Chương 1: Tổng quan nghiên cứu: 30 trang; - Chương 2: Địa điểm, thời gian đối tượng, phương pháp nghiên cứu: 11 trang; - Chương 3: Kết quả nghiên cứu: 34 trang; - Kết luận và kiến nghị: 02 trang; - Tài liệu tham khảo: 02 trang. Luan van 5 CHƢƠNG I: TỔNG QUAN CÁC NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về rừng ngập mặn Rừng ngập mặn (Mangrove) rất khó định nghĩa một cách chính xác. Năm 2002, Saeger đã đưa ra định nghĩa cây rừng ngập mặn (RNM) là loại cây cao (thân gỗ, bụi, cọ dừa, thảo mộc hoặc dương xỉ) vốn mọc chiếm ưu thế ở các vùng bán nhật triều ven biển nhiệt đới, cận nhiệt đới, thể hiện một cấp độ rõ rệt về sức chịu đựng trước điều kiện đất yếm khí và nồng độ muối cao, có trụ mầm có thể sống được trong điều kiện phát tán nhờ nước biển [44].
Tác giả Phan Nguyên Hồng đã chia hệ thực vật ngập mặn thành hai nhóm đó là: nhóm cây ngập mặn thực thụ, phân bố ở các bãi lầy ngập triều định kỳ và nhóm cây tham gia RNM sống trên đất chỉ ngập triều cao, hoặc một số loài gặp cả ở vùng đất nước ngọt [14]. Đặc điểm Rừng ngập mặn a. Những đặc điểm tự nhiên rừng ngập mặn bao gồm: - Tồn tại ở những khu lầy lội và có môi trường nước lợ; - Mức ôxi trong đất bùn/lầy thường thấp; - Khu vực thường xuyên bị ngập; - Nước ngọt khan hiếm; - Độ mặn có thể rất cao: từ 30.000 ppm (ppm = một phần triệu) đối với nước biển bình thường, và lên đến 90.000 ppm ở những khu vực mà muối bị cô đặc do hiện tượng bốc hơi của nước – trong khi độ mặn của nước chúng ta uống hằng ngày thường vào khoảng 100 ppm. Sự tồn tại của rừng ngập mặn phụ thuộc vào một số yếu tố trong đó yếu tố địa mạo được coi là quan trọng nhất tác động tới rừng ngập mặn cửa sông.
Theo nghiên cứu của Jenning và Bird (1967), Wash (1974), Chapman (1977) có 7 nhân tố liên quan đến sự hình thành rừng ngập mặn bao gồm: nhiệt độ không khí ở một biên độ nhất định, nền bùn, được che chắn bảo vệ, nước mặn, biên độ triều, các dòng hải lưu, và bờ biển nông. - Nhiệt độ không khí Nhiệt độ không khí có ảnh hưởng lớn tới sự sinh trưởng, số lượng cá thể, loài và kịch thước cây. Các loài cây ngập mặn phong phú và có kích thước lớn thường tập Luan van 6 trung ở vùng xích đạo và cận nhiệt đới ẩm, là nơi có nhiệt độ không khí trong năm cao và biên độ dao động nhiệt không lớn. Sự tương quan của nhiệt độ đối với rừng ngập mặn thể hiện ở nhiệt độ nước, tức là sự có mặt của rừng ngập mặn ở những vùng mà nhiệt độ nước tháng nóng nhất không quá 24oC.
Bên cạnh đó, lượng mưa cũng là nhân tố quan trọng, có vai trò cung cấp nguồn nước ngọt cho tăng trưởng và phát triển của cây ngập mặn. Những vùng có lượng mưa cao cây ngập mặn phát triển tốt. Ngoài ra, gió cũng là nhân tố tác động tới sự phân bố của thực vật ngập mặn cùng với sự ảnh hưởng tới độ thoát hơi nước, nhiệt độ nước, gió mùa và xói lở bờ, đặc biệt là gió bão ở vùng nhiệt đới. - Nước mặn Độ mặn có ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây ngập mặn.
Khác với rừng trên cạn thì nồng độ muối vừa phải của rừng ngập mặn là điều kiện tiên quyết có cây sinh trưởng tốt. Nhiều nghiên cứu cho thấy cây ngập mặn có thể tồn tại được trong nước ngọt một thời gian nào đó nhưng sinh trưởng của cây giảm dần, sau vài tháng nếu không được cung cấp muối cây sinh trưởng kém, lá cây có nhiều chấm đen và vàng do sắc tố bị phân hủy, lá sớm bị rụng. Hầu hết các cây ngập mặn đều sinh trưởng tốt ở độ mặn 25 – 50% độ mặn nước biển. Khi mặn càng cao thì sinh trưởng càng kém, sinh khối của rễ, thân, lá thấp dần, lá sớm bị rụng.
- Nền bùn Thực tế, cây ngập mặn có thể mọc trên nền cát, than bùn, sỏi và rạn san hộ nhưng đất bùn mềm vẫn là thích hợp nhất đối với sự phát triển của chúng. Các loại đất bùn này thường nằm dọc vùng cửa sông ven biển, ven các vùng, vịnh. - Che chắn và bảo vệ Đây là nhân tố quan trọng vì nếu không có các đảo che chắn ở phía ngoài thì sóng, gió dễ dàng đánh bạt các quả, hạt giống, cây con, trụ mầm làm cho chúng không thể cố định trên bãi bùn được. Ở những vùng cửa sông ven biển, ven các vùng, vịnh có đảo che chắn ở phía ngoài là vị trí rất thuận lợi cho rừng ngập mặn phát triển.
- Biên độ triều Biên độ triều càng rộng thì thành phần quần xã rừng ngập mặn càng phong phú. Biên độ triều thường đi đôi với địa hình khu vực tạo điều kiện cho rừng ngập mặn phát triển, mở rộng theo chiều ngang. Do phụ thuộc vào biên độ triều, ở những nơi bờ biển sâu thì phân vùng hẹp hơn nơi bờ biển thoải. Mặc dù nhân tố này không ảnh hưởng Luan van 7 trực tiếp về mặt sinh lý nhưng nó đóng vai trò quan trọng về mặt phân bố, cấu trúc các quần xã.
- Các dòng hải lưu Các dòng hải lưu là nhân tố chính giúp cho việc phát tán quả, hạt và trụ mầm những loài cây ngập mặn dọc theo các vùng ven biển. - Bờ biển nông Thực tế, cây ngập mặn chỉ mọc trên đất triều khá nông, bởi vì cây con không thể cố định được trong nước sâu. Mặt khác, phần lớn các bộ phận phía trên của cây cũng không thể ngập nước sâu được. Phân bố rừng ngập mặn RNM phân bố chủ yếu ở vùng xích đạo và vùng nhiệt đới của hai bán cầu (giữa vĩ độ 23oN và 23oS), thường ở bờ biển liên tục, chuỗi đảo chạy dài liên tục và dòng hải lưu ấm đem theo mầm cây từ các vùng RNM phong phú đến khu vực lạnh hơn.
RNM trên thế giới có phân bố ở 124 quốc gia và các vùng miền. RNM chiếm khoảng 1% diện tích rừng trên bề mặt thế giới và xuất hiện ở khoảng 75 % bờ biển nhiệt đới trên toàn thế giới [49]. RNM phân bố rộng nhất ở châu Á (39%) tiếp theo là Châu Phi (21%), Bắc và Trung Mỹ (15%), Nam Mỹ (12,6%) và Châu Đại Dương (Úc, Papua New Guinea, New Zealand, đảo Nam Thái Bình Dương) (12,4%) [46]. Theo một số tác giả thì sự phân bố của RNM ở khu vực giữa Malaysia và Bắc Australia được coi là trung tâm tiến hóa của khu hệ thực vật ngập [32].
Hiện trạng rừng ngập mặn trên thế giới Fisher và Spalding (1993) đã đưa ra số liệu diện tích RNM thế giới là 198. Giri và các cộng sự trong báo cáo của mình năm 2010 đã cho biết, tổng diện tích RNM trong năm 2000 là 137.760 km2 , phân bố ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới của thế giới [30]. Những dải bờ biển nhiệt đới và cận nhiệt đới của Nam và Đông Nam Á được ban cho những khu RNM có năng suất cao. Những RNM ở khu vực Indo - Malayan này được coi là các sinh cảnh RNM lâu đời và đa dạng nhất hiện nay.
Theo báo cáo năm 2010 thì các sinh cảnh RNM này trải dài trên 6.113 triệu ha và chiếm gần 40,4 % RNM toàn cầu [41]. Ngày nay, diện tích RNM đang ngày càng bị thu hẹp do tác động của biến đối khí hậu và sức ép dân số. Rừng ngập mặn ở Việt Nam có 29 tỉnh và thành phố có rừng và đất ngập mặn ven biển chạy suốt từ Móng Cái đến Hà Tiên. Theo Phan Nguyên Hồng và cộng sự, Luan van 8 RNM Việt Nam được chia ra thành 4 khu vực và 12 tiểu khu: Khu vực I: Ven biển Đông Bắc, từ mũi Ngọc đến mũi Đồ Sơn; Khu vực II: Ven biển đồng bằng Bắc Bộ, từ mũi Đồ Sơn đến mũi Lạch Trường; Khu vực III: Ven biển Trung bộ, từ mũi Lạch Trường đến mũi Vũng Tàu; Khu vực IV: Ven biển Nam Bộ, từ mũi Vũng Tàu đến mũi Nải, Hà Tiên.
Trong Công bố hiện trạng rừng tính đến năm 2015 của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn năm 2016 cho biết, diện tích RNM trong cả nước tính đến ngày 31/12/2015 là 57.210 ha, rừng tự nhiên là 19.559 ha, rừng trồng là 37. Từ năm 1997, hầu hết các tỉnh thành miền Bắc, được sự quan tâm của các tổ chức quốc tế và chính quyền địa phương, diện tích RNM đã tăng lên nhiều so với thời gian trước. Số liệu thống kê tính đến ngày 31/12/2015 cho thấy, diện tích RNM của tỉnh Quảng Ninh là cao nhất với 369.880 ha, tỷ lệ che phủ là 53,6 %. Các tỉnh còn lại như Nam Định, Thái Bình, Hải Phòng, Ninh Bình, diện tích và tỷ lệ che phủ đều tương đối thấp.
Trong đó, riêng Nam Định chỉ có 3.112 ha RNM và chủ yếu là rừng trồng, tỷ lệ che phủ đạt 1,7 % [6]. Vai trò của rừng ngập mặn Rừng ngập mặn có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ bờ biển, ngăn chặn bão, hạn chế xói lở, mở rộng diện tích đất liền và điều hòa khí hậu. RNM còn là hệ sinh thái quan trọng, vừa là tấm lá chắn bảo vệ vừa mang lại nhiều loại hàng hóa và dịch vụ cho cộng đồng người dân sống ở vùng ven biển. Nguồn lợi từ RNM đó gồm có lưu trữ và hấp thụ các bon, nơi giải trí, du lịch sinh thái.
- RNM cung cấp các sản phẩm lâm nghiệp, thực phẩm và dược liệu Theo truyền thống, cây ngập mặn được khai thác để xây dựng nhà ở, đồ nội thất, bè mảng, tàu thuyền, hàng rào, ngư cụ, và sản xuất tannin phục vụ trong lĩnh vực thuộc da. Cây ngập mặn thân gỗ với hàm lượng tannin cao được khai thác lấy gỗ, có độ bền cao. Các loài thân xốp được sử dụng để làm nút chai lọ, phao, bè mảng. Cỏ và lá cỏ được sử dụng để làm thảm, làm thuyền buồm, làm vách và mái nhà tranh.
Các loài trong chi Đước (Rhizophora) được sử dụng trong công nghiệp dệt. Rừng ngập mặn còn là nguồn cung cấp thực phẩm cho cộng đồng dân cư sống ven biển. Trái cây của các loài Bruguiera gymnorhiza, Phoenix paludosa Roxb được sử dụng như rau. Ở bờ biển phía Nam và Tây Nam Sri Lanka, các cộng đồng địa phương ở Kalametiya và Kahandamodara sử dụng nước ép trái Bần chua (S.
caseolaris) làm nước uống. Cây ngập mặn còn có giá trị dược liệu và đã được sử dụng trong dân gian chữa nhiều loại bệnh khác nhau của cư dân địa phương.