Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Bệnh giun thực quản ở loài chó do loài giun tròn Spirocerca lupi (S. lupi) gây ra là một trong những bệnh lý ký sinh trùng đường tiêu hóa nguy hiểm ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới. Khi xâm nhập vào cơ thể vật chủ, ấu trùng và giun trưởng thành ký sinh tại thành thực quản, dạ dày hoặc động mạch chủ, tạo thành các khối u dạng hạt xơ hóa. Các tổn thương này không chỉ gây rối loạn phản xạ nuốt, nôn mửa, suy nhược cơ thể mà còn có thể dẫn đến hiện tượng giả dại do độc tố ngấm vào hệ thần kinh, tràn dịch màng phổi, thậm chí gây tử vong đột ngột do vỡ túi phình động mạch chủ. Tại Việt Nam, điều kiện khí hậu nóng ẩm cùng tập quán chăn nuôi chó phần lớn theo hình thức thả rông hoặc bán thả rông tạo điều kiện thuận lợi cho các loài ký chủ trung gian (bọ cánh cứng ăn phân) và ký chủ tích trữ phát triển, khiến nguy cơ lây nhiễm mầm bệnh luôn ở mức cao.

Tại địa bàn huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên, phong trào nuôi chó để giữ nhà, làm cảnh và phát triển kinh tế gia đình đang mở rộng với sự đa dạng về cơ cấu giống. Tuy nhiên, trước thời điểm đề tài này được thực hiện, chưa có công trình khoa học nào công bố một cách có hệ thống về đặc điểm dịch tễ của giun thực quản S. lupi trên đàn chó địa phương, cũng như khảo sát thực trạng phòng trị bệnh của các hộ gia đình. Nhằm cung cấp cơ sở khoa học phục vụ chẩn đoán, kiểm soát và điều trị hiệu quả bệnh lý này, tác giả Bùi Thị Khánh Chi đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Thú y với đề tài: "Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh giun thực quản ở chó tại huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên và sử dụng thuốc điều trị".

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của văn bản được xác định rõ:

  1. Đánh giá thực trạng công tác phòng, chống bệnh ký sinh trùng đường tiêu hóa trên đàn chó nuôi tại các nông hộ thuộc huyện Đồng Hỷ.
  2. Xác định tỷ lệ và cường độ nhiễm giun thực quản S. lupi ở chó qua phương pháp mổ khám toàn diện đường tiêu hóa và xét nghiệm phân.
  3. Khảo sát sự biến động của tỷ lệ, cường độ nhiễm S. lupi theo các yếu tố dịch tễ học: địa bàn phân bố, lứa tuổi, tính biệt, giống chó, phương thức chăn nuôi và tháng nghiên cứu.
  4. Thử nghiệm thực địa hiệu lực điều trị của thuốc doramectin (và so sánh với ivermectin); từ đó đề xuất quy trình phòng trị bệnh phù hợp với điều kiện chăn nuôi tại địa phương.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Đàn chó nuôi tại các hộ dân thuộc 4 xã, thị trấn của huyện Đồng Hỷ; loài giun tròn Spirocerca lupi và bệnh giun thực quản do loài này gây ra.
  • Phạm vi không gian: Đề tài được triển khai thực địa tại 4 đơn vị hành chính của huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên, bao gồm thị trấn Sông Cầu, xã Hóa Trung, xã Hóa Thượng và xã Minh Lập. Công tác phân tích, định loại hình thái và xét nghiệm mẫu phân được tiến hành tại Phòng thí nghiệm Bộ môn Thú y, Khoa Chăn nuôi Thú y, Trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên.
  • Phạm vi thời gian: Quá trình điều tra thực địa, thu thập mẫu và thử nghiệm thuốc diễn ra liên tục từ tháng 12 năm 2021 đến tháng 5 năm 2022.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Về mặt lý thuyết ký sinh trùng học, khóa luận căn cứ vào hệ thống phân loại động vật học của De Ley và Blaxter (2002), xác định Spirocerca lupi (Rudolphi, 1809) thuộc ngành Nematoda Potts, 1932; lớp Chromadorea Inglis, 1983; phân lớp Chromadoria Pearse, 1942; bộ Rhabditida Chitwood, 1933; phân bộ Spirurina Railliet and Henry, 1915; liên họ Spiruroidea Railliet et Henry, 1915; họ Spirocercidae Chitwood and Wehr, 1932; giống Spirocerca Railliet et Henry, 1911. Về sinh học, S. lupi là loài giun có vòng đời phát triển gián tiếp qua ba nhóm vật chủ: vật chủ cuối cùng là động vật ăn thịt họ Chó (chó, cáo); vật chủ trung gian là các loài côn trùng cánh cứng thuộc họ Hung (Geotrupes spp.); và vật chủ chứa/tích trữ gồm nhiều loài động vật có xương sống nhỏ (gà, chim, ếch, thằn lằn, động vật gặm nhấm). Thời gian hoàn thành vòng đời từ khi trứng ra môi trường đến khi phát triển thành giun trưởng thành đẻ trứng trong cơ thể chó kéo dài khoảng 5 đến 6 tháng.

Phương pháp nghiên cứu được xây dựng kết hợp giữa điều tra dịch tễ học mô tả, thực nghiệm xét nghiệm ký sinh trùng và thử nghiệm lâm sàng:

  • Phương pháp điều tra xã hội học thú y: Khảo sát trực tiếp bằng phiếu phỏng vấn cấu trúc đối với 170 chủ hộ nuôi chó tại 4 xã, thị trấn nhằm ghi nhận các chỉ tiêu: tần suất tẩy giun, hành vi thu gom và xử lý phân, công tác vệ sinh chuồng cũi, chất lượng thức ăn nước uống.
  • Phương pháp lấy mẫu: Bố trí theo phương pháp lấy mẫu chùm nhiều bậc (multistage cluster sampling). Tại huyện Đồng Hỷ chọn 4 xã/thị trấn đại diện; tại mỗi xã/thị trấn chọn 5 thôn/xóm; tại mỗi thôn/xóm tiến hành lấy mẫu phân ngẫu nhiên của các cá thể chó vào buổi sáng sớm, bảo quản lạnh ở 4 - 8°C và xét nghiệm trong vòng 7 ngày. Tổng số mẫu phân tươi thu thập là 512 mẫu.
  • Phương pháp mổ khám ký sinh trùng: Áp dụng phương pháp mổ khám toàn diện cơ quan tiêu hóa của Skrjabin trên 76 cá thể chó để kiểm tra các khối u ở thực quản, dạ dày và động mạch chủ, thu thập toàn bộ giun trưởng thành, cố định trong cồn 70° để phân loại hình thái và đếm số lượng giun ký sinh trên mỗi con.
  • Phương pháp xét nghiệm phân học: Sử dụng phương pháp phù nổi Fulleborn bằng dung dịch muối ăn (NaCl) bão hòa để phát hiện trứng giun S. lupi dưới kính hiển vi quang học (độ phóng đại 10x10). Định lượng cường độ nhiễm thông qua đếm số trứng trong 1 gam phân (EPG) bằng buồng đếm McMaster theo công thức: $\text{Số trứng/g phân} = \frac{\text{Tổng số trứng ở 2 buồng đếm} \times 60}{4}$. Phân cấp cường độ nhiễm gồm 3 mức: Nhẹ (+): < 500 EPG; Trung bình (++): 500 - 1000 EPG; Nặng (+++): > 1000 EPG.
  • Phương pháp thử nghiệm thuốc điều trị: Thực nghiệm lâm sàng trên thực địa theo phương pháp phân lô so sánh trên 69 chó nhiễm giun thực quản được phát hiện qua xét nghiệm phân. Lô 1 gồm 34 con (tại thị trấn Sông Cầu và xã Hóa Thượng) được điều trị bằng thuốc doramectin (tiêm dưới da liều 0,5 mg/kg thể trọng). Lô 2 gồm 35 con (tại xã Minh Lập và xã Hóa Trung) điều trị bằng thuốc ivermectin. Đánh giá hiệu lực sạch trứng qua xét nghiệm phân lại vào ngày thứ 15 sau khi dùng thuốc, đồng thời theo dõi các phản ứng lâm sàng để đánh giá độ an toàn của dược chất.
  • Phương pháp xử lý số liệu: Dữ liệu thu thập được quản lý và phân tích thống kê sinh vật học bằng phần mềm Microsoft Excel 2010 theo tài liệu hướng dẫn của Nguyễn Văn Thiện (2008). Kiểm định sai khác thống kê bằng test Chi-bình phương ($\chi^2$), xác định mức ý nghĩa ở ngưỡng $P < 0,05$.

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Tác giả trình bày tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ sự gia tăng số lượng đàn chó nuôi tại tỉnh Thái Nguyên nói chung và huyện Đồng Hỷ nói riêng, đi kèm các nguy cơ bùng phát bệnh lý ký sinh trùng nguy hiểm. Phân tích rõ tác hại cơ giới và độc tố của giun tròn Spirocerca lupi đối với thực quản, tuần hoàn và tính mạng của chó. Nhấn mạnh khoảng trống nghiên cứu dịch tễ tại địa bàn miền núi Đồng Hỷ, xác định mục tiêu đánh giá hiện trạng nhiễm bệnh và thử nghiệm thuốc điều trị, khẳng định ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong công tác phòng chống dịch bệnh thú y tại cơ sở.

Phần 2: Tổng quan tài liệu

Chương này tổng thuật toàn diện các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về bệnh giun thực quản. Về mặt sinh học, chương mô tả chi tiết đặc điểm hình thái của giun đực (dài 30 - 54 mm, hai gai giao hợp không đều), giun cái (dài 54 - 80 mm, trứng kích thước 0,035 - 0,039 x 0,014 - 0,023 mm) và diễn giải vòng đời gián tiếp kéo dài 5 - 6 tháng qua bọ cánh cứng Geotrupes spp. Về dịch tễ học và bệnh lý học, tác giả trích dẫn các tài liệu kinh điển của Phạm Sỹ Lăng, Ngô Huyền Thúy, Võ Thị Hải Lê, Bùi Khánh Linh tại Việt Nam; các nghiên cứu quốc tế của Dixon & McCue (Mỹ), Oryan và cộng sự (Iran), Brodey (Kenya), Segev (Israel). Qua đó làm rõ sinh bệnh học từ giai đoạn ấu trùng di hành gây viêm loét động mạch đến khi tạo khối u xơ hóa ở thực quản, chẩn đoán phân biệt bằng phương pháp phù nổi Fulleborn, X-quang, nội soi, mổ khám, cũng như cơ chế dược lý tác động lên hệ dẫn truyền thần kinh GABA của các hoạt chất thuộc nhóm avermectin (doramectin và ivermectin).

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Trình bày cụ thể quy chuẩn đối tượng, vật liệu (kính hiển vi, buồng đếm McMaster, hóa chất NaCl bão hòa, cồn 70°, thuốc doramectin, ivermectin), địa điểm (4 xã/thị trấn của huyện Đồng Hỷ và phòng thí nghiệm tại trường đại học) và khung thời gian thực hiện (12/2021 - 05/2022). Quy định chi tiết các bước thu thập mẫu phân tươi, kỹ thuật mổ khám toàn diện cơ quan tiêu hóa của Skrjabin, công thức tính toán chỉ số McMaster, tiêu chí phân loại cường độ nhiễm (+, ++, +++) và thiết kế thử nghiệm thuốc phân lô so sánh trên đàn chó tự nhiên.

Phần 4: Kết quả và thảo luận

Chương này tập trung toàn bộ dữ liệu thực nghiệm qua 3 chuyên đề lớn:

  1. Thực trạng vệ sinh thú y: Điều tra 170 hộ cho thấy nhận thức và thực hành phòng bệnh ký sinh trùng của người dân còn rất thấp (trên 50% số hộ không thực hiện bất kỳ biện pháp nào).
  2. Đặc điểm dịch tễ bệnh giun thực quản: Phân tích tỷ lệ và cường độ nhiễm qua mổ khám 76 cá thể chó (tỷ lệ nhiễm chung 19,74%, cường độ 2 - 10 giun/chó); phân tích 512 mẫu phân chó (tỷ lệ nhiễm chung 13,48%, cường độ nhẹ chiếm 71,01%, trung bình 23,19%, nặng 5,80%). Khảo sát sâu sự biến thiên tỷ lệ nhiễm theo địa phương (xã Minh Lập cao nhất 15,22%), theo lứa tuổi (chó > 24 tháng tuổi cao nhất 28,97%, chó ≤ 2 tháng tuổi không nhiễm 0%), theo tháng khảo sát (tháng 3 cao nhất 17,89%, tháng 12 thấp nhất 9,33%), theo tính biệt (đực 13,08%, cái 13,82%, không có sai khác ý nghĩa), theo giống (chó nội 17,16%, chó lai 16,04%, chó ngoại 3,31%) và theo phương thức chăn nuôi (thả rông 19,17%, bán thả rông 13,74%, nhốt hoàn toàn 5,11%).
  3. Thử nghiệm thuốc điều trị và giải pháp phòng bệnh: Kết quả tiêm dưới da thuốc doramectin liều 0,5 mg/kg thể trọng trên 34 cá thể chó tại thị trấn Sông Cầu và xã Hóa Thượng, đạt tỷ lệ sạch trứng 94,12% sau 15 ngày, thuốc an toàn, không gây phản ứng bất lợi. Trên cơ sở đó, khóa luận đề xuất quy trình tổng hợp kiểm soát mầm bệnh tại địa phương.

Kết quả và đóng góp

Nghiên cứu đã thu thập và xử lý các chuỗi số liệu thực nghiệm gốc trên địa bàn huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên. Dưới đây là bảng tổng hợp các chỉ số dịch tễ học và kết quả thử nghiệm lâm sàng:

Chỉ tiêu phân loại Phân nhóm khảo sát Số mẫu kiểm tra Số mẫu dương tính Tỷ lệ nhiễm (%) Cường độ nhiễm chính
Phương pháp mổ khám Tính chung 4 xã/thị trấn 76 con 15 con 19,74% 2 - 10 con giun/chó
Theo địa phương (mổ khám) TT. Sông Cầu 17 con 3 con 17,65% 2 - 4 con giun/chó
Xã Hóa Trung 20 con 4 con 20,00% 4 - 8 con giun/chó
Xã Hóa Thượng 18 con 3 con 16,67% 3 - 7 con giun/chó
Xã Minh Lập 21 con 5 con 23,81% 5 - 10 con giun/chó
Phương pháp xét nghiệm phân Tính chung toàn huyện 512 mẫu 69 mẫu 13,48% Nhẹ: 71,01%; TB: 23,19%; Nặng: 5,80%
Theo địa bàn phân bố TT. Sông Cầu 114 mẫu 16 mẫu 11,40% Nhẹ: 75,00%; TB: 25,00%; Nặng: 0,00%
Xã Hóa Trung 129 mẫu 18 mẫu 13,95% Nhẹ: 72,22%; TB: 22,22%; Nặng: 5,56%
Xã Minh Lập 138 mẫu 21 mẫu 15,22% Nhẹ: 66,67%; TB: 23,81%; Nặng: 9,52%
Xã Hóa Thượng 131 mẫu 14 mẫu 10,69% Nhẹ: 71,43%; TB: 21,43%; Nặng: 7,14%
Theo lứa tuổi Chó ≤ 2 tháng tuổi 108 mẫu 0 mẫu 0,00% Không nhiễm
Chó > 2 - 12 tháng tuổi 135 mẫu 4 mẫu 2,96% Nhẹ: 75,00%; TB: 25,00%; Nặng: 0,00%
Chó > 12 - 24 tháng tuổi 124 mẫu 23 mẫu 18,55% Nhẹ: 82,61%; TB: 13,04%; Nặng: 4,35%
Chó > 24 tháng tuổi 145 mẫu 42 mẫu 28,97% Nhẹ: 64,29%; TB: 28,57%; Nặng: 7,14%
Theo tính biệt Chó đực 237 mẫu 31 mẫu 13,08% Nhẹ: 67,74%; TB: 25,81%; Nặng: 6,45%
Chó cái 275 mẫu 38 mẫu 13,82% Nhẹ: 73,68%; TB: 21,05%; Nặng: 5,26%
Theo nhóm giống Chó nội (chó cỏ) 204 mẫu 35 mẫu 17,16% Nhẹ: 71,43%; TB: 22,86%; Nặng: 5,71%
Chó lai 187 mẫu 30 mẫu 16,04% Nhẹ: 70,00%; TB: 23,33%; Nặng: 6,67%
Chó ngoại 121 mẫu 4 mẫu 3,31% Nhẹ: 75,00%; TB: 25,00%; Nặng: 0,00%
Theo phương thức nuôi Thả rông 193 mẫu 37 mẫu 19,17% Nhẹ: 67,57%; TB: 24,32%; Nặng: 8,11%
Vừa thả vừa nhốt 182 mẫu 25 mẫu 13,74% Nhẹ: 76,00%; TB: 20,00%; Nặng: 4,00%
Nuôi nhốt hoàn toàn 137 mẫu 7 mẫu 5,11% Nhẹ: 71,43%; TB: 28,57%; Nặng: 0,00%
Theo tháng theo dõi Tháng 12/2021 75 mẫu 7 mẫu 9,33% Nhẹ: 85,71%; TB: 14,29%; Nặng: 0,00%
Tháng 1/2022 77 mẫu 8 mẫu 10,39% Nhẹ: 75,00%; TB: 25,00%; Nặng: 0,00%
Tháng 2/2022 88 mẫu 12 mẫu 13,64% Nhẹ: 75,00%; TB: 16,67%; Nặng: 8,33%
Tháng 3/2022 95 mẫu 17 mẫu 17,89% Nhẹ: 64,71%; TB: 29,41%; Nặng: 5,88%
Tháng 4/2022 84 mẫu 14 mẫu 16,67% Nhẹ: 64,29%; TB: 28,57%; Nặng: 7,14%
Tháng 5/2022 93 mẫu 11 mẫu 11,83% Nhẹ: 72,73%; TB: 18,18%; Nặng: 9,09%

Về thực trạng quản lý dịch bệnh tại 170 hộ dân: 51,18% số hộ không tẩy giun định kỳ; 52,35% không thu gom phân; 60,59% không xử lý phân; 62,35% không vệ sinh chuồng cũi; 67,06% thức ăn, nước uống không đảm bảo vệ sinh thú y; và có tới 50,59% số hộ không áp dụng bất kỳ biện pháp phòng bệnh nào.

Về hiệu quả thử nghiệm điều trị bằng thuốc doramectin (Bảng 4.9 của văn bản):

  • Tiêm dưới da liều 0,5 mg/kg thể trọng trên 34 cá thể chó nhiễm bệnh tại hai địa bàn.
  • Tại thị trấn Sông Cầu: 15/16 chó sạch trứng trong phân sau 15 ngày, đạt tỷ lệ 93,75%.
  • Tại xã Hóa Thượng: 17/18 chó sạch trứng trong phân sau 15 ngày, đạt tỷ lệ 94,44%.
  • Tính chung: 32/34 chó sạch hoàn toàn trứng giun trong phân, đạt hiệu lực tẩy trừ 94,12%. Chó sau khi tiêm không xuất hiện triệu chứng ngộ độc hay rối loạn vận động.

Đóng góp so với các nghiên cứu trước: Tác giả đã tự đối chiếu kết quả của mình với các công trình trước đó tại Việt Nam. Tỷ lệ nhiễm qua xét nghiệm phân tại Đồng Hỷ (13,48%) cao hơn so với kết quả của Nguyễn Thị Quyên (2017) tại Phú Thọ (6,08%), nằm trong biên độ nhưng thấp hơn mức nhiễm tại Nghệ An do Võ Thị Hải Lê (2012) công bố (16,03%) và thấp hơn số liệu mổ khám tại Hà Nội của Ngô Huyền Thúy (1996) ghi nhận 36,82%. Nghiên cứu đã chứng minh sự phụ thuộc rõ nét của tỷ lệ nhiễm vào độ tuổi ($P < 0,05$), giải thích được nguyên nhân chó dưới 2 tháng tuổi không phát hiện trứng do vòng đời sinh học của giun kéo dài từ 5 - 6 tháng. Đề tài cung cấp bộ dữ liệu dịch tễ học thực địa đầu tiên về S. lupi tại huyện Đồng Hỷ, xác định doramectin là giải pháp hóa dược có hiệu lực cao, an toàn để điều trị bệnh giun thực quản trong điều kiện thú y cơ sở.

Hệ thống giải pháp tác giả đề xuất cho người chăn nuôi gồm:

  • Vệ sinh định kỳ khu vực nuôi, thu dọn phân chó không quá 8 giờ sau khi bài xuất ra môi trường để ngăn ngừa bọ cánh cứng ăn phân phát tán mầm bệnh.
  • Chuyển đổi phương thức chăn nuôi từ thả rông sang nuôi nhốt hoặc quản lý có kiểm soát; không cho chó ăn thức ăn sống, ôi thiu hoặc động vật hoang dã nhỏ có thể là ký chủ chứa.
  • Quy trình tẩy giun định kỳ: Đối với chó con tẩy lần 1 lúc 14 - 24 ngày tuổi, lần 2 lúc 30 ngày tuổi, lần 3 lúc 60 ngày tuổi; đối với chó trưởng thành tẩy định kỳ 3 - 4 tháng một lần.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận còn một số hạn chế gắn liền với điều kiện và phạm vi nghiên cứu thực địa:

  • Thời gian khảo sát chỉ thực hiện trong 6 tháng (từ tháng 12 đến tháng 5 năm sau), chưa theo dõi liên tục đủ chu kỳ 12 tháng của một năm để đánh giá biến thiên dịch tễ đầy đủ giữa các mùa nóng ẩm cao điểm và mùa khô lạnh.
  • Phương pháp chẩn đoán trên chó sống chủ yếu dựa vào kỹ thuật xét nghiệm phân phù nổi Fulleborn. Kỹ thuật này phụ thuộc vào việc khối u đã hình thành lỗ rò thông vào lòng thực quản để giải phóng trứng ra ngoài; do đó không phát hiện được các cá thể chó đang ở giai đoạn ấu trùng di hành hoặc mang khối u kín chưa tạo lỗ rò.
  • Nghiên cứu chưa có điều kiện ứng dụng các công nghệ chẩn đoán hình ảnh chuyên sâu (chụp X-quang lồng ngực, nội soi thực quản) hoặc kỹ thuật sinh học phân tử (PCR) do hạn chế về trang thiết bị tại địa bàn nông thôn.

Hướng nghiên cứu tiếp được đề xuất:

  • Mở rộng phạm vi điều tra dịch tễ ra toàn bộ các huyện khác trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên và kéo dài thời gian theo dõi qua nhiều năm liên tục.
  • Tiến hành thu thập, định loại các loài côn trùng cánh cứng (họ bọ hung) và các loài động vật gặm nhấm, bò sát tại địa phương để xác định chính xác danh tính các ký chủ trung gian và ký chủ chứa tự nhiên của Spirocerca lupi.
  • Nghiên cứu sâu hơn về biến đổi bệnh lý vi thể, nguy cơ chuyển hóa khối u thành ung thư biểu mô thực quản do S. lupi, cũng như theo dõi sự tái nhiễm sau khi tẩy giun bằng phác đồ doramectin trong thời gian 6 - 12 tháng.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tư liệu chuyên khảo hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Thú y, Chăn nuôi - Thú y, Ký sinh trùng học động vật tham khảo về quy trình bố trí điều tra dịch tễ học thực địa, kỹ thuật mổ khám đường tiêu hóa của Skrjabin và kỹ thuật xét nghiệm phân Fulleborn kết hợp định lượng McMaster.
  • Bác sĩ thú y lâm sàng tại các trạm thú y huyện, phòng khám thú cưng trong việc nhận định nguy cơ, chẩn đoán phân biệt các ca nôn mửa, ho, khó nuốt ở chó trưởng thành, cũng như ứng dụng phác đồ tiêm doramectin liều 0,5 mg/kg thể trọng.
  • Cán bộ quản lý dịch tễ thú y cơ sở sử dụng các chỉ số về tỷ lệ hộ chăn nuôi không vệ sinh, không thu gom phân (trên 50%) để xây dựng kế hoạch tuyên truyền, phổ biến quy trình kiểm soát ký sinh trùng truyền lây giữa động vật và môi trường sống.

Nội dung có giá trị tham khảo nổi bật nhất nằm ở hệ thống bảng số liệu dịch tễ đối chứng đa biến (tuổi, giống, phương thức nuôi, tháng) và bảng đánh giá hiệu lực thực nghiệm của doramectin tại Phần 4.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận sử dụng các phương pháp nào để chẩn đoán và xác định giun thực quản Spirocerca lupi ở chó?
Tác giả sử dụng hai nhóm phương pháp: đối với chó đã chết, tiến hành mổ khám toàn diện cơ quan tiêu hóa của Skrjabin để phát hiện, mổ khối u ở thực quản và đếm số lượng giun trưởng thành; đối với chó còn sống, lấy mẫu phân tươi xét nghiệm định tính bằng phương pháp phù nổi Fulleborn (nước muối NaCl bão hòa) để tìm trứng và định lượng mật độ trứng bằng buồng đếm McMaster.

2. Tỷ lệ nhiễm giun thực quản ở đàn chó huyện Đồng Hỷ được xác định là bao nhiêu?
Qua mổ khám 76 cá thể chó, tỷ lệ nhiễm là 19,74% (15/76 con), cường độ nhiễm dao động từ 2 đến 10 giun/chó. Qua xét nghiệm 512 mẫu phân, tỷ lệ nhiễm là 13,48% (69/512 mẫu); trong đó cường độ nhiễm nhẹ chiếm ưu thế với 71,01%, mức trung bình chiếm 23,19% và mức nặng chiếm 5,80%.

3. Tại sao chó dưới 2 tháng tuổi lại có tỷ lệ nhiễm giun thực quản bằng 0%?
Số liệu khảo sát 108 chó dưới 2 tháng tuổi đều cho kết quả âm tính. Tác giả giải thích do ở lứa tuổi này chó chủ yếu bú sữa mẹ, ít tiếp xúc với môi trường đất nên hạn chế nguy cơ ăn phải bọ cánh cứng mang ấu trùng. Mặt khác, vòng đời sinh học của S. lupi cần từ 5 đến 6 tháng từ lúc nuốt phải ấu trùng giai đoạn 3 đến khi giun trưởng thành tạo khối u rò đẻ trứng ra phân; do đó không thể tìm thấy trứng ở phân chó dưới 2 tháng tuổi.

4. Yếu tố phương thức nuôi và giống chó ảnh hưởng như thế nào đến tỷ lệ mắc bệnh?
Phương thức chăn nuôi thả rông có tỷ lệ nhiễm cao nhất (19,17%), bán thả rông là 13,74% và nuôi nhốt hoàn toàn thấp nhất (5,11%). Về giống chó, chó nội nuôi thả rông nhiễm cao nhất (17,16%), kế đến là chó lai (16,04%), trong khi chó ngoại được nuôi nhốt và chăm sóc tốt có tỷ lệ nhiễm rất thấp (3,31%).

5. Kết quả thử nghiệm hiệu lực của thuốc doramectin đối với giun thực quản đạt mức độ nào?
Thử nghiệm tiêm dưới da doramectin liều 0,5 mg/kg thể trọng trên 34 cá thể chó nhiễm bệnh cho thấy sau 15 ngày có 32 cá thể sạch hoàn toàn trứng giun trong phân, đạt tỷ lệ khỏi bệnh 94,12% (thị trấn Sông Cầu đạt 93,75%, xã Hóa Thượng đạt 94,44%). Thuốc an toàn, không ghi nhận tác dụng phụ trên đàn chó thí nghiệm.

Kết luận

Khóa luận của tác giả Bùi Thị Khánh Chi đã xác lập bức tranh dịch tễ học thực địa về bệnh giun thực quản do Spirocerca lupi gây ra trên đàn chó tại 4 xã, thị trấn của huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên với tỷ lệ nhiễm qua mổ khám là 19,74% và qua xét nghiệm phân là 13,48%. Kết quả nghiên cứu làm sáng tỏ mối liên hệ mật thiết giữa tỷ lệ nhiễm với lứa tuổi, phương thức chăn nuôi thả rông và giống chó, đồng thời chỉ ra thực trạng hơn 50% số hộ dân chưa áp dụng bất kỳ biện pháp vệ sinh thú y nào. Thử nghiệm lâm sàng khẳng định hoạt chất doramectin đạt hiệu lực tẩy sạch trứng 94,12%, cung cấp cơ sở khoa học tin cậy để triển khai các phác đồ điều trị và biện pháp quản lý dịch bệnh ký sinh trùng thú y tại địa phương.