Chương 1 TỔNG QUAN TƯ LIỆU VÀ LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU 1. Vị trí địa lý Thành Tây Đô 1. Di tích Thành Nhà Hồ Thành Nhà Hồ là tên gọi phổ biến nhất hiện nay cho tòa thành đá nằm giữa 4 thôn: Tây Giai, Xuân Giai, Thượng Giai và Đông Môn thuộc 2 xã Vĩnh Long và Vĩnh Tiến (huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hoá). Ngoài ra Thành còn có một số tên khác như: thành An Tôn, Tây Đô, Tây Kinh, Tây Giai, Thạch Thành…[117, tr.
20] Di tích có toạ độ địa lý khoảng 20004'06" đến 20005'01" vĩ độ Bắc và 105026'23" đến 105037'00" kinh độ Đông. Thành nằm trên đường 217 từ Vĩnh Lộc đi Cẩm Thuỷ, Bá Thước… cách thị trấn Vĩnh Lộc khoảng 1km về phía Đông Nam, cách di tích đàn Nam Giao khoảng 2,5km, cách di tích Ly Cung khoảng 25km. Thành được xây dựng trên khu đất trũng và bằng phẳng, xung quanh có nhiều núi sông bao bọc: phía Bắc thành có núi Thổ Tượng (Voi đất), phía Nam có núi Đốn Sơn, phía Đông có núi Hắc Khuyển (Chó đen) và sông Bưởi, phía Tây và Tây Nam được bao bọc bởi dãy núi Ngưu Ngọa (Trâu nằm), An Tôn và sông Mã. Di tích đàn Nam Giao Đàn Nam Giao là một trong số thành phần kiến trúc quan trọng trong tổng thể kiến trúc Thành Tây Đô.
Di tích nằm ở núi Đốn Sơn (dân địa phương quen gọi là núi Đún). Đốn Sơn là một quả núi dài, có hai đỉnh, thuộc địa phận xã Vĩnh Thành, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa. Đàn Nam Giao đã được chọn đặt ở khu vực giữa của hai đỉnh này. Chính vì vậy, đàn tế Nam Giao của nhà Hồ chỉ có 3 là mặt Đông, Tây và Nam (mặt phía Bắc tựa núi).
Xây dựng đàn Nam giao trên núi là một sự khác biệt của nhà Hồ so với các vương triều trước đó. Di tích nằm trong khu vực La thành của Thành Nhà Hồ, có tọa độ địa lý 2003’50’’ vĩ độ Bắc và 105037’40’’ kinh độ Đông. 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Đàn Nam Giao cách Thành Nhà Hồ khoảng 2,5km về phía Tây Bắc, cách đường 217 khoảng 500m về phía Đông, cách di tích Ly Cung khoảng 25km về phía Đông Nam, cách sông Mã khoảng 1km về phía Đông, cách sông Bưởi khoảng 1km. Diện tích khu vực đàn Nam Giao khoảng 2ha với 4 cấp nền.
Tiếp giáp khu vực này về phía Nam là các thửa ruộng trồng lúa thuộc cánh đồng Nam Giao có độ cao 10,5m so với mực nước biển. Lịch sử hình thành di tích 2. Lịch sử hình thành di tích Thành Nhà Hồ Thành Tây Đô được hình thành trong bối cảnh lịch sử xã hội thời Trần đang lâm vào khủng hoảng trầm trọng trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội và ngoại giao. Trong bối cảnh ấy Hồ Quý Ly – một đại thần nhà Trần đã quyết đoán trong việc xây dựng kinh đô mới tại vùng đất An Tôn – phủ Thanh Hóa (nay là huyện Vĩnh Lộc tỉnh Thanh Hóa).
Điều này đã được ghi chép trong một số tài liệu cổ sử như: Đại Việt sử kí toàn thư; Lịch triều hiến chương loại chí, Đại Nam nhất thống chí, Phương Đình dư địa chí, Sử học bị khảo… Sách Đại Việt sử kí toàn thư chép: “Đinh sửu năm thứ 10 (1397). Mùa xuân, tháng giêng, sai Lại bộ thượng thư kiêm Thái sử lệnh Đỗ Tỉnh đi xem đất ở động An Tôn phủ Thanh Hoá, đắp thành đào hào, lập Miếu nền Xã, mở đường phố, có ý muốn dời kinh đô đến đấy, 3 tháng làm xong” [46, tr. Cũng trong năm 1397 “Mùa đông, tháng 11, Quý Ly bức vua rời đô đến phủ Thanh Hoá” [46, tr. Và “Sai Hành khiển đồng tri Đại tông chính tự là Lương Nguyên Bưu dỡ gạch ngói, gỗ lớn ở các cung điện Thuỵ Chương, Đại An giao hết cho các châu Từ Liêm và Nam Sách chở tới kinh đô mới, gặp bão chìm đắm mất quá nửa” [46, tr.
Năm “Kỉ mão (1399)…Tháng 9…Sai Trần Ninh đốc suất người phủ Thanh Hoá trồng tre gai ở phía Tây thành, phía Nam từ Đốn Sơn, phía Bắc từ An Tôn đến tận cửa Bào Đàm, phía Tây từ chợ Khả Lãng ở Vực Sơn đến sông Lỗi Giang, vây bọc làm la thành, nhân dân ai lấy trộm măng thì xử tử” [46, tr. 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Năm “Canh thìn (1400)…Tháng 2, ngày 28, Lê Quý Ly bức vua nhường ngôi và buộc người tôn thất và các quan ba lần dâng biểu khuyên lên ngôi. Quý Ly giả vờ cố tình từ chối nói: “Ta sắp xuống lỗ đến nơi rồi, còn mặt mũi nào trông thấy tiên đế dưới đất nữa?” Rồi tự lập làm vua, đặt niên hiệu là Thánh Nguyên, quốc hiệu là Đại Ngu, đổi thành họ Hồ” [46, tr. Sách Đại Nam nhất thống chí, mục CỔ TÍCH có đoạn: “Thành nhà Hồ: Sử chép là đô thành cũ của Hồ Quí Ly cũng gọi là thành Tây Đô, ở các xã Tây Giai, Xuân Giai, Phương Giai huyện Vĩnh Lộc, bốn mặt đều xây đá xanh, mỗi mặt dài 120 trượng, cao 1 trượng 2 thước.
Lại xây một con đường lát đá hoa từ cửa Nam suốt đến đàn Nam Giao ở Đốn Sơn phía ngoài thành. Mặt nam thành xây cửa ba tầng bằng đá, như cửa Châu Tước ở thành Thăng Long, còn về mặt đông, mặt bắc và mặt tây đều mở một cửa xây đá; quanh các cửa đều xây bằng đá xanh; thành xây bằng gạch vuông dày và rắn; dưới chân thành có hào ở ngoài. Trong thành ước hơn 300 mẫu, nay đều là ruộng, chỗ nào trũng thấp là hồ ao. Tả hữu thành đều gần núi đá; phía trước thành là sông Mã.
Phía ngoài thành lại đắp đất làm la thành, phía tả từ tổng Cổ Biện, phía đông qua các xã Bút Sơn và Cổ Điệp theo ven sông Bảo chạy về nam đến núi Đốn Sơn; phía hữu từ tổng Quan Hoàng huyện Cẩm Thuỷ theo ven sông Mã chạy về đông thẳng đến núi Yên Tôn mấy vạn trượng; nay đều đổ nát, dân sở tại vỡ làm ruộng” [71, tr. Sách Lịch triều hiến chương loại chí chép: “Cuối đời Trần, Hồ Quí Ly dời kinh đô đến động An Tôn, huyện Vĩnh Phúc gọi là Tây Đô, đắp thành đào hào, nền móng bền vững. Bên tả bên hữu thành, gần sát núi đá, sông Mã, sông Lương họp lại chảy về phía trước. Triều thần khi ấy là [Nguyễn] Nhữ Thuyết cho rằng chỗ đất ấy ở về cuối nước đầu núi, can Quí Ly không nên đóng đô ở đây.
Nhưng Quí Ly không nghe. Rồi sau hai cha con họ Hồ bị quân Minh bắt được, thành ấy phải bỏ”… [11, tr. Sách Sử học bị khảo: “Nói về mặt đô hội thì Thành Nhà Hồ không rộng rãi, bằng phẳng bằng Thăng Long, mà nói về mặt hình thế thì Thăng Long không hiểm cố bằng Thanh Hóa. Cho nên lập đô dựng nước, ngoài Thăng Long ra có lẽ không đâu hợp bằng Thanh Hóa” [99, tr.
6] 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Như vậy, các nguồn tài liệu trên đây đã cung cấp khá đầy đủ các thông tin cơ bản về Thành Tây Đô: Niên đại xây dựng (1397), người chủ trương xây dựng là Hồ Quý Ly, người thực hiện là Đỗ Tỉnh, vị trí xây dựng là vùng đất động An Tôn, phủ Thanh Hóa – nay là huyện Vĩnh Lộc tỉnh Thanh Hóa. Lịch sử hình thành di tích đàn Nam Giao Sau khi hoàn thành các công việc xây dựng cơ bản, Thành Nhà Hồ còn có nhiều lần được tu bổ và hoàn thiện. Trong đó việc xây dựng đàn Nam Giao là một công việc quan trọng không thể thiếu của một kinh đô. Việc này được con trai của Hồ Quý Ly là Hồ Hán Thương thực hiện vào năm 1402.
Sự kiện này được sách Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sỹ Liên cho biết: “Nhâm Ngọ (1402),…Tháng 8, Hán Thương đắp đàn Giao ở Đốn Sơn để làm lễ tế Giao; Đại xá cho thiên hạ. Ngày hôm tế, Hán Thương ngồi kiệu Vân Long do cửa nam đi ra. 733] Sự kiện này còn được nhắc lại trong sách Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục (thế kỷ XIX) như sau: "Nhâm Ngọ (1402). Hán Thương, năm Thiệu Thành thứ 2.
Tháng 8, mùa thu, Hán Thương cử hành lễ tế Giao.Theo phép cũ, nghi vệ lễ tế Giao rất long trọng, chia ra ba hạng lễ là: lễ Lớn, lễ Trung bình và lễ Nhỏ.Lễ tế Giao này suốt đời nhà Trần chưa cử hành lần nào, đến nay Hán Thương mới đắp đàn Giao ở đốn Sơn, chọn ngày lành, đi xe vân long, ra cửa Nam thành, trăm quan và cung tần, mạng phụ theo thứ tự đi sau. 712 - 714] Sách Đại Nam nhất thống chí (thế kỷ XIX) , trong mục CỔ TÍCH cũng có ghi: “Giao đàn cũ nhà Hồ: ở phía Nam trên đỉnh núi Đốn Sơn thuộc xã Cao Mật huyện Vĩnh Lộc, do Hồ Quí Ly xây dưới đàn có giếng tắm, xây đá làm thành, do Hồ Hán Thương xây, di tích vẫn còn” [71, tr. 238] Và “Núi Đốn Sơn: ở cách huyện Vĩnh Lộc 13 dặm về phía Tây - Bắc; mạch núi từ núi Yên Tôn, qua các núi Thọ Đồn và Phú Sơn kéo đến, nổi vọt lên hai ngọn. Tác giả Lưu Công Đạo trong cuốn Thanh Hóa tỉnh, Vĩnh Lộc huyện chí ghi: “Núi Đốn Sơn (Đún Sơn) ở địa phận xã Cao Mật, núi từ các núi An Tôn kéo qua Thọ Đồn, Phú Sơn mà đến.
Khởi vọt lên hai ngọn, tựa hình chiếc kiếm, một ngọn tựa hình cây cung…Ở phía Đông núi có đàn tế Nam Giao, có giếng Ngự Dục (Ngự 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Duyên), xếp đá làm thành, bệ cấp uy nghiêm, đều là di tích của Hồ Hán Thương…” [23, tr. 31-32] Như vậy, cũng như Thành Nhà Hồ, sự hình thành của đàn Nam Giao vào năm 1402 cũng được các nguồn tài liệu cổ sử ghi chép lại khá chi tiết. Các nguồn tài liệu cổ sử trên đây là minh chứng quan trọng cho sự hình thành và tồn tại của Thành Tây Đô. Tuy nhiên, nguồn tài liệu này không hề ghi chép tới vấn đề đồ gốm sứ, ngoại trừ Đại Việt sử ký toàn thư chép về việc Hồ Quý Ly đánh rơi chén rượu: “Tháng 8, Hán Thương đắp đàn Giao ở Đốn Sơn để làm lễ tế Giao, đại xá cho thiên hạ.
Ngày hôm tế, Hán Thương ngồi kiệu Vân Long, do cửa Nam đi ra,…Khi dâng chén rượu (hiến tước), tay run rượu đổ xuống đất rồi thôi…”. Tuy nhiên, cũng không rõ có phải chiếc chén mà Hồ Hán Thương làm rơi khi tiến hành lễ tế có phải là cốc gốm sứ hay không? Như vậy, việc nghiên cứu đồ gốm sứ ở di tích đàn Nam Giao chỉ có thể dựa vào tư liệu khai quật khảo cổ học.