, nguyên liệu từ các dự án giảm phát thải khí nhà kính; tăng đầu tư nước ngoài; đẩy mạnh chuyển giao công nghệ và phát triển nguồn nhân lực; góp phần vào mục tiêu chung của Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu. Những giá trị có thể mang lại cho các nước đầu tư là: Có được các đơn vị giảm phát thải CERs; tăng cường mối quan hệ hữu nghị song phương bằng cách cung cấp viện trợ để đạt được sự phát triển bền vững ở các nước đang phát triển; góp phần vào mục tiêu chung của Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu.
Rừng: Theo Cẩm nang lâm nghiệp Việt Nam (2006) [1], rừng là một quần xã sinh vật, trong đó cây rừng (gỗ hoặc tre nứa) chiếm ưu thế. Quần xã sinh vật phải có một diện tích đủ lớn và có mật đỗ cây nhất định để giữa quần xã sinh vật với môi trường, giữa các thành phần của quần xã sinh vật có có mối quan hệ để hình thành hoàn cảnh rừng khác với hoàn cảnh bên ngoài. Như vậy định nghĩa này thiên về mô tả các tính chất sinh thái chung hơn là đưa ra các tiêu chí định lượng cụ thể để xác định thế nào là một rừng. Trong luật bảo vệ phát triển rừng có định nghĩa (2004): Rừng là một hệ sinh thái bao gồm quần thể thực vật, động vật rừng, vi sinh vật rừng, đất rừng và các yếu tố môi trường khác, trong đó cây gỗ, tre nứa hoặc hệ thực vật đặc trưng là thành phần chính có độ che phủ của tán rừng từ 0,1 trở lên.
Rừng gồm 4 rừng trồng và rừng tự nhiên trên đất rừng sản xuất, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng. Theo định nghĩa này đã nêu rõ tổ thành loài cây, độ che phủ tối thiểu cần đạt của rừng. Theo FAO (2002) [31], Rừng là những diện tích đất lớn hơn 0,5 ha, có cây gỗ bao phủ ít nhất 10% diện tích, mà trước đây không phải là đất nông nghiệp hoặc đất đô thị. Ở định nghĩa này, rừng được xác định bởi hai yếu tố là sự có mặt của cây gỗ và lịch sử sử dụng đất không phải có mục đích khác như nông nghiệp hoặc đô thị.
Các cây này có khả năng đạt đến chiều cao tối thiểu là 5m ở khu vực đó khi trưởng thành. Các khu vực rừng đang phục hồi mà chưa đạt được các tiêu chuẩn như độ che phủ chưa tới 10% và chiều cao cây chưa đạt 5m cũng được coi là rừng, bởi vì những diện tích này có triển vọng thành rừng dù tạm thời do tác động của con người hay thiên nhiên nó chưa phải là quần thể thực vật. Thuật ngữ này đặc biệt còn bao gồm rừng giống, vườn giống, những phần không thể thiếu của rừng khác như đường rừng, băng cản lửa và các đám trống nhỏ; công viên quốc gia, khu bảo tồn và các khu rừng chức năng khác như rừng phục vụ nghiên cứu, rừng lịch sử, rừng văn hóa, rừng thờ cúng, rừng chắn gió với diện tích lớn hơn 0,5ha và có một bề rộng tối thiểu 20m; rừng trồng chủ yếu sử dụng cho mục đích sản xuất lâm nghiệp bao gồm cả rừng cao su, rừng sồi lấy vỏ. Thuật ngữ bao gồm các cây gỗ được trồng với mục đích chính để sản xuất nông nghiệp như cây ăn quả hay các hệ thống lâm nghiệp kết hợp.