CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng Quan về viêm đường hô hấp theo Y học hiện đại (YHHĐ) 1. Định nghĩa Đường hô hấp chia làm 2 phần: đường hô hấp trên và đường hô hấp dưới. Đường hô hấp trên bao gồm các bộ phận như xoang, đường mũi, hầu họng, thanh quản.
Các tổ chức này dẫn không khí từ bên ngoài môi trường vào phế quản và đến phổi để diễn ra quá trình hô hấp. Viêm đường hô hấp trên(Upper Respiratory Tract Infections – URTI) là quá trình nhiễm trùng của một hoặc nhiều các bộ phận trên. Khi các bộ phận khác nhau bị viêm, sẽ có những tên gọi khác nhau như viêm xoang, viêm hầu họng, viêm phế quản, viêm thanh quản…Viêm đường hô hấp trên có thể xảy ra bất cứ lúc nào trong năm, đặc biệt vào mùa thu và mùa đông. Bệnh có thể tái phát nhiều lần trong năm: khoảng 2-4 lần/năm đối với người trưởng thành, khoảng 10 lần/năm đối với trẻ em.
Bệnh thường không gây nguy hiểm nhưng làm bệnh nhân mệt mỏi, khó chịu, gây khó khăn trong quá trình giao tiếp và làm việc. Đường hô hấp dưới bao gồm: khí quản, phế quản, tiểu phế quản, phổi. Viêm đường hô hấp dưới (Lower Respiratory Tract Infections- LRTI) là hội chứng bao gồm tất cả các bệnh lý liên quan đến đường hô hấp dưới (khí quản, phế quản, tiểu phế quản và phổi) không phải lao, trong đó viêm phổi và viêm phế quản là hai bệnh lý viêm đường hô hấp dưới thường gặp nhất. Bệnh có thể nguy hiểm đến tính mạng nếu không được chẩn đoán và điều trị đúng cách.
Hình ảnh minh họa đường hô hấp 1. Nguyên nhân gây bệnh Viêm đường hô hấp trên xảy ra do các tác nhân gây bệnh xâm lấn trực tiếp vào các niêm mạc của các cơ quan trong đường hô hấp trên. Một số tác nhân gây bệnh thường gặp gồm: tụ cầu khuẩn, liên cầu khuẩn, virus hợp bào hô hấp, virus sởi cúm, vi khuẩn E.coli, trực khuẩn mủ xanh, tụ cầu vàng, nấm candida… Viêm đường hô hấp dưới lây truyền qua những giọt bắn chứa vi khuẩn, virus khi người bệnh ho, hắt hơi hoặc bám trên các bề mặt tiếp xúc. Tác nhân đường hô hấp dưới bị nhiễm trùng thường do virus, vi khuẩn, đặc biệt là vào thời điểm giao mùa.
Một số virus, vi khuẩn, gây bệnh thường gặp gồm: các virus gây bệnh cúm, virus hợp bào hô hấp (Respiratory Syncytial Virus – RSV); Streptococcus pneumoniae (phế cầu khuẩn), Staphylococcus aureus….Một số trường hợp nhiễm trùng đường hô hấp dưới xuất phát từ các chất trong môi trường gây kích ứng hoặc gây viêm đường thở như: khói thuốc lá, khói bụi do ô nhiễm môi trường, hóa chất, các chất gây dị ứng. Các triệu chứng thường gặp 1. Các triệu chứng viêm đường hô hấp trên - Viêm đường hô hấp trên cấp tính: +Viêm đường hô hấp trên cấp tính thường diễn ra đột ngột, khi thời tiết chuyển lạnh hoặc khi gặp điều kiện thuận lợi như ăn kem, uống nước đá vào ban đêm… + Những triệu chứng thường gặp khi phát bệnh gồm: sốt (có thể là sốt nhẹ hoặc sốt cao kèm cảm giác rét run), chảy nước mũi (phổ biến ở trẻ nhỏ), hắt hơi, đau họng khi ăn, uống nước, ho(có thể ho húng hắng hoặc ho liên tục tùy thời điểm). + Viêm đường hô hấp trên nếu không được chữa trị đúng cách, bệnh kéo dài và có thể chuyển từ giai đoạn cấp tính sang mạn tính.
- Các triệu chứng viêm đường hô hấp trên mạn tính gồm: + rát họng, ho, cảm giác vướng trong họng khi nuốt, chảy nước mũi ở 1 hoặc cả 2 bên mũi… + nếu bệnh nhân bị VA mạn tính do trực khuẩn mủ xanh, dịch nhầy ở mũi sẽ có màu xanh.Thở bằng miệng, ngủ ngáy (thường gặp ở trẻ nhỏ), Viêm xoang, đau nhức đầu (thường gặp ở người trưởng thành). Các triệu chứng viêm đường hô hấp dưới -Triệu chứng viêm phế quản cấp tính: + Giai đoạn ủ bệnh: sau khi tiếp xúc với virus, người bệnh sẽ có thời gian từ một đến ba ngày ủ bệnh và không có triệu chứng gì trong thời gian này. + Giai đoạn viêm long đường hô hấp trên: hắt hơi, sổ mũi, đau họng, sốt nhẹ, mệt mỏi, đau nhức cơ, khớp. + Giai đoạn viêm phế quản cấp: ban đầu là ho khan, sau đó ho kèm theo đờm(đờm có thể có màu trắng, vàng, đục hoặc đôi khi kèm theo máu ),đau rát xương ức khi ho.
-Triệu chứng viêm phế quản mãn tính: + Giai đoạn mới bắt đầu triệu chứng xuất hiện là ho và khạc ra đờm. Ho xảy ra từng đợt, nhiều lần trong năm, đặc biệt khi trời lạnh hoặc thời tiết thay đổi, có thể 6 ho khan hoặc ho kèm đờm có màu trắng và bọt. Khi tình trạng ho kéo dài nhiều ngày, đờm sẽ đặc hơn, có màu vàng và mủ. + Giai đoạn muộn hơn bệnh nhân sẽ cảm thấy khó thở, nặng nề như bị đè nén trong lồng ngực.
+ Ngoài ra còn một số triệu chứng không thường xuyên khác có thể kể đến như sút cân, da dẻ xanh xao, tim đập nhanh. -Triệu chứng viêm phổi: + Viêm phổi do tác nhân vi khuẩn điển hình: rét run, sốt cao trên 39ºC, kèm theo ho khạc đờm và đau tức màng phổi; khó thở; nhịp thở nhanh trên 30 lần/phút. + Viêm phổi do tác nhân vi khuẩn không điển hình hoặc virus đa phần xảy ra ở trẻ em và người lớn tuổi, với những triệu chứng âm thầm hơn: sốt nhẹ, nhức đầu, ho khan, mệt mỏi. Điều trị viêm đường hô hấp 1.
Điều trị viêm đường hô hấp trên - Viêm đường hô hấp trên thường xảy ra ở mức độ nhẹ và dễ điều trị. Tuy nhiên, trong một số trường hợp chủ quan, bệnh chuyển biến nghiêm trọng có thể gây ra nhiều biến chứng nguy hiểm như: nhiễm trùng ổ mắt, giảm thị lực, tắc mạch xoang hoang, viêm não, viêm thanh quản, áp xe họng, nhiễm trùng huyết… - Việc điều trị viêm đường hô hấp trên thường hướng đến điều trị các triệu chứng của bệnh. - Các loại thuốc thường được dùng trong điều trị viêm đường hô hấp trên gồm: + Thuốc giảm đau, hạ sốt: paracetamol, ibuprofen + Thuốc giảm nghẹt mũi: thuốc kháng histamin + Thuốc trị ho: dextromethorphan, guaifenesin, codein + Thuốc kháng viêm, giảm phù nề: steroids như dexamethasone, prednisolone…. * Lưu ý, thuốc kháng sinh chỉ được sử dụng khi bệnh do vi khuẩn gây ra hoặc xuất hiện nhiễm trùng có liên quan đến vi khuẩn.
Các loại thuốc này có thể gây ra một số tác dụng phụ và có thể gây nhiễm khuẩn thứ phát, kháng kháng sinh. Điều trị viêm đường hô hấp dưới -Điều trị viêm phế quản cấp tính: + chống viêm nonsteroid, steroid: mobic, celecoxib, medrol, mekocetin…… + giảm ho: Terpincodein, dextrophan, dextromethorphan…. + giãn phế quản khi có dấu hiệu co thắt phế quản: salbutamol, theophylin, bricanyl…. + kháng sinh( penicilin, erythromycin….): khi ho kéo dài và khạc đờm mủ trên 7 ngày, cơ địa viêm phế quản mạn tính, viêm mũi mủ, viêm amidan….
Viêm phế quản cấp - Điều trị viêm phế quản mạn tính: + Thuốc long đờm +Có thể dùng thuốc giãn phế quản chống co thắt như Salbutamol, có tác dụng làm thông đường thở của bệnh nhân giúp việc trao đổi khí dễ dàng hơn. + Corticoid đường uống trong các đợt cấp nhằm giảm viêm niêm mạc phế quản. + Kháng sinh: dùng phối hợp khi có một đợt viêm phổi cấp trên nền tảng một bệnh lý viêm phế quản mạn tính. 8 +Do tổn thương cơ bản trong viêm phế quản mãn tính làm tắc nghẽn đường thở nên cơ thể không được cung cấp đủ lượng oxy cần thiết.
Thở oxy là biện pháp điều trị được sử dụng khi viêm phế quản mạn tính nặng và ít đáp ứng với thuốc điều trị. - Điều trị viêm phổi: + Dùng kháng sinh dựa theo kháng sinh đồ + Khi có dấu hiệu như khó thở, tím tái của biến chứng suy hô hấp cấp (ARDS) cần phải điều trị thở oxy. Cân bằng nước và điện giải, đặc biệt khi bệnh nhân có sốt cao, hoặc khi bệnh nhân nặng, đe dọa tình trạng sock nhiễm khuẩn.[4] ,[7] + Sử dụng các thuốc điều trị triệu chứng khi cần thiết để giảm ho, hạ sốt, giảm đau. X Quang ngực thẳng viêm phổi 1.
Tổng quan viêm đường hô hấp theo Y học cổ truyền (YHCT) 1. Bệnh nguyên và cơ chế bệnh sinh Theo y học cổ truyền, không có bệnh danh của viêm đường hô hấp. Tuy nhiên, dựa vào triệu chứng bệnh mà quy vào chứng Khái thấu và Đàm ẩm. Theo Hải Thượng Lãn Ông, chứng Khái (ho có tiếng không có đàm) là phế khí bị thương, 9 chứng Thấu (ho có đàm mà không có tiếng) là tỳ khí bị tổn thương, Khái Thấu (ho có cả đàm lẫn tiếng) thì tỳ phế đều bị bệnh.
Nguyên nhân là do ngoại cảm cộng với chính khí suy yếu hoặc do bệnh nội thương, tình chí thất điều gây rối loạn công năng các tạng, phế, tỳ, thận mà sinh ra bệnh. Ngoại cảm bao gồm phong hàn, phong nhiệt, khí táo. Khi chức năng phòng vệ của cơ thể suy giảm, thời tiết khí hậu thay đổi đột ngột, nóng lạnh thất thường, tà khí phong hàn và phong nhiệt xâm phạm cơ thể từ miệng, mũi hoặc từ da, chân lông làm phế khí mất khả năng tuyên giáng gây khái thấu: ho, đờm nhiều. Phế không khai khiếu ra mũi gây chứng Tỵ uyên (ngạt mũi).
Tà khí lưu lại tại Phế sẽ gây phát nhiệt (sốt cao), đàm vàng đặc. Nhiệt thiêu đốt tân dịch gây ho khan hoặc đàm khó khạc, bứt rứt. Diễn tiến nặng hơn sẽ có nhiệt cực sinh phong gây mê sảng, co giật. Khí táo về mùa thu làm tân dịch của phế bị giảm sút gây ho khan ngứa họng.
Nội thương là do công năng 3 tạng phế, tỳ, thận bị giảm sút, trong đó ăn uống bất điều làm tỳ mất kiện vận, hàn thấp thương tỳ sinh đàm ẩm. Tạng phế hư nhược hoặc bệnh tích ở phế, khí táo làm tân dịch của phế bị giảm sút, nhiệt thương phế làm phế thận âm hư gây ho, đờm nhiều. Thận hư không nạp được khí gây suyễn. Bệnh thời kì đầu phong hàn, phong nhiệt phạm phế, tân dịch ngưng tạo thành đàm đa phần thuộc thực chứng, bệnh cũ lâu ngày thuộc hư trung hiệp thực.
Nếu phế khí hư suy hoặc âm hư phế táo đa phần là hư chứng. Điều trị viêm đường hô hấp theo Y học cổ truyền (YHCT) 1. Điều trị viêm đường hô hấp cấp tính theo Y học cổ truyền Viêm đường hô hấp cấp tính thường do phong hàn, phong nhiệt, khí táo: - Thể phong hàn gặp ở giai đoạn đầu của viêm cấp, có các triệu chứng như: ho ra đờm trắng loãng, dễ khạc, sốt, sợ lạnh, nhức đầu, chảy nước mũi, ngứa cổ, khản tiếng, rêu lưỡi trắng mỏng, mạch phù.Phác điều trị: khu phong tán hàn, tuyên phế.