Chương 1 TONG QUAN TAI LIEU 1.1 Đặc điểm thực vật học của dâu tay Dâu tây (Fragaria ananassa) có nguồn gốc từ châu Mỹ và là loại cây lai ghép giữa các dạng của Bắc Mỹ và Nam Mỹ, được các nhà làm vườn châu Âu cho lai tạo giữa Fragaria chiloensis và Fragaria virginiana vào thé kỷ XVIII dé tạo nên dòng dâu tây được trông rộng rãi hiện nay Fragaria X ananassa. Dâu tây là thực vật thuộc ngành hạt kín (Angiospermae), lớp hai lá mam (Dicotyledoneae), ho hoa héng (Rosaceae), chi Fragarinae. Số lượng nhiễm sắc thể của dâu tây là n = 7. Theo Bách khoa toàn thư, có trên 20 loài dâu tây khác nhau trên khắp thế giới, với số lượng nhiễm sắc thê là bội số của 7.
Dựa vào số lượng nhiễm sắc thé dé phân loại các loài dâu tây với nhau: loài lưỡng bội (2n = 14), loài tứ bội (4n = 28), loài lục bội (6n = 42), loài bát bội (8n = 56) hay loài thập bội (10n = 70) (Hassan, 2015).1 Rễ Dâu tây có hệ thống rễ chùm, phát triển ở độ sâu cách mặt đất khoảng 30 cm. Rễ được mọc ra từ phía dưới của thân ngầm. Ré là một yếu tố rat quan trọng trong quá trình dinh dưỡng của cây trồng. Cây dâu tây có hai loại rễ là sơ cấp và thứ cấp.
Rễ sơ cấp dẫn nước và chất dinh dưỡng cho thân ngầm. Trong những năm kế tiếp, rễ sơ cấp được sản xuất ở vị trí cao hơn của thân ngầm, vì vậy sau mỗi năm nên vun đất cao khoảng 2,5 cm dé kích thích rễ sơ cấp mới phát triển. Ré thứ cấp mọc ra từ rễ sơ cấp và chỉ sống trong vải ngày hoặc vài tuần, chức năng sinh lý chính của là hấp thu nước và chất dinh dưỡng (Cao Thị Làn, 2019).2 Thân Dâu tây là cây lâu năm, thân thảo, ngăn với nhiêu lá mọc rat gân nhau. Cuong lá và choi hoa mọc ra từ choi của thân và được bao bọc bởi lớp vảy mau nâu.
Một so 3 chỗồi nách có thé phát triển thành nhánh với những đốt dai gọi là ngó, những ngó này hình thành lá và rễ mới từ các mắt (Haifa, 2014).3 Lá Lá có hình dang, cấu trúc, độ day và lượng lông tơ thay đổi tùy theo dòng. Hau hết các dòng dâu tây đều có lá kép với 3 lá chét, một số đòng có 4 hoặc 5 lá chét, mép lá có răng cưa. Cuống lá dài, thường có màu trắng khi lá còn non và chuyển sang màu đỏ của đất khi lá già. Lá dâu tây sắp xếp theo kiểu xoắn ốc, có khoảng 15 lá được mọc ra trong năm đầu tiên.
Sự sắp xếp này cho phép cây hấp thu ánh sáng cao nhất (Haifa, 2014).4 Chồi nách Chéi nách hay ngó là bộ phận sinh sản sinh dưỡng, cây con sẽ mọc ra từ đây. Ngó của dâu được hình thành trong điều kiện ngày dài và nhiệt độ ấm áp. Sau khi cây ngó phát triển nhiều rễ, nó có thể sống độc lập với cây mẹ, thông thường sau 2-3 tuần sẽ hình thành ngó. Cây con có nhiều thời gian dé phát triển thân ngầm lớn hơn va nụ nhiều hoa hơn, dẫn đến năng suất cao hơn (Haifa, 2014).5 Hoa Cụm hoa phân chia thành nhiều nhánh, mỗi nhánh có một hoa.
Hoa có 5 cánh trang mỏng, màu trắng, hơi tròn. Hoa lưỡng tính, có 25 - 30 nhị và 50 - 500 nhụy. Hoa dâu tây chủ yếu là tự thụ phấn, mặc dù côn trùng (chủ yếu là ong) hỗ trợ trong việc chuyên phan hoa. Căn cứ vào thời gian bắt đầu hình thành hoa và đậu quả, người ta chia dâu tây thành 2 loại chính là loại ngày ngắn ra hoa khi ngày ngắn (ít hơn 14 giờ một ngày), loại ngày trung tính ra hoa kéo dai trong phạm vi nhiệt độ nhất định (Ellis & cs, 2006).6 Qua Qua của dâu tây là một loại qua giả do dé hoa phinh to, quả thật nằm ở bên ngoài quả giả.
Quả có hình bầu dục, quả non có màu xanh lục, khi quả chín, quả có màu hồng hoặc màu đỏ tuỳ từng dòng. Quả dâu tây có mùi thơm, vị ngọt lẫn vị chua. Sau khi thụ phấn, giai đoạn qua màu trắng thường kéo dai đến 21 ngày và giai đoạn đỏ từ 25 đến 30 ngày. Quả chín xảy ra trong một khoảng thời gian từ 5 đến 10 ngày, khi đó qua chuyển từ màu trắng sang màu đỏ (Haifa, 2014) 1.2 Các yêu cầu để phát triển cây dâu tây 1.1 Yêu cầu về nhiệt độ Cây dâu tây sinh trưởng, phát triển tối ưu ở nhiệt độ không khí từ 18°C đến 25°C.
Khi nhiệt độ trên 30°C ở cả vùng rễ và không khí, cây có xu hướng kém phát triển và giảm năng suất (Donnan, 1997). Nếu nhiệt độ trung bình trong ngày được duy trì tối ưu ở 18°C, việc giảm nhiệt độ vào ban đêm là một biện pháp dé tăng chất lượng quả dâu tây (McKean & Thomas, 2019).2 Yêu cầu về ánh sáng Cây dâu tây yêu cầu ánh sáng đầy đủ với sự thông khí tốt ở xung quanh và dưới lá. Cây quang hợp tốt ở cường độ ánh sáng khoảng 800 — 1,200 mol/m?/s; cường độ ánh sáng dưới 700 mmol/cm?/s quang hợp bắt đầu giảm nhanh chóng (Morgan, 2003). Quang chu kỳ có ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của cây dâu tây.
Ngày dải kích thích sản xuất chỗồi nach, cuống lá dài hơn và phiến lá rộng hơn (Haifa, 2014).3 Yêu cầu về độ am Cây dâu tây có thể trồng ngoài đồng ruộng hoặc trong hệ thống thủy canh trong nhà kính. Sản xuất dâu tây trong nhà kính đang được áp dụng ở nhiều nước trên thế giới. Trong nghiên cứu của mình, Morgan (2003) cho thấy các hệ thống thủy canh trên giá thể cho năng suất quả dâu tây cao hơn so với hệ thống màng dinh dưỡng, nguyên nhân là do môi trường rễ luôn thoáng khí. Khi sử dụng các hệ thống thủy canh trong sản xuất dâu tây cần phải điều chỉnh môi trường trồng hoặc dịch dinh dưỡng sao cho thân, rễ của cây dâu tây không bị quá âm ướt nếu không sẽ dẫn đến thối hỏng.
Ngoài ra, nêu môi trường trồng âm ướt (thoát nước kém) nắm bệnh sẽ xuất hiện, một trong những nam bệnh chính đó là Phytopphthora fragariae.4 Yêu cầu về điều kiện dinh dưỡng Quản lý dinh dưỡng là vấn đề quan trọng trong hệ thống sản suất không dùng đất. Sự cân bằng các nguyên tố dinh dưỡng sẽ làm tăng năng suất, chất lượng và thời gian bảo quản quả. Nghiên cứu ảnh hưởng của EC (2 dS/m, 3 dS/m, 4 dS/m, 5 dS/m) đến sự sinh trưởng và năng suất của dâu tây (Fragaria ananassa) trồng trên giá thé xơ dừa, Võ Minh Viên (2008) đã kết luận ảnh hưởng của EC đến sự phát triển và năng suất của dau tây là rất rõ rệt. EC = 1,5-2,5 là phù hợp nhất cho sự phát triển của cây dau tây 1.3 Giá trị cay dau tây 1.1 Giá trị dinh dưỡng Dâu tây là loại quả rất tốt cho sức khỏe của con người, do dâu tây chứa hàm lượng vitamin cao.
Trong phan thịt của quả dâu tây có các loại vitamin A, BI, B2 và đặc biệt là lượng vitamin C và đường fructose khá cao trong đó hàm lượng chất khoáng như K, Na, Fe, Ca, P, Mg, Mn. giúp làm tăng lượng Cholesterol (tốt), giảm huyết áp và bảo vệ chống ung thư. Dâu tây rất giàu chất chống oxy hóa và các hợp chất thực vật, có lợi ích cho sức khỏe tim mạch và kiểm soát lượng đường trong máu. Do dâu tây có chứa hàm lượng cao vitamin, chất xơ và các chất chống oxy hóa đặc biệt cao được gọi là polyphenol, dâu tây là một loại thực phẩm ít chứa natri, hầu như không chất béo, không cholesterol, ít calo.
Chúng là một trong số 20 loại trái cây hang đầu có khả năng chống oxy hóa và là một nguồn mangan và kali tốt.1 Thành phần dinh dưỡng trong một 100 gram dâu tây Thành phần chủ yếu Vitamin & Khoáng Nước 91% Vitamin A 12.0 IU Protein 0,72 Vitamin C 0,06mg Carbs 7,72 Fe 0,4mg Đường 4,9g Ca 16mg Chat xo 2g K 153mg Chất béo 0,3g P 13mg Omega-3 0,07g Na lmg Omega-6 0,098 Mn 0,4mg Nguồn: SELF Nutrition Data, 2022 Dau tây được xếp trong nhóm qua mong. Các nghiên cứu thực hiện theo dõi với quy mô lớn ở hàng nghìn người thường xuyên ăn quả mọng thì nguy cơ tử vong liên quan đến tim mạch thấp hơn. Ngoài ra dâu tây còn giúp tăng khả năng chông oxy hóa máu, giảm stress giảm viêm, cải thiện chức năng mạch máu, cải thiện tình trạng lipid trong máu cao, giảm quá trình oxy hóa có hại của cholesterol LDL. Việc sử dụng dâu tây thường xuyên có tác dụng ngăn ngừa ung thư có thể giúp ngăn ngừa một số loại ung thư thông qua khả năng chống lại stress oxy hóa và viêm.
Dâu tây đã được chứng minh là có tác dụng ức chế sự hình thành khối u ở động vật bị ung thư miệng và trong các tế bào ung thư gan ở người.2 Giá trị kinh tế của cây dâu tây Mô hình ứng dụng và chuyền giao công nghệ mới dé phát triển bền vững nghề trồng dâu tây ở thành phố Đà Lạt đã góp phần nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm của ngành trồng dâu tại thành phố Đà Lạt, bước đầu hình thành mdi liên kết giữa nơi sản xuất đến nơi tiêu thụ cho các mối buôn bán nhỏ lẻ, lớn tại các thành phố lớn và các tỉnh, huyện lân cận. Hiệu quả kinh tế của việc ứng dụng công nghệ mới vào canh tác cây dâu tây đã làm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của dâu tây Việt Nam, góp phần xóa đói giảm nghèo, tạo việc làm, tăng thu nhập và cải thiện đời sống cho các hộ nông dân trồng dâu tại Đà Lạt - Lâm Đồng và các vùng mới phát triển cây dâu tây như Mộc Châu - Sơn La, Bắc Hà - Lào Cai. Doanh thu thuần của dâu tây cao gấp khoảng bốn lần mía và cao hơn khoảng chín lần so với lúa mì (Afridi & cs, 2009). Tại Lâm Đồng, với năng suất dâu tây trung bình khoảng 9 - 10 tan/ha/nam và giá trung bình là 100.000 đồng/kg, lợi nhuận hàng năm khoảng 400 - 700 triệu/ha (Cao Thị Làn, 2019).4 Tình hình nghiên cứu và sản xuất dâu tây trên thế giới Theo thống kê của FAO (2020), trên thế giới có khoảng 384.668 ha và sản lượng đạt 8.
Xét về diện tích trồng dâu tây, đứng đầu là châu A, kế đó là châu Âu. Trung Quốc là nước có điện tích trồng dâu tây cao nhất, chiếm 33,06% điện tích trồng dâu tây của cả thế giới.