CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ KHU VỰC NGHIÊN CỨU 1.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên 1.1 Vị trí địa lý Hình 1.1 : Khu vực đảo Cát Hải Đảo Cát Hải (huyện Cát Hải) nằm ở phía Đông Nam thành phố Hải Phòng. Cách trung tâm thành phố 20 km về hướng Đông Nam, cách trung tâm thị trấn Cát Bà khoảng 15 Km về phía Tây - Bắc. Cát Hải là một huyện đảo nhỏ, có diện tích gần 30km2, dân số của toàn đảo gần 13. Tọa độ địa lý ở vào khoảng 200 47’ đến 200 56’ vĩ độ Bắc,1060 54’ đến 1060 58’ kinh độ Đông.
- Phía Bắc đảo giáp huyện Yên Hưng (tỉnh Quảng Ninh) ngăn cách bởi kênh đào Cái Tráp. - Phía Đông là cửa Lạch Huyện. 6 - Phía Tây là cửa sông Nam Triệu. - Phía Nam là Vịnh Bắc Bộ.
Toàn đảo được chia thành 5 đơn vị hành chính cấp xã gồm 7 hợp tác xã.X Đại Nghĩa - Xã Đồng Bài có H.X Đại Đồng - Xã Văn Phong có 2 H.X là Văn Chấn và Phong Niên.X Hoàng Châu Thị trấn Cát Hải có 2 H.X là Lương Hồng và Lương Hoà.2 Đặc điểm địa hình, địa mạo của khu vực dự án Đảo Cát Hải nằm kẹp giữa hai vùng cửa sông, là cửa ngõ ra biển của Thành phố Cảng, có vị trí rất quan trọng về kinh tế, chính trị và quốc phòng an ninh. Hướng dốc chính: Từ phía Đông sang phía Tây. Hướng dốc phụ: Từ phía Nam sang phía Bắc. Địa hình chia thành 2 tiểu vùng: + Vùng trung tâm: cao độ tự nhiên từ 0.5 + Vũng bãi biển: cao độ vùng bãi triều từ (- 0.7) Sông lạch tự nhiên : Lạch Cái Viềng, lạch Huyện là những sông lạch tự nhiên lớn nhất (chiều rộng từ 50 đến 250 m).
Các sông rạch chia xã Phù Long thành 5 khu: Khu A: Vùng bãi phía Nam đường xuyên đảo, phía Đông xã Phù Long. Diện tích tự nhiên 270 ha Địa hình khá bằng phẳng và có cao độ từ 0. Trong số đó 84 ha đất tự nhiên thuộc khu nuôi tôm công nghiệp. 7 Khu B: Diện tích bãi phía Bắc đường xuyên đảo, phía Đông xã Phù Long.
Diện tích 80 ha. Địa hình khá bằng phẳng và có cao độ từ 0. Đây là khu vực nuôi thuỷ sản tập trung và đang hình thành khu nuôi tôm công nghiệp với diện tích 38 ha. Khu C: Giới hạn bởi lạch Cái Viềng và sông Phù Long, Lạch Huyện.
Đây là khu có diện tích bãi nuôi trồng thuỷ sản lớn nhất. Tổng diện tích 1053 ha. Cao độ địa hình từ (0.7) là chủ yếu. Khu D: Toàn bộ diện tích giới hạn bởi lạch Cái Viêng , Lạch Huyện và Vịnh Bắc bộ.
Đây là khu vực hiện nay nuôi trồng thuỷ sản xen lẫn rừng ngập mặn. Cao độ tự nhiên phần lớn từ (+0. Tổng diện tích tự nhiên 1088. Khu E: Toàn bộ diện tích được giới hạn bởi lạch Cái Viềng, vùng núi và Vịnh Bắc bộ ở phía Tây.
Địa hình là bãi thấp có cao độ < 0. Rừng ngập mặn, núi độc lập xen kẹp các bãi. Diện tích tự nhiên 1365 ha bao gồm rừng ngập mặn và các đầm nuôi quảng canh phân tán ,rải rác ,giáp với vùng núi đá vôi. Cao độ trung bình của toàn đảo tương đối thấp so với mực nước triều cường và mực nước dâng trong bão.
Điều này là bất lợi đối với việc phòng chống lụt bão của đảo. Khi có sự cố về đê điều, mức độ ngập lụt và thiệt hại của đảo sẽ lớn, ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống con người và kinh tế xã hội trên đảo. Vì nhìn chung nếu nước tràn vào thì toàn bộ đảo có diện tích bị ngập gần hết. Toàn đảo được bảo vệ bằng 20,52km đê biển.
Nếu gặp bão lớn và triều cường công tác phòng chống bão lụt gặp rất nhiều khó khăn khi đê điều có sự cố thì diện ngập lụt của đảo rất lớn và sẽ ảnh hưởng rất nghiêm trọng đến đời sống kinh tế, xã hội của nhân dân trên đảo. Toàn đảo được bảo vệ bằng 20,52km đê biển. Nếu gặp bão lớn và triều cường công tác phòng 8 chống bão lụt gặp rất nhiều khó khăn khi đê điều có sự cố thì diện ngập lụt của đảo rất lớn và sẽ ảnh hưởng rất nghiêm trọng đến đời sống kinh tế, xã hội của nhân dân trên đảo.2 Đặc điểm khí tượng, thuỷ văn Số liệu khí tượng, thủy văn được lấy từ trạm khí tượng thủy văn trên đảo Hòn Dấu, với độ dài của số liệu là quan trắc từ năm 1983-2004. Chất lượng của số liệu là đảm bảo, có thể sử dụng tin cậy.1 Điều kiện khí tượng Khu vực đảo nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa.
Trong năm có hai mùa rõ rệt: Mùa hè nóng ẩm, mùa đông lạnh khô. - Mùa đông: Chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông bắc nhìn chung không ảnh hưởng lớn lắm đến chế độ thuỷ thạch động lực học ở vùng bờ biển Cát Hải do có đảo Cát Bà che chắn. - Mùa hè: Có nắng nóng, nhiệt độ cao, hơi nớc biển chứa muối, gió ảnh hưởng là gió Đông Nam, Nam và gió bão tác động mạnh đến Công trình bảo vệ bờ đảo.1 Nhiệt độ Phân thành hai mùa mưa rõ rệt - Nhiệt độ trung bình nhiều năm 230 C - Mùa nóng, từ tháng V đến tháng IX 27.20C - Mùa lạnh, nhiệt độ trung bình 19.90C - Nhiệt độ tối cao tuyệt đối 41.50C - Nhiệt độ tối thấp tuyệt đối 3.1: Nhiệt độ trung bình các tháng trong năm Tháng 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 năm T(0c) 16,7 16,9 19 22.2 Độ ẩm Độ ẩm tương đối thay đổi qua các tháng trong năm. Độ ẩm tương đối phụ thuộc bốc hơi bề mặt và bình lưu ẩm.
Nhìn chung độ ẩm nhỏ nhất không thấp hơn 75% và độ ẩm tương đối cao nhât trên dưới 90%. Các tháng mùa đông (từ tháng 10 đến tháng 1) thời tiết khô hanh. Từ tháng 3, đến tháng 9 thời tiết ẩm ướt do nguồn ẩm tăng lên vì mưa phùn và mưa rào.2: Độ ẩm tương đối trung bình theo các tháng Tháng 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 TB năm Độ ẩm trung 83 88 91 90 87 87 87 89 86 80 79 80 85.5 Gió Căn cứ vào các tài liệu quan trắc đo đạc tại trạm khí tượng thuỷ văn Hòn Dấu từ năm 1984 => 1993 có chế độ : * Chế độ gió: Chế độ gió trong khu vực mang đặc tính theo mùa rõ nét, phù hợp với đặc điểm hoạt động của hoàn lưu khí quyển. Về mùa đông chịu sự chi phối của hệ thống gió mùa đông bắc với các hướng thịnh hành là Bắc; Đông Bắc và Đông.
Trong mùa hè chịu ảnh hưởng của hệ thống gió mùa Tây Nam, nh- ưng khi vào gần bờ bị biến tính có các hướng thịnh hành là Nam và Đông Nam. Trong thời gian chuyển tiếp gió có hướng tranh chấp giữa hai mùa gió thịnh hành nói trên.3: Tần suất hướng gió các tháng chính mùa đông trung bình nhiều năm Hướng/Tháng Lặng Bắc Đông Đông Đông Nam Tây Tây Tây gió Bắc Nam Nam Bắc XI 21.4: Tần suất hướng gió chuyển tiếp nhiều năm Tháng/Hướng Đông bắc Đông Đông Nam Nam II 17.3 Hoa gió tổng hợp nhiều năm tại trạm Hòn Dấu ( 1984-1993 ) n Ký hiÖu nw ne >15 (m/s) 10.0 (m/s) LÆng sw se S Tû lÖ : 1% ~ 2 mm Hình1.2: Hoa gió tại trạm hòn Dấu (1983-1994) 11 Trên Hoa gió tổng hợp nhiều năm tại trạm Hòn Dấu cho thấy trong năm gió thịnh hành là các hướng gió Bắc ( N) ; Đông Bắc(NE) ; Đông (E) ; Đông Nam(SE) và Nam (S), trong đó trước tiên phải kể đến gió hướng Đông (E) có tần suất chiếm 31.32% tiếp theo là hướng Bắc (N) có tần suất 15.36%; Đông Nam (SE) có tần suất 14.55% Nam(S) có tần suất 12.13% và Đông Bắc (NE) có tần suất 10. Tại khu vực này gió mùa Đông Bắc thường bắt đầu từ tháng IX và kéo dài đến tháng IV năm sau,trong thời kỳ này tần suất gió hướng Đông(E) là lớn hơn cả và dao động từ 33% (tháng XI) đến 53.Tốc độ gió trung bình trong các tháng này đạt từ 4.Điều đáng lưu ý là cấp tốc độ W>15 m/s chỉ quan trắc được 2 lần trong tổng số 40 lần chiếm 5%. Tốc độ gió lớn nhất đã quan trắc trong thời gian này là W=18 m/s ở hướng Bắc(N) vào tháng II/1987 ,trong khi đó tốc độ Wmax trong các tháng này của nhiều năm là 34m/s ở hướng ENE (2/10/1960); NNE (11/11/1957) và SSE (13/3/1960).
Mùa gió Tây Nam thường xuất hiện từ tháng VI đến tháng VIII.Tần suất gió hướng Nam(S) thịnh hành hơn hướng Đông Nam (SE) và dao động từ 21% (tháng VIII) và 37%(tháng VII) .Tốc độ gió trung bình nhìn chung cao hơn các tháng khác trong năm dật từ 4,7m/s (tháng VIII) và 6,0m/s (tháng VII). Như đã nói ở trên tần suất gió ở hướng Nam (S) và Đông Nam (SE) trong năm không lớn nhưng do ảnh hưởng của gió bão tốc độ gió quan trắc được thường rất lớn. Theo số liệu 1984-1993 cấp tốc độ gió W>15m/s quan trắc được chiếm 95% .Trong đó tốc độ gió lớn nhất đã quan trắc được là Wmax=40m/s ở hướng Tây Nam(SW)và Nam (S) vào tháng VI/1989. Giá trị này cũng là giá trị cực đại từng quan trắc được nhiều lần trong nhiều năm ở nhiều hướng.7 Nước dâng trong bão Bảng 1.5: Tần suất nước dâng (%) vùng bờ biển bắc vĩ tuyến 16 Vĩ tuyến Đoạn bờ Chiều cao nước dâng 0,5 1,0 1,5 2,0 2,5 > 2,5 Bắc- 210N Phía Bắc- Cửa Ông 50 38 5 6 2 0 210N-200 N Cửa Ông- Cửa Đáy 35 38 17 8 3 0 200N-190 N Cửa Đáy- Cửa Vạn 41 34 15 9 1 1 190N-180 N Cửa Vạn- Đèo 46 37 10 5 2 1 Ngang 180N-170 N Đèo ngang- Cửa 71 19 8 2 1 0 Tùng 170N-160 N Cửa Tùng- Đà Nẵng 95 4 1 0 0 0 Tháng VII/1980, cơn bão Joe đổ bộ vào Hải Phòng với gió giật trên cấp 12 đã quan trắc được độ cao nước dâng kết hợp với triều là 176cm (tại Hải Phòng).
Vùng bờ biển miền Bắc, về mặt nước dâng bão có nhiều đặc điểm quan trọng. Thứ nhất, đó là vùng có số lượng bão đổ bộ vào bờ nhiều nhất so với các vùng còn lại. Về cường độ bão, ở vùng biển này bão cũng có gió mạnh nhất- có thể lên tới 56m/s. Thứ hai, vùng này cũng là vùng có nước dâng lớn nhất (360cm).
Nếu xem rằng nước dâng có độ cao lớn (≥ 200cm) là nước dâng nguy hiểm thì suốt dải bờ này 13 đều đã xảy ra nước dâng nguy hiểm nhưng với tần suất khác nhau. Nước dâng đặc biệt nguy hiểm (≥ 250cm) cũng đã xảy ra ở hầu hết các nơi trên dải bờ này.