CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KINH DOANH DỊCH VỤ AN NINH TRẬT TỰ VÀ PHÁP LUẬT VỀ KINH DOANH DỊCH VỤ AN NINH TRẬT TỰ 1. Khái niệm về hoạt động kinh doanh dịch vụ an ninh trật tự 1. Khái niệm về ngành, nghề kinh doanh có điều kiện Trước khi tìm hiểu về hoạt động kinh doanh dịch vụ an ninh trật tự, có thể thấy “kinh doanh” là một thuật ngữ khá phổ biến được sử dụng trong đời sống kinh tế. Khái niệm “kinh doanh” đã được pháp luật Việt Nam đề cập, sử dụng từ năm 1990 trong Luật Công ty và Luật Doanh nghiệp tư nhân.
Đến năm 1999, khái niệm “kinh doanh” được quy định cụ thể tại Điều 3 Khoản 2 Luật Doanh nghiệp năm 1999, cụ thể: “Kinh doanh là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi” – căn cứ theo Điều 4 Khoản 16 Luật Doanh nghiệp năm 2014. Dưới góc độ pháp lý, hoạt động đầu tư có thể có tính chất thương mại hoặc phi thương mại – các dự án đầu tư công, sử dụng nguồn ngân sách nhà nước. Căn cứ theo quy định của Luật Đầu tư năm 2014, với phạm vi điều chỉnh là hoạt động đầu tư nhằm mục đích kinh doanh, đã đưa ra định nghĩa tại Điều 3 Khoản 5, cụ thể như sau: “Đầu tư kinh doanh là việc nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư để thực hiện hoạt động kinh doanh thông qua việc thành lập tổ chức kinh tế; đầu tư góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của tổ chức kinh tế; đầu tư theo hình thức hợp đồng hoặc thực hiện dự án đầu tư”. Như vậy, đối với việc thành lập doanh nghiệp mới, có thể hiểu một cách đơn giản, đầu tư kinh doanh là giai đoạn phát sinh trước khi thành lập doanh nghiệp, bao trùm lên hoạt động thành lập doanh nghiệp.
Thành lập doanh nghiệp chỉ là một trong những cách thức thực hiện hoạt động đầu tư, là bước cụ thể hóa ý định đầu 8 luan an tư. Tuy nhiên, thành lập doanh nghiệp chỉ là một hình thức đầu tư trong các hình thức đầu tư mà Luật Đầu tư năm 2014 quy định. Bản chất của nền kinh tế thị trường là phải tự do kinh doanh. Tuy nhiên, quyền tự do của một người thường luôn bị hạn chế bởi quyền tự do của một hay nhiều người khác, vậy nên, trong một số trường hợp cụ thể, quyền tự do bị giám sát bởi quyền lực nhà nước.
Không có hoạt động đầu tư kinh doanh nào là không có điều kiện. Tuy nhiên, mỗi loại hoạt động cần những điều kiện khác nhau và mức độ can thiệp của nhà nước thông qua pháp luật vào hoạt động đó cũng khác nhau. Theo nghĩa rộng, điều kiện kinh doanh có thể hiểu là mọi sự can thiệp của cơ quan hành chính nhà nước vào quyền tự do kinh doanh của người dân, thường được cụ thể hóa bằng hành vi của nhân viên hành chính, có quyền chấp nhận, hạn chế, khước từ việc đăng ký kinh doanh, hoặc tổ chức những hoạt động kinh doanh cụ thể. Theo nghĩa hẹp, điều kiện kinh doanh được hiểu là những tiêu chuẩn phải duy trì trong suốt quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, được áp dụng cho một ngành hàng hoặc lĩnh vực kinh doanh cụ thể, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền giám sát theo cơ chế hậu kiểm.
Việc ban hành Luật Đầu tư năm 2014, Luật Doanh nghiệp năm 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành, khái niệm điều kiện kinh doanh đã được thống nhất, đây là căn cứ để các bộ, ngành phải thực hiện soạn thảo các nghị định về điều kiện đầu tư kinh doanh đối với một số ngành, nghề chưa có văn bản quy định về điều kiện đầu tư, kinh doanh, phải sửa đổi các quy định về điều kiện về đầu tư kinh doanh được ban hành không đúng thẩm quyền của Luật Đầu tư. Theo quy định tại Điều 7 Khoản 1 Luật Đầu tư năm 2014, khái niệm về ngành, nghề kinh doanh có điều kiện, được quy định cụ thể: “Ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện là ngành, nghề mà việc thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh trong ngành, nghề đó phải đáp ứng điều kiện vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng”. 9 luan an Với khái niệm trên, có thể nói, điều kiện để đầu tư, kinh doanh ngành, nghề kinh doanh có điều kiện là những điều kiện mà doanh nghiệp phải có hoặc phải thực hiện khi kinh doanh một ngành, nghề cụ thể. Luật Doanh nghiệp và Luật đầu tư đã có những quy định tách bạch giữa việc yêu cầu thành lập doanh nghiệp và yêu cầu về điều kiện kinh doanh đối với ngành, nghề kinh doanh có điều kiện.
Như vậy điều kiện kinh doanh có thể hiểu là điều kiện mà doanh nghiệp phải có hoặc phải thực hiện khi kinh doanh ngành, nghề cụ thể, được thể hiện bằng giấy phép kinh doanh, giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh, chứng chỉ hành nghề, chứng chỉ bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp, yêu cầu về vốn pháp định hoặc một số yêu cầu khác. Đối với những ngành, nghề mà pháp luật về kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự và pháp luật có liên quan quy định phải có điều kiện thì doanh nghiệp chỉ được thành lập và hoạt động khi có đáp ứng đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật. Căn cứ quy định tại Điều 2 Khoản 7 Nghị định số 118/2015/NĐ-CP của Chính Phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư năm 2014 thì “Điều kiện đầu tư kinh doanh là điều kiện mà cá nhân, tổ chức phải đáp ứng theo quy định của luật, pháp lệnh, nghị định và điều ước quốc tế về đầu tư khi thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh trong các ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện”. Theo quy định tại Điều 9 Khoản 2 Nghị định số 118/2015/NĐ-CP thì các điều kiện đầu tư kinh doanh được áp dụng theo các hình thức sau: - Giấy phép; - Giấy chứng nhận đủ điều kiện; - Chứng chỉ hành nghề; - Chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp; - Văn bản xác nhận; 10 luan an - Các hình thức văn bản khác theo quy định của pháp luật ngoài các hình thức điều kiện trên; - Các điều kiện mà cá nhân, tổ chức kinh tế phải đáp ứng để thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh mà không cần phải có xác nhận, chấp thuận dưới các hình thức văn bản.
Như vậy, Luật Doanh nghiệp tiếp cận điều kiện đầu tư, kinh doanh, dưới góc độ là những yêu cầu bắt buộc đối với doanh nghiệp khi kinh doanh ngành, nghề trong mục ngành nghề kinh doanh có điều kiện. Khái niệm về kinh doanh dịch vụ an ninh trật tự Hiện nay, các quy định của Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp, các văn bản, Nghị định, Thông tư… chưa có khái niệm cụ thể về ngành, nghề kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự. Kinh doanh dịch vụ an ninh trật tự là thực hiện các hoạt động đầu tư kinh doanh trong ngành, nghề đó phải đáp ứng đủ các điều kiện do pháp luật quy định. Vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, an toàn xã hội, đạo đức xã hội và sức khỏe cộng đồng.
Theo đó các danh mục ngành, nghề kinh doanh có điều kiện được quy định cụ thể tại Phụ lục 4 của Luật Đầu tư 2014. Điều kiện kinh doanh đối với ngành, nghề được quy định tại các luật, pháp lệnh hay nghị định. Được quy định trong điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên. Theo đó bộ, cơ quan ngang bộ, hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp, cơ quan, tổ chức, cá nhân khác không được ban hành quy định về điều kiện đầu tư kinh doanh.
Điều kiện đầu tư kinh doanh phải phù hợp với mục tiêu của quy định và phải công khai, minh bạch, khách quan. Điều kiện kinh doanh chính là các yêu cầu từ phía cơ quan quyền lực nhà nước buộc các doanh nghiệp phải có hoặc phải thực hiện đều được thể hiện cụ thể 11 luan an trên giấy phép kinh doanh, giấy chức nhận đủ điều kiện kinh doanh, chứng chỉ hành nghề, chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp, yêu cầu về vốn pháp định hoặc yêu cầu khác. Một số định nghĩa về dịch vụ: Adam Smith định nghĩa như sau: “Dịch vụ là những nghề hoang phí nhất trong tất cả các nghề như cha đạo, luật sư, nhạc công, ca sĩ Opera, vũ công… Công việc của tất cả bọn họ tàn lụi đúng lúc nó được sản xuất ra”. Từ định nghĩa trên, có thể nhận thấy rằng Adam Smith có lẽ muốn nhấn mạnh đến khía cạnh “không tồn trữ được” của sản phẩm dịch vụ, tức là được sản xuất và tiêu thu đồng thời.1 Ngày nay, vai trò quan trọng của dịch vụ trong nền kinh tế ngày càng được nhận thức rõ ràng hơn.Mác cho rằng: “Dịch vụ là con đẻ của nền kinh tế sản xuất hàng hóa, khi mà kinh tế hàng hóa phát triển mạnh, đòi hỏi một sự lưu thông thông suốt, trôi chảy, liên tục để thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao đó của con người thì dịch vụ ngày càng phát triển”.2 Từ định nghĩa này, C.Mác chỉ ra được nguồn gốc và sự phát triển của dịch vụ, kinh tế hàng hóa càng phát triển thì dịch vụ càng phát triển.
Căn cứ theo quy định tại Điều 4 Khoản 1 Nghị định số 96/2016/NĐ-CP của Chính phủ quy định điều kiện về an ninh, trật tự đối với một số ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện, thuật ngữ “an ninh trật tự” được quy định như sau: “An ninh, trật tự là cách viết gọn của cụm từ an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội”. Qua nghiên cứu các tài liệu khác nhau, danh mục ngành, nghề kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự theo quy định của pháp luật, có thể khái quát khái niệm ngành, nghề kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự như sau: Ngành, nghề kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự là những ngành, nghề đòi hỏi chủ thể kinh doanh phải đáp ứng các điều kiện về an ninh, trật tự trong quá trình thực hiện hoạt động kinh doanh. Đây là những ngành, nghề khá phức tạp, vừa chịu sự quản lý về 1 Robert B. Hébert, 2004, Lịch sử các học thuyết kinh tế, NXB Thống kê, tr.
Ăng ghen: Toàn tập, 1993, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, t.