MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của dé tài Theo thống kê của tổ chức y tế thé giới (WHO), trên thé giới có khoảng nửa triệu người bị rắn căn thì khoảng 30000-40000 người chết/năm do ran độc căn và chủ yếu các nước ở vùng nhiệt đới. Hàng năm ở Châu Á, có khoảng 25000 -35000 người chết (chiếm tỉ lệ 87%) [24]. Việt Nam thuộc vùng có địa hình và khí hậu nhiệt đới thuận lợi cho sự sinh sống, phát triển của các loài rắn nói chung và răn độc nói riêng.
Trên cơ sở của triệu chứng lâm sàng ở bệnh nhân nhiễm nọc rắn độc ở Việt Nam có thé chia làm hai loại: các loài ran thuộc họ nhỡn kính (Elapidae), noc gây độc than kinh (neurotoxic) và các loài ran thuộc ho ran lục (Viperidae), nọc gây độc hệ huyết mạch (hemotoxic) [41]. Ở nước ta, huyết thanh kháng noc ran lục (Trimeresurus albolabris) và kháng một số noc rắn nhỡn kính khác đã được sản xuất và thử nghiệm thành công trên người [1, 44]. Huyết thanh kháng nọc rắn đã chứng tỏ có hiệu quả để điều trị nhiễm độc noc ran [34]. Tuy thé, bénh nhan thuong duoc điều trị sau một thời gian trì hoãn (dé đến trung tâmy tế).
Tai nạn ran căn thường lại xảy ra ở nông thôn, xa các trung tâm y tế có kháng huyết thanh. Hơn nữa, rắn căn ở Việt Nam là một vấn đề chưa được y tế lưu tâm đúng mức. Thời gian trì hoãn là một nguyên nhân làm tăng nguy cơ gây tử vong và cũng làm tăng nguy cơ tạo các biến chứng sinh lý bệnh gây tàn phế, đặc biệt làm tăng độ trầm trọng về gây hoại tử tại chỗ [29]. Ngoài thời gian trì hoãn, lở loét và hoại tử mô tại chỗ còn là một van đề mà kháng huyết thanh không đem lại hiệu lực tác dụng nào, đặc biệt với nhiễm độc noc ran lục [43].
Ngược lại với quan niệm thông thường, một nghiên cứu hồi lưu đã cho thay tỷ lệ trường hợp bị lở loét, mụn nước và hoại thư da tại chỗ còn cao hơn trong số các bệnh nhân có điều trị với kháng huyết thanh so với số bệnh nhân điều trị không sử dụng huyết thanh kháng noc [29]. Đề ngăn chặn sự lan rộng của hoại thư mô, có trường hợp cần cat cụt loại bỏ phan bi ton thuong [28]. Nguyên nhân gây lở loét được quy cho các protein có kích thước lớn lưu lại tại chỗ căn, không được máu di chuyển. Các độc tố chính trong noc các rắn nhỡn kính là những peptide (< 8kDa) gây độc thần kinh, được máu phân phối nhanh khắp co thé.
Các protein gây độc trong noc các ran lục có trọng lượng phân tử lớn hơn, khó đi vào các mao mach hơn [17]. Các protein đó nếu có hoạt tính thủy phân protein (proteolytic enzyme) sẽ phân hủy các thành phan của mô; sự tốn thương nay gây nên những phản ứng bệnh lý của cơ thé, tăng tuần hoàn máu tập trung vảo vết thương và là nguyên nhân gây sưng phù tại chỗ. Đặc biệt protease trong noc ran luc lam tang bradykinin mau, làm giãn vanh mach. Hoat tinh cua cac protease cua noc khong nhitng phan huy m6 co ma còn gây ton thương cho vành mach, lam xuất huyết tại chỗ.
Trong các protein lưu lại tại chỗ con có các collagenase, phân hủy mô liên kết. Tuy lượng các protease của noc nhiễm ở vết thương là ít nhưng do cơ chế xúc tác của chúng gây hậu quả trầm trọng. Tóm lại, nghiên cứu tập trung vào nọc của một răn lục thường xuyên gây tai nạn ở Việt nam, đó là răn lục xanh đuôi đỏ. Do các protease của nọc có thể tác động, gây rối loạn vào các hệ thống enzyme bảo đảm sự nội hăng định sinh lý (homeostasis), hoạt hóa các enzyme nội sinh cách bất thường, gây hậu quả bệnh lý tram trọng và gây ra các bién chứng khi nhiễm độc noc ran lục.
Vì vậy, đề tài nghiên cứu tập trung vào “Xác định độc lực của răn lục đuôi đỏ và tác động gây loét trên chuột”. Mục tiêu nghiên c u Xác định thành phần gây độc chính trong nọc răn lục đuôi đỏ (Trimeresurus albolabris) và các yêu tỗ ảnh hưởng. Độc lực, liễu gây tốn thương được tiến hành khảo sát trên chuột và hiệu lực trung hòa hoạt tính enzyme trong nọc toàn phần của kháng huyết thanh kháng nọc. Dựa trên khả năng trung hòa thành phần gây độc giải thích cơ chế về sự gây loét tại chỗ khi bị răn lục căn ở người ở mô liên kêt, mô nên.
Nghiên cứu này nhăm góp phân tham gia tìm kiém những giải pháp b6 sung cho phương pháp huyết thanh trị liệu trong việc cứu chữa nạn nhân nhiễm độc nọc răn, đặc biệt ở giai đoạn sơ Cứu. Nội dung nghiên c u + Xác định thành phân gây độc và hoạt tính sinh học của nọc răn lục đuôi đỏ. Xác định độc lực của noc ran lục đuôi đỏ. ‹ồ Xác định liều gây tốn thương đường kính 10mm vùng dưới da chuột (MHD).
+ Tinh sạch Serine protease từ noc ran luc. - Khao sát pH các dung dịch đệm ảnh hưởng đến hoạt tinh enzyme. - Tinh sạch thành phan gây độc của noc ran lục qua sắc ký. « Xác định độc lực thành phan bám sau khi qua cột trao đôi ion DEAE Sepharose CL6B.
¢« Điện di SDS PAGE 12% đánh giá độ tinh sạch các phan đoạn qua 2 cột sắc ký trao đôi ion va ái lực. + Thử nghiệm trung hòa noc và huyết thanh kháng noc để xác định kết quả ly giải máu vùng dưới da chuột. Y nghĩa khoa hoc và thực tiễn của đề tài Đề tài bước đầu xác định độc lực của nọc rắn lục đuôi đỏ và tác động gây xuất huyết tại chỗ trên chuột. Sự hiện diện với tý lệ đáng kể của serine protease trong nọc là nguy cơ tiềm năng hoạt hóa nhiều hệ thống tiền enzyme trong cơ thể của nạn nhân: hệ thống bồ thể, hệ thống cầm máu, gây hoại tử va biến chứng.
Nghiên cứu bước đầu cho thấy tác động gây xuất huyết của serine protease và khả năng trung hòa hoạt tính enzyme trong nọc của kháng huyết thanh. TONG QUAN CHƯƠNG 2: TONG QUAN TÀI LIEU 2. SINH HOC VE LOAI RAN LUC VA NOC DOC 2. Sinh học về ho ran lục (Viperidae) 2.
Đặc điểm loài Ran là động vật thuộc loài bò sát (reptile), không chân. Toàn bộ số ran đã được ghi nhận trên thế giới đạt con số khoảng 2700 đến 3000 loài khác nhau, trong đó khoảng 600 là gây độc [9, 19]. Chỉ khoảng 1/5 — 1/6 của số ran đó đã được nghiên cứu và sắp xếp với nhau thành dòng họ. Các răn được lưu tâm đặc biệt và nghiên cứu nhiều là rắn có nọc gây độc cho người và cho gia súc.
Con số các răn gây tử vong cho người đã được biết không đạt con số 200 [3]. Theo Võ Văn Chi và Nguyễn Đức Minh (1993), ở Việt Nam có 140 loài rắn và Bourret (1934-1936) đã xây dựng một danh sách gồm 32 loài ran độc có mặt ở Việt Nam (chiếm 22,8 %) [3]. Riêng họ ran lục là ho ran lớn thứ hai trên thé giới gôm 33 giống được chia thành họ ran lục điển hình (Viperinae) và ran lục có rãnh mũi má (Crotalinae).1: Vi trí cho thay trên đầu của Hình 2.2: HỖ má giữa mũi và mat của rắn lục Trimeresurus albolabris đặc điểm có hỗ má đuôi do [46]. năm giữa lỗ mũi va mắt [25].
Nanh nọc vàch c nang gay độc Tât cả răn lục đêu có răng độc có thê cử động được ở phía trước của miệng, mọc ở hàm trên, cho phép răng độc có thể gấp thu lại vào sàn miệng. Cử động này giúp ho ran họ ran lục (Viperidae) có thê với răng độc ra xa hơn so với ho ran nhon kính (Elapidae). Ong dan Răng độc có coy BA —— noc thê cử động Tuyên nọc Hình 2.3: Răng độc có thé cử động và gap Hình 2.4: Răng độc năm lọt vào thu lại ở sản miệng ở họ răn lục trong ở họ nhỡn kính (Elapidae) [54].3: White-lipped green pit viper.4: Taiwan Habu Viper Nanh noc rắn lục ở phía trước, ham trên, (Trimeresurus mucrosquamatus) được có thé di động, kéo ra khi miệng mở, gap | lấy noc ở vườn quốc gia Tam Đảo, Việt lại dé đóng miệng [47]. Phan loại ho ran lục Nọc rắn gồm nhiều thành phan peptide hoặc protein.
Một số gen phát hiện các phân tử này ở các răn được phân tích đê đánh giá sự gần nhau qua các bước tiên hóa. Sự phân tích di truyền này đã cho phép sự luận ra sự liên quan giữa các loài để lập cây phả hệ [32]. Răn cùng dòng xuất phát từ một nguồn gốc chung. 5 Elapidae 3FTx Atractaspididae „38pJ1qn|OS, Natricinae = Xenodontinae Colubrinae Homalopsinae _/ Viperidae Hình 2.5: Sự phát sinh các chủng loài rắn Dong Viperidae xuât hiện vào thời điêm tương đôi trước hon nhiêu so với Elapidae.
Họ răn lục (Viperidae) trên thế giới chia thành 2 họ nhỏ hơn: Ran lục điển hình (Viperinae) va ran lục có rãnh mỗi má (Crotalinae) Bảng 2.1: Các nhóm ran lục điển hình (Viperinae) chủ yếu và ảnh hưởng [36] Tên khoa học | Tên thường gọi Phân bố Ảnh hưởng Atheris spp. African bush vipers Chau Phi Khong dang ké Bitis spp. African puff adders, | Châu Phi Tùy loài, một vai gây tổn thương tai Gaboom vipers ect chỗ nặng né, rôi loạn đông mau, xuât huyết, sôc, độc tô tim. African night adders | Châu Phi Tác dụng tai chỗ, liệt Cerastes spp.
| African horned Chau Phi Tác dụng tại chỗ, rối loạn đông adders máu, xuât huyét, sôc Daboia russelii | Russell's viper Châu Phi, | Tác dụng tai chỗ, rối loạn đông Châu Mỹ máu, thận hư, liệt, tiêu cơ (chỉ ở Sr1 Lanka) Echis spp. African & West Chau Phi Tác dung tại chỗ, rối loạn đông Asian saw scaled Tay A máu, xuât huyét, sôc. vipers Macrovipera Eurasian vipers Chau A Tác dụng tại chỗ, rối loạn đông SDD. Châu Âu mau, xuât huyệt, sôc.
Pseudocerastes | Middle East horned | Trung Gay liệt. vipers Dong Vipera spp. European vipers Chau Au Tác dung tại chỗ, hoại tử, sốc.2: Các nhóm rắn lục có rãnh mũi má chủ yếu (Crotalinae) [36] Tên khoa học Tên thông thường | Phân bô Anh hưởng Agkistrodon spp. | Nth American Bac My Tác dụng tại chỗ, hoại tử, rôi loạn copperhead, đông máu, xuất huyết, sốc.
cottonmouth, cantil Atropoides spp. — | Central American Trung My | Tác dung tại chỗ, hoại tử jumping pit vipers Bothriechis spp. | Central American Trung My | Tac dụng tại chỗ, hoại tử, sốc. palm pit vipers Bothrops spp.
Sth & Central Trung My | Tùy loài, một vai tac dụng tại American pit vipers | Nam Mỹ | chỗ, hoại tử, rối loạn đông máu, xuất huyết, ton thuong than, tiéu CƠ, SỐC.