MỞ ĐẦU Trà được sử dụng phổ biến trên toàn thế giới với vai trò là thức uống, tại các quốc gia châu Á, trà được sử dụng như một loại thức uống hàng ngày [1]. Theo thống kê và báo cáo từ tổ chức lương thực và nông nghiệp Liên Hợp Quốc (FAO) năm 2021, tỷ lệ tiêu thụ trà tăng so với thập kỷ trước 3,5%, sản lượng trà thế giới đạt khoảng 6,5 triệu tấn, sản lượng trà toàn cầu hàng năm ước tính đạt khoảng 17 tỷ USD, doanh thu từ các hoạt động thương mại trà đạt khoảng 9,5 tỷ USD [2]. Hiện nay, cây trà là một trong những loài cây trồng kinh tế quan trọng, Việt Nam có nhiều vùng chuyên canh cây trà điển hình như: Thái Nguyên, Mộc Châu, Tuyên Quang, Hà Giang và Bảo Lộc. Cây trà ngoài được sử dụng như một loại nước uống nó còn là một loại thảo mộc thiên nhiên với nhiều tác dụng tốt đối với sức khỏe, từ xưa ông cha ta đã khai thác và sử dụng trà kết hợp trong chế độ dinh dưỡng hàng ngày.
Các loại trà được sử dụng phổ biến hiện nay chủ yếu từ cây trà xanh Camellia sinensis, thông qua quá trình chế biến và mức độ oxy hóa polyphenol tạo nên những loại như trà xanh, trà vàng, trà đen, trà trắng, hồng trà, trà phổ nhĩ và trà Oolong. Cây trà được chứng minh chứa một số nhóm hợp chất có hoạt tính sinh học như có khả năng kháng oxy hóa, kháng khuẩn, kháng viêm, kháng ung thư điển hình như flavonoid, tannin, saponin, alkaloid và terpenoid [3, 4]. Trong đó hoạt tính ngăn ngừa và ức chế ung thư của trà được quan tâm nghiên cứu nhiều nhất cho đến thời điểm hiện tại, nhằm hướng đến việc sử dụng trà như một nguồn thực phẩm chức năng giúp nâng cao sức khỏe và hỗ trợ ngăn chặn ung thư [5]. Việc phát hiện các loài mới là cơ hội cho nghiên cứu, ứng dụng và phát triển các sản phẩm thực phẩm và dược phẩm từ trà đặc hữu của Việt Nam, tuy nhiên song song đó vẫn tồn tại những thách thức như cần tiến hành nghiên cứu các dữ liệu khoa học về thành phần hợp chất tự nhiên và đánh giá về tính an toàn của các loại trà mới này trước khi đưa vào sử dụng.
Hiện nay, các cây thuộc chi Polyspora như ĐTTH chưa được nghiên cứu về 1 thành phần hợp chất và hoạt tính sinh học. Do đó, ĐTTH là đối tượng tiềm năng cho các nghiên cứu về hoạt tính sinh học nói chung cũng như cần phải được nghiên cứu về độc tính tế bào in vitro nhằm đánh giá mức độ an toàn đối với tế bào bình thường và các tác dụng ức chế đối với các dòng tế bào ung thư. Những kết quả nghiên cứu trên ĐTTH về độc tính tế bào sẽ là tiền đề khoa học vững chắc cho các nghiên cứu sâu hơn về tính an toàn, tác dụng tích cực với sức khỏe con người và tiềm năng trong cho mục đích khai thác sử dụng như một sản phẩm thức uống và mở rộng ứng dụng trong y tế, dược phẩm, mỹ phẩm và thực phẩm chức năng, song song đó cũng là cơ sở hướng đến các biện pháp nhằm nhân giống, phát triển số lượng quần thể loài, bảo tồn loài ĐTTH và bảo vệ giá trị về đa dạng sinh học nói chung và đa dạng sinh học tại Việt Nam nói riêng. Mục tiêu của đề tài nghiên cứu Xác định thành phần hoá học và hoạt tính sinh học của cao chiết từ lá cây Đa tử trà hương Nội dung và nhiệm vụ nghiên cứu • Xử lý và thu nhận cao chiết methanol từ lá Đa tử trà hương.
• Phân tích thành phần hoá thực vật sơ bộ và xác định hàm lượng catechin trong cao chiết từ lá cây Đa tử trà hương. • Khảo sát khả năng ức chế sự tăng sinh tế bào của cao chiết từ lá ĐTTH. • Khảo sát tác động của cao chiết lên sự biểu hiện của các gen liên quan đến chu kỳ tế bào và gen liên quan đến apoptosis của các dòng tế bào ung thư. • Khảo sát tác động thay đổi chu kỳ tế bào và cảm ứng apoptosis các dòng tế bào ung thư của cao chiết từ lá ĐTTH.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan về cây trà Đa tử trà hương ĐTTH là một loài thuộc họ Chè (Theaceae), có tên khoa học đầy đủ là Polyspora huongiana Orel, Curry & Luu. ĐTTH là một trong 13 loài trà thuộc chi Polyspora được phát hiện ở Việt Nam, đây là loài trà đặc hữu được phát hiện tại khhu vực Hòn Giao, Vườn Quốc gia Bidoup - Núi Bà, tỉnh Lâm Đồng, và được công bố lần đầu tiên vào năm 2012 [7, 8]. Đặc điểm phân loại Chi Polyspora có khoảng 40 loài phân bố chủ yếu ở khu vực Châu Á như Việt Nam, Malaysia, Trung Quốc, Sri Lanka, Indonesia, Thái Lan, Lào, Myanmar, Ấn Độ và Philippines[8].
Trong đó, khu vực phân bố của ĐTTH được báo cáo chủ yếu tập trung tại miền trung Việt Nam. Về khóa phân loại: Giới (regnum): Plantae Bộ (ordo): Ericales Họ (familia): Theaceae Tông (tribe): Theeae Chi (genus): Polyspora Loài (species): Polyspora huongiana 1. Đặc điểm hình thái ĐTTH là cây thân gỗ thường xanh, chiều cao của cây trưởng thành không vượt quá 10 m, cây thường mọc đơn và thẳng đứng, đôi khi có thể phân nhánh tốt. Cành cây bóng có màu xanh lá ở giữa, cành non có màu xanh bóng, cành chuyển thành xám - nâu nhạt khi trưởng thành, cành già có màu xám - nâu, trên cành có nhiều mấu, thường được bao phủ bởi địa y, nhất là tại các vị trí lộ ra bên ngoài (Hình 1.
Vỏ trưởng thành nhẵn, có các vân hẹp phát triển từ một số vùng rãnh [7]. Hình thái cành ĐTTH Lá trưởng thành cứng, dài khoảng 11,0 - 12,5 cm và rộng 4,0 - 4,8 cm, phiến lá mỏng, có hình trứng hẹp, lá có màu xanh lá cây và sáng bóng, bề mặt dưới có màu xanh nhạt và đậm màu hơn mặt trên, phiến gân giữa rộng từ 2,5 - 3,2 mm, lá non có hình dạng hẹp, kích thước thay đổi. Cuống lá hơi xoắn quanh trục có màu tía ở phần trên, phần dưới tía - nâu và bóng[7]. Mô tả cấu trúc hoa ĐTTH [7] Nụ hoa tròn, đỉnh nhọn, dài 2,3 - 2,5 cm, rộng 1,5 - 1,7 cm, có màu xanh lục nhạt, sau đó chuyển sang màu đỏ tía đến nâu rồi nhạt dần sang màu hồng nhạt, vảy nụ màu tối nâu đến tím.
Hoa mọc ở nách lá, có cuống, hoa mọc nghiêng 45 o về phía cuống, hoa mọc đơn lẻ, đôi khi mọc thành cặp, không có mùi thơm, hoa có màu hồng đậm đến đỏ, đường kính của hoa từ 5,0 – 6,0 cm, số cánh hoa từ năm đến bảy cánh, 4 lõm, dạng hình trứng, không đều, cánh hoa xếp thành 2 vòng, vòng đầu tiên bên trong được cấu tạo bởi hai đến bốn cánh hoa, dài 4,0 - 4,5 cm, rộng 3,5 - 4,0 cm, vòng bên ngoài có từ ba đến bốn cánh hoa dài 4,0 - 5,0 cm rộng 3,8 - 4,5 cm. Nhị hoa xếp thành hình tròn với đường kính 2,0 - 4,0 cm, sợi nhỏ dài 2,5 - 3,0 cm, có lông tơ mịn, nhị hoa màu vàng, gần gốc hơi hồng, bao phấn nhẵn có màu vàng sáng, chuyển sang vàng sẫm đến nâu, kích thước thay đổi từ khoảng 2,5 - 3,0 mm (Hình 1. Quả có dạng hình trụ thuôn dài, hóa gỗ và cứng, dài 2,5 - 3,0 cm, đường kính 1,1 - 1,3 cm, màu nâu ngoài, có lông tơ. Hạt dẹt theo chiều dọc màu nâu, nhẵn và bóng, khi còn non có lông tơ ngắn, có một cánh mỏng hình elip dài 13,0 - 15,0 m và rộng 4,0 - 5,0 mm [7].
Thời gian ra hoa của ĐTTH vào khoảng tháng 1, quả chín trong khoảng từ tháng 2 đến tháng 4 và rụng vào khoảng tháng 4 [7]. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước Hiện nay tại Việt Nam và trên thế giới, các công bố khoa học về cây ĐTTH còn hạn chế chủ yếu là mô tả và phân loại loài này, chưa có công bố khoa học nào về thành phần hợp chất tự nhiên và hoạt tính sinh học cũng như độc tính tế bào của ĐTTH. Theo một công bố vào năm 2020, nội dung báo cáo thực hiện so sánh đặc điểm hình thái và khu vực phân bố giữa ĐTTH và Đa tử trà cương, kết quả so sánh cho thấy hai loài có mối quan hệ gần về tập tính loài và một số đặc điểm hình thái như về hình dáng hoa, đa nhị, màu sắc hoa [8]. ĐTTH được phát hiện theo từng nhóm nhỏ nằm rải rác với diện tích phân bố loài dưới 1300 km2.
ĐTTH có ý nghĩa quan trọng về đa dạng sinh học, được xếp vào nhóm dễ bị tổn thương Vu “Vulnerable” theo phân loại của sách đỏ loài trà được công bố bởi Liên minh bảo tồn thiên nhiên quốc tế do diện tích phân bố loài hạn chế [6]. Do đó, cần có biện pháp bảo tồn loài thích hợp nhằm ngăn chặn nguy cơ quần thể loài bị đe dọa, tổn thương và tuyệt chủng. Trên các cây cùng chi Polyspora vẫn chưa có các công bố khoa học về thành phần hợp chất tự nhiên cũng như hoạt tính sinh học. Trên các đối tượng cây thuộc họ Chè có nhiều công bố về hoạt tính trên tế bào (bảng 1.
Tổng quan nghiên cứu trên một số cây họ Chè Tài Thành phần Phương pháp liệu Đối tượng Kết quả hóa thực vật được thực hiện tham khảo Camellia Alkaloid, Nhuộm trypan Cao chiết gây độc trên [9, 10] kissi flavonoid, blue dòng tế bào K562 với saponin, IC50 = 40,01± 3,12 polyphenol và (𝜇g/mL) đường khử Camellia Thử nghiệm Cao chiết ức chế sự [11] cuongiana MTT, nghiệm tăng sinh dòng tế bào thức ức chế tạo ung thư biểu mô gan colony tế bào và HCC-J5 với giá trị nghiệm thức ức IC50 >100 (𝜇g/mL) chế sự xâm lấn Cao chiết ức chế khả năng tạo colony và di chuyển của tế bào ung thư biểu mô gan HCC- J5 C.sinensis polyphenol, Nhuộm trypan Kết quả cho thấy dịch [12] flavonoid, blue được sử chiết từ C. sinensis có xanthone, dụng xác định tỷ khả năng ức chế tăng caffein, tannin, lệ tế bào sống, sinh và di căn của saponin, thử nghiệm làm MDA-MB-231 và polysaccharide, lành vết thương MCF-7, tăng mức độ amino acid, và Western biểu hiện protein p53 vitamin và một Blotting trên hai và p21 trên dòng tế số nguyên tố vô dòng tế bào ung bào MCF-7 cơ, epicatechin thư biểu mô vú 6 (EC), MDA-MB-231 epicatechin và MCF-7.