CHƯƠNG 1. YÊU CẦU CÔNG NGHỆ CỦA QUÁ TRÌNH ĐIỀU KHIỂN NHIỆT ĐỘ TRONG NHIỆT LUYỆN 1.1 Khái quát chung về điều khiển nhiệt độ. Trong nhiều qui trình công nghệ, gia nhiệt các vật liệu là một công đoạn quan trọng tất yếu. Gia nhiệt là một vấn đề kỹ thuật được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau.
Việc gia nhiệt cho các vật liệu có thể là khâu cuối cùng để cho ra sản phẩm, ví dụ nung gạch, gốm sứ, nhiệt luyện các chi tiết máy, chế tạo cáp quang, ủ thuỷ tinh quang học, chế tạo vật liệu sắt từ, ủ vật liệu từ v.v… nhưng cũng có thể là quá trình phục vụ cho việc gia công tiếp theo nghĩa là nung các bán thành phẩm như nung kim loại để phục vụ cho các máy cán nóng, các máy búa hay rèn dập. Xây dựng hệ thống tự động điều khiển trong trường hợp này, nếu tách rời hai khâu nung và gia công tiếp theo thì có thể mất đồng bộ về công suất thiết bị cũng như số lượng và chất lượng sản phẩm, sẽ tác động xấu đến hiệu quả kinh tế. Trong quá trình nung, thông số đặc trưng cho công nghệ là nhiệt độ kim loại và sự phân bố nhiệt độ trong phôi. Các thông số nhiệt vật lý của lò cũng như vật liệu khi nung thay đổi chậm.
Sự biến đổi chậm ở đây được hiểu là thông số thay đổi không có đột biến, nhảy vọt và tốc độ đủ để các thiết bị thu thập thông tin và tính toán thực hiện được các thuật toán điều khiển cần thiết trong quá trình điều khiển nung theo thời gian thực [2]. Chậm do đó có tính tương đối tuỳ thuộc sự phát triển của kỹ thuật tin học, ta gọi đó là quá trình có thông số biến đổi chậm. Một yêu cầu được đặt ra trong kỹ thuật là ta phải điều khiển nhiệt độ của lò theo yêu cầu nhiệt độ vật nung. Tức là, ta điều khiển trực tiếp được chất lượng sản phẩm.
Có hai phương án để điều khiển được nhiệt độ vật nung. - Đo trực tiếp nhiệt độ của vật nung: Phương án này nếu thực hiện được thì có độ chính xác của điều khiển cao. Tuy nhiên, thực tế khó có thể đo được vì ngoài việc xác định nhiệt độ bề mặt ta còn phải xác định sự phân bố nhiệt bên trong vật. Hơn nữa không thể đặt cho mỗi vật một cảm biến nhiệt độ.
- Đo gián tiếp nhiệt độ vật nung: Phương án này ta tính toán nhiệt độ sản phẩm theo các phương trình truyền nhiệt, và lấy đó làm căn cứ điều khiển. Từ nhiệt độ lò nhờ có mô hình tính toán ta suy ra nhiệt độ của bề mặt vật và sự phân bố nhiệt độ các lớp bên trong vật. Phương án này phải sử dụng các phương trình truyền nhiệt khá phức tạp, phụ thuộc vào kích thước, hình dạng của vật cần gia nhiệt và phải thí nghiệm để xác định các thông số thực của mô hình. Tuy nhiên với sự ứng dụng rộng rãi của máy vi tính như ngày nay thì phương án này có thể thực hiện được.
Trường Đại học Kỹ thuật Công nghiệp Thái Nguyên LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn thạc sỹ kĩ thuật 10 Hướng dẫn KH: PGS.TS Nguyễn Hữu Công Đứng về mặt điều khiển, quá trình gia nhiệt (nung) các phôi kim loại trong lò là quá trình có tham số phân bố, tức là đối tượng điều khiển không chỉ được mô tả bằng phương trình vi phân thường mà còn được mô tả bằng phương trình vi phân đạo hàm riêng. Trong các đối tượng đó các đại lượng cần điều khiển thay đổi không chỉ theo thời gian mà còn theo không gian. Đối với nung kim loại, ta có thể dễ dàng thấy sự phân bố nhiệt độ trong phôi nung sẽ thay đổi theo chiều dầy của phôi. Tuỳ theo sự phân bố của tác động điều khiển (ví dụ như nguồn nhiệt) trường nhiệt độ trong phôi nung có thể thay đổi theo chiều dài và chiều rộng của phôi.
Khi điều khiển các đối tượng này tất nhiên sẽ sinh ra các bài toán xây dựng các hệ thống điều khiển sao cho vật nung phải thoả mãn yêu cầu nào đó theo một tiêu chuẩn đặt ra.2 Yêu cầu công nghệ của quá trình điều khiển nhiệt độ trong nhiệt luyện 1.1 Các khái niệm cơ bản về nhiệt luyện Nhiệt luyện là nung nóng thép đến một nhiệt độ xác định, giữ nhiệt độ tại đó trong một thời gian thích hợp rồi sau đó làm nguội với tốc độ qui định để làm thay đổi tổ chức tế vi từ đó thay đổi cơ tính của thép theo ý muốn. Nhiệt luyện chỉ làm thay đổi tính chất của vật liệu (chủ yếu là vật liệu kim loại) bằng cách thay đổi cấu trúc bên trong mà không làm thay đổi hình dáng và kích thước của chi tiết. Nhiệt luyện đòi hỏi một quy trình chặt chẽ và có kiểm soát thời gian và tốc độ trao đổi nhiệt trên vật liệu. Nhiều quốc gia tiên tiến chưa công bố và còn bí mật một số công nghệ nhiệt luyện - yếu tố tạo ra một vật liệu có giá thành hạ nhưng tính năng sử dụng rất cao.
Trong chế tạo cơ khí, nhiệt luyện đóng vai trò quan trọng vì không những nó tạo cho chi tiết sau khi gia công cơ những tính chất cần thiết mà còn làm tăng tính công nghệ của vật liệu. Vì vậy có thể nói nhiệt luyện là khâu quan trọng không thể thiếu được đối với chế tạo cơ khí và là một trong những yếu tố công nghệ quan trọng quyết định chất lượng của sản phẩm cơ khí. Nhiệt luyện có ảnh hưởng quyết định tới tuổi thọ của các sản phẩm cơ khí. Máy móc càng chính xác, yêu cầu cơ tính càng cao thì số lượng chi tiết cần nhiệt luyện càng nhiều.
Đối với các nước công nghiệp phát triển, để đánh giá trình độ ngành chế tạo cơ khí phải căn cứ vào trình độ nhiệt luyện, bởi vì dù gia công cơ khí chính xác nhưng nếu không qua nhiệt luyện hoặc chất lượng nhiệt luyện không đảm bảo thì tuổi thọ của chi tiết cũng không cao và mức độ chính xác của máy móc không còn giữ được theo yêu cầu. Trường Đại học Kỹ thuật Công nghiệp Thái Nguyên LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn thạc sỹ kĩ thuật 11 Hướng dẫn KH: PGS.TS Nguyễn Hữu Công Nhiệt luyện nâng cao chất lượng sản phẩm không những có ý nghĩa kinh tế rất lớn (để kéo dài thời gian làm việc; nâng cao độ bền lâu của công trình, máy móc thiết bị…) mà còn là thước đo để đánh giá trình độ phát triển khoa học, kĩ thuật của mỗi quốc gia.2 Các tác dụng chủ yếu của nhiệt luyện 1.1 Tăng độ cứng, tính chịu ăn mòn, độ dẻo dai và độ bền của vật liệu Mục tiêu của sản xuất cơ khí là sản xuất ra các cơ cấu và máy bền hơn, nhẹ hơn, khoẻ hơn với các tính năng tốt hơn. Để đạt được điều đó không thể không sử dụng thành quả của vật liệu kim loại và nhiệt luyện, sử dụng triệt để các tiềm năng của vật liệu về mặt cơ tính. Bằng những phương pháp nhiệt luyện thích hợp như tôi + ram, tôi bề mặt, thấm cacbon – nitơ,…độ bền và độ cứng của vật có thể tăng lên từ ba đến sáu lần (thép chẳng hạn), nhờ đó có thể dẫn tới rất nhiều điều có lợi như sau: - Tuổi bền (thời gian làm việc) của máy tăng lên do hệ số an toàn cao không gãy vỡ (do nâng cao độ bền).
Trong nhiều trường hợp máy hỏng còn là do bị mài mòn quá mạnh, nâng cao độ cứng, tính chống mài mòn cũng có tác dụng này. - Máy hay kết cấu có thể nhẹ đi, điều này dẫn đến tiết kiệm kim loại (hạ giá thành), năng lượng (nhiên liệu) khi vận hành. - Tăng sức chịu tải của máy, động cơ, phương tiện vận tải (ôtô, toa xe, tàu biển…) và kết cấu (cầu, nhà, xưởng…), điều này dẫn tới các hiệu quả kinh tế – kĩ thuật lớn. Phần lớn các chi tiết máy quan trọng như trục, trục khuỷu, vòi phun cao áp, bánh răng truyền lực với tốc độ nhanh, chốt… đặc biệt là 100% dao cắt, dụng cụ đo và các dụng cụ biến dạng (khuôn) đều phải qua nhiệt luyện tôi + ram hoặc hoá nhiệt luyện.
Chúng thường được tiến hành gần như là sau cùng, nhằm tạo cho chi tiết, dụng cụ cơ tính thích hợp với điều kiện làm việc và được gọi là nhiệt luyện kết thúc (thường tiến hành trên sản phẩm). Như thường thấy, chất lượng của máy, thiết bị cũng như phụ tùng thay thế phụ thuộc rất nhiều vào cách sử dụng vật liệu và nhiệt luyện chúng. Những máy làm việc tốt không thể không sử dụng vật liệu tốt (một cách hợp lý, đúng chỗ) và nhiệt luyện bảo đảm.2 Cải thiện tính công nghệ (rèn, dập, gia công cắt, tính chịu mài, tính hàn…), từ tính, điện tính… Muốn tạo thành chi tiết máy, vật liệu ban đầu phải qua nhiều khâu, nguyên công gia công cơ khí: rèn, dập, cắt… Để đảm bảo sản xuất dễ dàng với năng suất lao động cao, chi phí thấp vật liệu phải có cơ tính sao cho phù hợp với điều kiện gia công Trường Đại học Kỹ thuật Công nghiệp Thái Nguyên LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn thạc sỹ kĩ thuật 12 Hướng dẫn KH: PGS.TS Nguyễn Hữu Công tiếp theo như cần mềm để dễ cắt hoặc dẻo để dễ biến dạng nguội. Muốn vậy cũng phải áp dụng các biện pháp nhiệt luyện thích hợp (ủ hoặc thường hoá như với thép).
Ví dụ, sau khi biến dạng (đặc biệt là kéo nguội) thép bị biến cứng đến mức không thể cắt gọt hay biến dạng (kéo) tiếp được, phải đưa đi ủ hoặc thường hoá để làm giảm độ cứng, tăng độ dẻo. Sau khi xử lý như vậy thép trở nên dễ gia công tiếp theo. Các phương pháp nhiệt luyện tiến hành với mục đích như vậy được gọi là nhiệt luyện sơ bộ, chúng nằm giữa các nguyên công gia công cơ khí (thường tiến hành trên phôi). Vậy trong sản xuất cơ khí cần phải biết tận dụng các phương pháp nhiệt luyện thích hợp, không những đảm bảo khả năng làm việc lâu dài cho chi tiết, dụng cụ bằng thép mà còn dễ dàng cho quá trình gia công.3 Một số phương pháp nhiệt luyện cơ bản Tùy theo vị trí của nhiệt luyện trong quá trình sản xuất cơ khí (sơ đồ), người ta chia ra làm 2 nhóm lớn là nhiệt luyện sơ bộ và nhiệt luyện kết thúc - Nhiệt luyện sơ bộ: Nằm trong quá trình đang gia công cơ khí để tạo ra hình dạng sản phẩm hoặc ổn định tổ chức trước khi nhiệt luyện kết thúc.
Gồm có 2 phương pháp: Ủ và thường hóa.