Chương 1. Tổng quan lý thuyết. Chế tạo mẫu và ảnh hưởng của nồng độ BNKZ đến cấu trúc, vi cấu trúc của hệ gốm. Nghiên cứu các tính chất điện môi, sắt điện và áp điện của hệ gốm.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong nghiên cứu, nhưng do hạn chế về thời gian và năng lực của bản thân nên trong bản luận văn này sẽ không tránh khỏi sai sót. Vì vậy, kính mong quý thầy cô giáo và bạn đọc quan tâm góp ý để đề tài được hoàn chỉnh hơn. TỔNG QUAN LÝ THUYẾT 1. Tổng quan về lý thuyết sắt điện 1.
Vật liệu sắt điện Sắt điện là hiện tượng xảy ra ở một số chất điện môi có phân cực tự phát ngay cả khi không có điện trường ngoài, và trở nên hưởng ứng mạnh dưới tác dụng của điện trường ngoài. Mômen lưỡng cực điện trong vật liệu sắt điện có tương tác với nhau, nên tạo ra sự khác biệt so với các chất điện môi khác. Độ phân cực điện tồn tại ngay cả khi không có điện trường ngoài, nhưng trên toàn vật liệu, mômen lưỡng cực điện tổng cộng có giá trị bằng 0, do các mômen lưỡng cực điện định hướng hỗn loạn. Ở nhiệt độ 0K các mômen lưỡng cực điện song song với nhau, tạo nên độ phân cực tự phát.
Tính chất sắt điện là một thuộc tính vật lý của vật liệu có sự phân cực điện tự phát. Tính chất sắt điện được nhà khoa học Valasek phát hiện lần đầu tiên năm 1920 trên muối Rochelle. Đại lượng đặc trưng cho mức độ phân cực của vật liệu sắt điện là vectơ phân cực điện , còn gọi là độ phân cực điện. Độ phân cực điện là tổng các vectơ mômen lưỡng cực của các phân tử trong một đơn vị thể tích của khối điện môi.1) Trong đó: : vectơ phân cực điện (C/m2).
: vectơ mômen lưỡng cực điện trong đơn vị thể tích. vi (i= 1,2,3,…), V: tổng thể tích vi. 4 Độ phân cực điện tỉ lệ với cường độ điện trường ngoài : (1.2) Trong đó: : độ cảm điện môi.N–1m–2): hằng số điện môi trong chân không. Dưới tác dụng của điện trường ngoài, độ phân cực của vật liệu sắt điện sẽ thay đổi cả về độ lớn và hướng.
Sự phụ thuộc của độ phân cực điện vào điện trường ngoài được thể hiện bằng đường cong điện trễ (hình 1.1 Đường cong điện trễ của vật liệu sắt điện [7] Độ phân cực điện ban đầu khi chưa có tác dụng của điện trường ngoài bằng 0. Khi tác dụng vào một điện trường ngoài với cường độ tăng dần, độ phân cực điện của khối vật liệu cũng tăng dần (đoạn AB) và đạt đến một giá trị cực đại, gọi là độ phân cực điện bão hòa Ps (đoạn BC), lúc này dù ta có tăng cường độ điện trường thì độ phân cực điện cũng không tăng thêm nữa. Nếu giảm cường độ điện trường thì độ phân cực điện của sắt điện cũng giảm 5 theo nhưng không trùng với đường cong ban đầu. Khi cường độ điện trường ngoài bằng 0 thì độ phân cực không về giá trị 0 mà tồn tại một độ phân cực nhất định gọi là độ phân cực dư Pr (điểm D).
Để triệt tiêu hoàn toàn độ phân cực dư này, cần tăng cường độ điện trường theo hướng ngược lại đến giá trị điện trường gọi là điện trường khử phân cực hay trường kháng điện Ec (điểm F). Tiếp tục tăng cường độ điện trường theo chiều này (đoạn FG), độ phân cực điện đảo chiều và cũng tăng dần cho đến giá trị Ps. Giảm dần theo hướng ngược lại, ta sẽ thu được đường cong khép kín gọi là đường cong điện trễ. Cấu trúc perovskite Trong số các vật liệu có cả tính sắt điện và áp điện, các oxit có cấu trúc perovskite chiếm một số lượng lớn và đã thu hút được nhiều sự quan tâm nghiên cứu của các nhà khoa học trên thế giới.
Perovskite là tên gọi chung của các vật liệu có cấu trúc tinh thể giống với cấu trúc của CaTiO3, với công thức cấu tạo chung là ABO3, trong đó A, B là các ion dương có bán kính khác nhau nhưng thông thường bán kính ion dương A lớn hơn so với ion dương B [7].2 Cấu trúc tinh thể của họ perovskite ABO3 [7] Cấu trúc của perovskite là biến thể của cấu trúc lập phương với các ion dương A nằm ở đỉnh hình lập phương, có tâm là ion dương B. Ion dương B đồng thời cũng là tâm bát diện tạo bởi các ion âm O2–. Ion O2– nằm ở trung 6 tâm các mặt của ô đơn vị (xem hình 1. Cấu trúc tinh thể có thể thay đổi từ lập phương sang dạng khác như hệ trực giao, trực thoi khi các ion A, B bị thay thế bởi các nguyên tố khác.
Tùy thuộc nguyên tố B là nguyên tố nào mà sẽ có những họ khác nhau, như họ manganite khi B = Mn, họ titanat khi B = Ti hay họ cobaltite khi B = Co. Còn A thường là các nguyên tố như Bi, Pb, v. Các đặc trưng của sắt điện thường và sắt điện relaxo Do thế năng của các nguyên tử của tinh thể sắt điện bị biến đổi khi có tác dụng của điện trường ngoài không lớn lắm (nhỏ hơn điện áp đánh thủng), có thể nghĩ rằng thế năng cũng có thể thay đổi khi nhiệt độ thay đổi. Thực tế một trong những dấu hiệu của tinh thể sắt điện là sự tồn tại trong chúng các chuyển pha do sự thay đổi theo nhiệt độ của thế năng các nguyên tử thành phần.
Giả sử tại một nhiệt độ xác định nào đó, sự phân bố của các nguyên tử trong ô cơ sở của tinh thể lập phương ABO3 như sau: Cả cation và anion đều ở tâm đối xứng của cấu trúc và có thể mô tả chúng bằng các hệ đều đặn, thì chúng không có bậc tự do. Tinh thể như vậy là tinh thể không lưỡng cực và không có cực tính. Bởi vì, các mômen lưỡng cực điện bằng không. Do đó, giá trị trung bình của nội điện trường tác dụng lên nguyên tử trong tinh thể như vậy sẽ bằng không.
Khi đó, các đường cong thế năng của các cation sẽ đối xứng và nguyên tử A được phân bố tại tâm của cực tiểu thế năng hoặc sẽ dao động giữa hai cực tiểu thế năng qua hàng rào thế ∆U < kBT. Trong cả hai trường hợp đều ứng với cấu trúc không có cực của tinh thể. Khi giảm nhiệt độ, năng lượng của cation dao động sẽ bị giảm và tại một nhiệt độ xác định, các ion không đủ năng lượng để vượt qua hàng rào thế năng ∆U. Các nguyên tử A khi đó như bị buộc chặt trong các vị trí bị lệch so với tâm ô cơ sở.
Do đó, sẽ xuất hiện một nội điện trường. Nội điện trường này làm thay đổi dạng đường cong thế năng. Tinh thể sẽ có phân cực tự phát, kèm theo là sự biến đổi của ô cơ sở từ cấu trúc lập phương không có cực, sang cấu 7 trúc tứ giác có cực. Khi đó sẽ kèm theo sự biến dạng của ô cơ sở được gọi là biến dạng tự phát.
Nhiệt độ mà tại đó xuất hiện sự chuyển pha gắn liền với việc hình thành phân cực tự phát hoặc triệt tiêu phân cực tự phát được gọi là nhiệt độ Curie hoặc điểm Curie. Pha không có cực trên điểm Curie được gọi là pha thuận điện, còn pha tồn tại phân cực tự phát gọi là pha sắt điện. Sự tồn tại các điểm chuyển pha gắn liền với việc xuất hiện hoặc thay đổi hướng của phân cực tự phát trong tất cả các chất sắt điện dẫn đến xuất hiện một loạt các tính chất vật lý dị thường của chúng trong khoảng nhiệt độ này. Các đặc trưng này gắn liền việc tổ chức lại cấu trúc của các chất sắt điện tại các nhiệt độ chuyển pha.
Song không được nghĩ rằng, phân cực tự phát trong tất cả sắt điện đều xuất hiện do sự dịch chuyển của một hoặc một số nguyên tử trong ô cơ sở, như đã mô tả đối với tinh thể ABO3 ở trên. Sự thay đổi dấu hoặc xuất hiện phân cực tự phát do một quá trình phức tạp của sự sắp xếp có trật tự của một số thành phần cấu trúc như ion, proton của liên kết hyđrô và thậm chí của các nhóm nguyên tử gốc hoặc các ion phức. Do sự sắp xếp của các phân tử, cấu trúc xuất hiện tại điểm Curie nên gần nhiệt độ này, cấu trúc của chất sắt điện không ổn định và rất dễ chịu tác động của bên ngoài. Điều này dẫn đến sự phụ thuộc dị thường của một số thông số vật lý của chất sắt điện như độ thẩm điện môi ε, độ dẫn điện σ, môđun áp điện, các hằng số đàn hồi, nhiệt lượng riêng và hệ số khúc xạ vào tác động của các trường ngoài.
Lân cận điểm Curie cấu trúc của chất sắt điện không ổn định, thậm chí điện trường ngoài không lớn lắm cũng đủ khả năng tạo nên phân cực cảm ứng lớn. Do đó, độ thẩm điện môi theo các trục sắt điện có đỉnh nhọn tại điểm Curie. Thường tại các điểm Curie, độ thẩm điện môi ε đạt tới 105. Thông thường trong một khoảng nhiệt độ nào đó cao hơn nhiệt độ Curie, độ thẩm điện môi theo trục sắt điện phụ thuộc nhiệt độ theo đường hyperbol bằng định luật Curie– Weiss: 8 C ' cho bởi đường tuyến tính 1/ ' theo T T Tc Trong đó: C là hằng số Curie.
Tc là nhiệt độ Curie. Tính chất sắt điện của sắt điện relaxo đã được biết đến trong nhiều công trình được công bố những năm gần đây, các sắt điện này có tính chất khác với sắt điện thường. Nét đặc thù về sự khác biệt giữa sắt điện thường và sắt điện relaxo có thể được đánh dấu bởi 3 tính chất như ở hình 1. Sắt điện thường, khoảng nhiệt độ cao hơn nhiệt độ Curie Tc, phần thực của độ cảm điện môi ' (T ) tuân theo định luật Curie–Weiss.
Trong khi đó, các sắt điện relaxo có cấu trúc perovskit phức và sự phụ thuộc vào nhiệt độ của hằng số điện môi có đỉnh mở rộng tại điểm Curie chứ không sắc nét như trong sắt điện thường (hình 1. Sự mở rộng của đỉnh điện môi có thể do sự thay đổi của kích thước hạt và bất trật tự cấu trúc trong sự sắp xếp của các cation tại vị trí A hoặc B (A và B) do thành phần vi mô không đồng nhất. Khi nhiệt độ cao hơn Tm (nhiệt độ tại đó là cực đại) đường biểu diễn (T) không tuân theo định luật Curie–Weiss mà lại có dạng: 1 1 A(T Tm ) (1.