Nghiên cứu dịch tễ học lâm sàng bệnh rubella bẩm sinh và ảnh hưởng của rubella ở mẹ tới thai nhi

Luận án tiến sĩ nghiên cứu dịch tễ học lâm sàng bệnh rubella bẩm sinh, mối liên quan giữa rubella ở mẹ theo thời kỳ mang thai tới thai nhi.

Trường đại học

Trường Đại Học Y Hà Nội

Chuyên ngành

Nhi Khoa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ y học

2019

163
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. VIRUS RUBELLA VÀ BỆNH RUBELLA

1.2. ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ HỌC LÂM SÀNG NHIỄM, MẮC RUBELLA BẨM SINH Ở TRẺ SƠ SINH VÀ TRẺ NHỎ

1.3. LIÊN QUAN GIỮA THỜI ĐIỂM NHIỄM RUBELLA Ở MẸ THEO THỜI KỲ MANG THAI TỚI DỊ TẬT/ TÌNH TRẠNG BỆNH LÝ DO NHIỄM RUBELLA Ở THAI NHI

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

2.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.3. CÁC TIÊU CHUẨN VÀ KỸ THUẬT ÁP DỤNG

2.4. PHƯƠNG PHÁP THU THẬP SỐ LIỆU

2.5. QUẢN LÝ VÀ PHÂN TÍCH SỐ LIỆU

2.6. ĐẠO ĐỨC TRONG NGHIÊN CỨU

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ HỌC LÂM SÀNG NHIỄM, MẮC RUBELLA BẨM SINH Ở TRẺ SƠ SINH VÀ TRẺ NHỎ

3.2. MỐI LIÊN QUAN GIỮA THỜI ĐIỂM NHIỄM RUBELLA Ở MẸ THEO THỜI KỲ MANG THAI TỚI DỊ TẬT/ TÌNH TRẠNG BỆNH LÝ DO NHIỄM RUBELLA Ở THAI NHI

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ HỌC LÂM SÀNG NHIỄM, MẮC RUBELLA BẨM SINH Ở TRẺ SƠ SINH VÀ TRẺ NHỎ

4.2. MỘT SỐ HẠN CHẾ CỦA NGHIÊN CỨU

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về rubella và hội chứng rubella bẩm sinh

Rubella là bệnh truyền nhiễm do virus rubella gây ra, lây truyền qua đường hô hấp. Hội chứng rubella bẩm sinh (CRS) là hậu quả nghiêm trọng khi phụ nữ mang thai nhiễm rubella, dẫn đến sẩy thai, thai lưu hoặc trẻ sinh ra với các dị tật bẩm sinh. Các biểu hiện lâm sàng của CRS bao gồm nhẹ cân, đầu nhỏ, bệnh về mắt, tim bẩm sinh, điếc và tổn thương não. Trên thế giới, ước tính có khoảng 100.000 trẻ sơ sinh mắc CRS mỗi năm, với tỷ lệ cao ở khu vực Đông Nam Á. Tại Việt Nam, tỷ lệ mắc CRS trung bình hàng năm là 2,4/1000 trẻ sinh ra sống. Nghiên cứu tại Khánh Hòa cho thấy tỷ lệ nhiễm rubella bẩm sinh là 151/100.000 trẻ sinh ra sống.

1.1. Lịch sử và cấu trúc virus rubella

Virus rubella (RV) thuộc họ Togaviridae, có bộ gen RNA chuỗi đơn dương, dài 9.762 nucleotides. Cấu trúc virion bao gồm vỏ lipid chứa glycoproteins E1 và E2, nucleocapsid, RNA và capsid protein. RV lây truyền qua dịch tiết đường hô hấp, đặc biệt nguy hiểm khi phụ nữ mang thai nhiễm virus trong giai đoạn đầu thai kỳ. Trẻ sơ sinh mắc CRS có thể phát tán virus trong dịch bài tiết cơ thể đến 1 năm sau sinh, làm tăng nguy cơ lây nhiễm cho người chăm sóc.

1.2. Ảnh hưởng của rubella trong thai kỳ

Nhiễm rubella trong thai kỳ, đặc biệt trong 3 tháng đầu, gây ra các dị tật bẩm sinh nghiêm trọng ở thai nhi. Các nghiên cứu quốc tế và trong nước đều chỉ ra mối liên hệ giữa thời điểm nhiễm rubella ở mẹ và mức độ dị tật ở trẻ. Tại Việt Nam, tỷ lệ trẻ mắc CRS có bệnh tim bẩm sinh chiếm 63,7%, đục thủy tinh thể 46,9%, và khuyết tật trí tuệ từ 6-40%. Những hậu quả này đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc nghiên cứu và phòng ngừa CRS.

II. Đặc điểm dịch tễ học lâm sàng của rubella bẩm sinh

Nghiên cứu về đặc điểm dịch tễ học lâm sàng của rubella bẩm sinh tại Việt Nam cho thấy tỷ lệ mắc CRS cao ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ. Các biểu hiện lâm sàng phổ biến bao gồm dị tật tim bẩm sinh, đục thủy tinh thể, điếc và chậm phát triển trí tuệ. Nghiên cứu tại Hà Nội giai đoạn 2011-2012 cho thấy 63,7% trẻ mắc CRS có bệnh tim bẩm sinh, 46,9% bị đục thủy tinh thể. Tỷ lệ khuyết tật trí tuệ dao động từ 6-40%, trong khi tỷ lệ tự kỷ và rối loạn phát triển cũng được ghi nhận.

2.1. Biểu hiện lâm sàng sau sinh

Trẻ mắc CRS thường có các biểu hiện lâm sàng như nhẹ cân, đầu nhỏ, vàng da, gan to, lách to và ban xuất huyết da. Các dị tật bẩm sinh về mắt, tim và thính giác là phổ biến. Nghiên cứu tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương cho thấy 72% trẻ mắc CRS có bệnh tim bẩm sinh, 44% bị đục thủy tinh thể và 4% viêm sắc tố võng mạc.

2.2. Mối liên quan giữa thời điểm nhiễm rubella và dị tật

Thời điểm nhiễm rubella trong thai kỳ có ảnh hưởng lớn đến mức độ dị tật ở trẻ. Nhiễm rubella trong 3 tháng đầu thai kỳ làm tăng nguy cơ dị tật tim, đục thủy tinh thể và điếc bẩm sinh. Nghiên cứu của Peckham và cộng sự (1972) chỉ ra rằng nhiễm rubella trong giai đoạn này có tỷ lệ dị tật lên đến 85%. Tại Việt Nam, các nghiên cứu cũng khẳng định mối liên hệ này, đặc biệt là tỷ lệ cao các dị tật phức tạp ở trẻ mắc CRS.

III. Giá trị và ứng dụng thực tiễn của nghiên cứu

Nghiên cứu về dịch tễ học lâm sàng rubella bẩm sinh và ảnh hưởng của rubella trong thai kỳ có ý nghĩa quan trọng trong việc xây dựng chiến lược phòng ngừa và điều trị. Kết quả nghiên cứu giúp xác định các yếu tố nguy cơ, thời điểm nhiễm rubella và mức độ dị tật ở trẻ, từ đó đề xuất các biện pháp can thiệp kịp thời. Việc đưa vắc-xin rubella vào chương trình tiêm chủng mở rộng từ năm 2015 đã giúp giảm tỷ lệ mắc CRS, nhưng vẫn cần nâng cao độ bao phủ và hiệu quả của chương trình.

3.1. Ứng dụng trong phòng ngừa và điều trị

Nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học để cải thiện chương trình tiêm chủng, đặc biệt là tăng cường tiêm vắc-xin rubella cho phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ. Đồng thời, kết quả nghiên cứu giúp xây dựng các hướng dẫn chẩn đoán và điều trị sớm cho trẻ mắc CRS, nhằm giảm thiểu hậu quả lâu dài về sức khỏe và phát triển.

3.2. Hạn chế và hướng nghiên cứu tương lai

Mặc dù nghiên cứu đã cung cấp nhiều thông tin giá trị, nhưng vẫn còn một số hạn chế như cỡ mẫu nhỏ và thiếu dữ liệu dài hạn về sự phát triển của trẻ mắc CRS. Cần có thêm các nghiên cứu quy mô lớn và dài hạn để đánh giá toàn diện hậu quả của CRS và hiệu quả của các biện pháp can thiệp.

13/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. VIRUS RUBELLA VÀ BỆNH RUBELLA 1. Lịch sử bệnh rubella Rubella (Rötheln trong tiếng Đức) hay còn gọi là sởi Đức do virus Rubella gây ra. Năm 1740, Friedrich Hoffmann đã mô tả trường hợp lâm sàng rubella đầu tiên.

Sau đó được hai bác sỹ người Đức xác nhận là Bergen năm 1752 và Orlow năm 1758. Mặc dù có sự chính xác về bản chất của bệnh, nhưng cả hai tác giả này đều cho rằng rubella có nguồn gốc từ bệnh sởi. Chỉ đến năm 1814 George de Maton mới lần đầu tiên cho rằng rubella là một bệnh riêng [21]. Vào năm 1841, bác sỹ người Anh Henry Veale ghi nhận một dịch rubella ở một trường nam sinh tại Ấn Độ.

Trước khi dịch xảy ra, dù khi đó bệnh còn được biết đến là Rötheln, nhưng Heny Veale đã công bố sự phát hiện của mình dưới thuật ngữ rubella (gốc tiếng Latin là nốt đỏ nhỏ). Tuy nhiên, chỉ đến năm 1881, rubella mới chính thức được công nhận là một bệnh riêng [22]. Năm 1914, Hess lần đầu tiên cho rằng virus là nguyên nhân gây ra bệnh rubella. Vào năm 1938, Hiro và Tosaka khẳng định lại ý kiến của Hess bằng kết quả nghiên cứu của mình, khi cấy truyền RV cho trẻ em từ người bệnh.

Mặc dù vậy, đến năm 1962, Weller và Neva mới phân lập được virus gây bệnh rubella (RV) [21]. Cho đến 1941, rubella vẫn được xem như một bệnh nhẹ, có ít biến chứng và xuất hiện hầu hết là ở trẻ em. Tuy nhiên, trong cùng năm, một bác sỹ nhãn khoa người Úc là Gregg ghi nhận và thông báo là trẻ sơ sinh đục thuỷ tinh thể kèm bệnh tim bẩm sinh thường là con các bà mẹ có tiền sử nhiễm RV khi 4 mang thai giai đoạn đầu. Quan sát của Gregg sau đó đã được khẳng định từ các báo cáo độc lập của Pitt và Keir năm 1965 tại Úc [23], của Lundstorm năm 1962 tại Thuỵ Điển [24] và của Greenberg năm 1957 tại Mỹ [25].

Những nghiên cứu của các tác giả này đã nêu vai trò của RV trong bệnh đục thuỷ tinh thể bẩm sinh, bệnh tim bẩm sinh và điếc bẩm sinh ở trẻ sơ sinh. Hội chứng rubella bẩm sinh (CRS) được chấp nhận trong giới y học kể từ thời điểm này. Cấu trúc và bộ gen virus rubella Rubella virus là thành viên của nhóm Rubivirus, thuộc họ Togaviridae [13]. RV là dạng có vỏ bọc, bộ gen RNA chuỗi đơn dương, có độ dài 9,762 nucleotides (nt), chứa một mũ chụp 5’-methylated nucleotide, một đuôi 3’- polyadenylated và hai khung đọc mở (ORFs).

Sự hiện diện của mũ chụp 5’- methylated nucleotide và đuôi 3’-polyadenylated giống với chuỗi thông tin RNA của tế bào (mRNA) và cho phép emzyme tế bào vật chủ nhận dạng trực tiếp bộ gen RV. ORFs nằm gần đoạn 5’-methylated nucleotide này giải mã cho các proteins không có vai trò cấu trúc (gồm NSPs; P150 và P90) nhưng có chức năng trong việc nhân lên của RNA. Trong khi đó, ORFs gần đoạn 3’- polyadenylated giải mã cho các proteins có vai trò cấu trúc (gồm SPs, capsid protein, CP và 2 protein vỏ là E1 và E2) chúng có thể kết hợp cùng nhau tạo thành virion (Hình 1. Bộ gen RV còn chứa 3 vùng không đọc được (UTR’s), bao gồm đoạn dài 40nt, 5’ ở cuối bộ gen (5’UTR), ~118 nt giữa SP và NSP ORFs, và đoạn dài 59 nt 3’ ở cuối gen (UTR).

Bộ gen RV có hàm lượng GC cao nhất (~70%) trong tất cả RNA virus được biết đế [26], [27]. Bộ gen và sự mã hoá ở virus rubella (Nguồn Jia-Yee Leel và cộng sự [28]) Các virion của RV có đường kính 70 nm, bao gồm một vỏ lipid chứa 2 glycoproteins E1 và E2, một nucleocapsid, RNA và capsid protein. Lõi của nucleocapsid có đường kính từ 30-35nm với một T=4 khối 20 mặt đối xứng [27], [29], và disulphide-linked homodimer capsid protein [30]. Capsid protein này được gắn với màng virus bởi C-termini và giữ peptide tín hiệu giả định của glycoprotein E2.

N-termini ở vỏ virus, chứa phần lớn vùng liên kết 6 RNA (6596–6680 nucleotides). Khu vực này còn có vai trò điều hòa tổng hợp tiểu hệ gen RNA [27], [29]. Các lipid vùng vỏ virus có nguồn gốc từ tế bào vật chủ. Glycosyl hoá các glycoprotein E1 và E2 là các protein xuyên màng loại 1.

Chúng cùng tồn tại như cấu trúc dị dinmer (cấu trúc gồm 2 chuỗi khác nhau) hình thành các gai glycosyl hoá ở bề mặt virion [31]. Cấu trúc trong suốt của glycoprotein E1 của RV có sự khác biệt có ý nghĩa so với cấu trúc tương tự ở Alphavirus và Flavivirus và gợi ý rằng những sự khác biệt này có thể do kết quả của sự chèn cấu trúc này vào khu vực gen của RV [32]. Cấu trúc virion của virus rubella (Nguồn: Cloete (2014) [21]) 1. Lây truyền virus rubella và biểu hiện bệnh Virus rubella được lây truyền qua dịch tiết đường hô hấp người nhiễm RV.

Nhìn chung trẻ em mắc bệnh thường là do lây nhiễm từ cha mẹ, người xung quanh hoặc bạn cùng lớp. Lây nhiễm giữa người lớn với nhau hay gặp ở những tân binh và thủy thủ đoàn. Theo Ingalls và cộng sự (1967) thì thời gian giao tiếp đủ dài giữa các vật chủ là yếu tố cần thiết cho RV lây truyền giữa các cá nhân [33]. 7 Trẻ sơ sinh bị rubella bẩm sinh phát tán ra lượng lớn RV từ các dịch bài tiết cơ thể, có thể kéo dài tới 1 năm sau sinh, nên có thể lây truyền RV cho người lớn chăm sóc trẻ sơ sinh [34], hoặc những trẻ xung quanh.

Tại các nước phát triển, người ta đã nhận thấy từ một ca mắc rubella có thể lây truyền cho 3-8 trường hợp phụ nữ mang thai [35]. RV bám dính và nhân lên chủ yếu ở vòm họng, đường hô hấp trên và các hạch lympho vùng. Sau khoảng 5-7 ngày phơi nhiễm có thể xuất hiện triệu chứng điển hình. Cũng trong khoảng thời gian đó có thể có xuất hiện tình trạng nhiễm RV qua bào thai [35].

Trong tuần nhiễm rubella đầu tiên, có thể có những triệu chứng điển hình hoặc không có triệu chứng đặc biệt nào [36]. Nhiều bệnh khác có thể có các biểu hiện giống với nhiễm RV, làm việc chẩn đoán rubella khó chính xác. Trong một nghiên cứu tại Anh ở những trẻ dưới 5 tuổi có biểu hiện phát ban, chỉ có 3% số trường hợp là dương tính với rubella [37]. Ở những khu vực nhiệt đới khác nhau, Alphavirus và Flavivirus được ghi nhận là những nguyên nhân phổ biến gây các triệu chứng giống rubella [38].

Vì khó khăn trong việc phân biệt triệu chứng RV với các bệnh khác, chỉ phương pháp xét nghiệm mới đáng tin cậy. Phát hiện nhiễm RV cấp tính thông qua một trong 2 phương pháp đáng tin cậy sau: (a) Nuôi cấy virus, phát hiện RV bởi phản ứng chuỗi polymerase (polymerase chain reaction – PCR); (b) Xác định sự hiện diện của kháng thể IgM đặc hiệu kháng rubella, hoặc sự tăng lên có ý nghĩa của kháng thể IgG huyết thanh giữa giai đoạn cấp tính và giai đoạn lui bệnh [34]. 8 Nhiễm RV giai đoạn tiềm ẩn có thời gian tối đa để virus nhân lên là từ 24-48 giờ sau phơi nhiễm [36]; thời gian ủ bệnh trung bình là 14 ngày (dao động từ 12-21 ngày). Trong tuần thứ 2 sau phơi nhiễm, có thể có tiền triệu như sốt nhẹ (<39 oC), khó chịu, sổ mũi nhẹ, và viêm kết mạc nhẹ.

Các triệu chứng này chủ yếu gặp ở người trưởng thành. Sưng các hạch bạch huyết phía sau tai và sau cổ là đặc trưng và xuất hiện trước phát ban 5-10 ngày. Trẻ em thường ít có hoặc không có triệu chứng toàn thân. Đôi khi rubella có thể có biểu hiện lâm sàng rất giống sởi về các biểu hiện như sốt nặng và triệu trứng toàn thân, nhưng thường không có đốm Koplik [13].

Nhiễm virus huyết kết thúc khi có đáp ứng miễn dịch của cơ thể. Mặc dù vậy, RV có thể vẫn tồn tại ở vòm họng và nước tiểu cho tới 1-2 tuần [39]. Ở thời điểm cuối giai đoạn ủ bệnh, ban đỏ sần xuất hiện ở mặt và cổ. Ban rubella xuất hiện ở 50-80% số người nhiễm rubella và đôi khi bị xác định nhầm thành sởi hoặc bệnh tinh hồng nhiệt (sốt scarlet).

Ban sẩn đỏ của rubella bắt đầu ở mặt và cổ và tiến triển dần xuống thân. Các ban này có thể ngứa và thường kéo dài từ một đến ba ngày. Ban trong rubella thường nhạt hơn ban sởi và không hợp lại với nhau, nên có thể khó phát hiện, đặc biệt là ở vùng da tập trung sắc tố [13]. Bệnh rubella thường nhẹ, các hậu quả biến chứng nặng nề thường chỉ có ở các trường hợp nhiễm rubella bẩm sinh.

Triệu chứng tạm thời về khớp (viêm khớp, đau khớp) có thể có gặp tới 70% số người trưởng thành là phụ nữ mắc rubella, thường bắt đầu trong khoảng 1 tuần sau phát ban và thời gian điển hình kéo dài từ 3-10 ngày, nhưng đôi khi có thể kéo dài tới 1 tháng. Các biểu hiện khác bao gồm xuất huyết giảm tiểu cầu (1 trong 3000 ca mắc rubella) và viêm não (1 trong 6000 ca mắc). Qua các vụ dịch gần đây ở Tonga 9 (2002) và Samoa (2003), người ta thấy viêm não dường như ngày càng nhiều hơn, với ước tính khoảng từ 1/300 ca đến 1/1500 ca mắc [13] Ngày nay, một số virus (Enterovirus, Adenovirus, Parvovirus B19 và Arbovirus) cũng được biết là nguyên nhân gây phát ban và có hậu quả giống rubella. Nhiễm virus rubella (RV) thường nhầm lẫn với một số bệnh như sởi và sốt dengue nếu không dùng xét nghiệm chẩn đoán phân tử [40].

Vì chưa có khả năng phân biệt một cách hoàn toàn chính xác giữa rubella với các bệnh khác, nên việc xác định tỷ lệ mắc rubella và rubella bẩm sinh trước 1914 là không thể thực hiện được. Tuy vậy, nhiều vụ dịch rubella lớn đã được ghi nhận từ thập niên 1960, ở nhiều quốc gia trên thế giới [3], [41], [42], [43]. Kể từ khi có vắc xin RV, nhiễm virus rubella và mắc rubella hầu như được loại trừ ở những quốc gia phát triển [44], [45], [46]. Tuy nhiên, RV vẫn tiếp tục là nguyên nhân gây ra nhiều vụ dịch lớn ở nhiều nơi trên thế giới [47], [48], [49].

Đáp ứng miễn dịch và xét nghiệm nhiễm rubella 1. Đáp ứng miễn dịch Kháng thể ngưng kết hồng cầu (HI) và kháng thể trung hoà (NT) phát triển nhanh và có thể được tìm thấy khi ban vẫn còn tồn tại; kháng thể đặc hiệu IgG được tìm thấy bằng EIA (enzyme immunoassay) và SRH (single radial haemolysis) có thể thấy vài ngày sau đó.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Rubella bẩm sinh là một vấn đề sức khỏe cộng đồng nghiêm trọng, xảy ra khi mẹ mắc rubella trong thai kỳ, đặc biệt trong tam cá nguyệt thứ nhất, dẫn đến các dị tật bẩm sinh như điếc, đục thủy tinh thể và tim bẩm sinh. Nghiên cứu dịch tễ học lâm sàng về bệnh rubella bẩm sinh giúp xác định tỷ lệ mắc, các yếu tố nguy cơ và mức độ ảnh hưởng của virus rubella lên sự phát triển của thai nhi, từ đó xây dựng chiến lược phòng ngừa hiệu quả. Việc theo dõi sức khỏe thai phụ đòi hỏi sự toàn diện, không chỉ riêng rubella mà còn bao gồm sử dụng kháng sinh khi mang thai để tránh biến chứng nhiễm trùng. Ngoài ra, chỉ số đông máu ở thai phụ cũng là yếu tố cần được quan tâm nhằm đánh giá toàn diện tình trạng sức khỏe của mẹ và thai nhi trong suốt thai kỳ.